ASEAN – Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (II)

CTV Phía Trươc chuyển ngữ
Eleanor Albert
, CFR

Giới thiệu

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là một tổ chức nhằm liên kết các nước trong khu vực thông qua việc thúc đẩy kinh tế, chính trị và hợp tác an ninh, bao gồm mười nước thành viên: Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Miến Điện, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam.

asean-affiliated-groups-final

Xem thêm:

Theo số liệu năm 2014, các quốc gia ASEAN có dân số trên 622 triệu người (PDF) và tổng giá trị GDP là 2,6 nghìn tỷ USD. Hiệp hội giúp thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế và đã ký kết sáu hiệp định tự do thương mại với các nền kinh tế khác trong khu vực. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng hoạt động của ASEAN bị giới hạn do thiếu tầm nhìn chiến lược, đặc quyền của mỗi nước chưa được thống nhất, và khả năng lãnh đạo yếu kém. Thách thức lớn nhất của khối này là làm sao để đạt được sự thống nhất chung trong việc đàm phán với Trung Quốc, đặc biệt là để đáp trả với những yêu sách chủ quyền trên diện rộng của Trung Quốc tại Biển Đông. Hoa Kỳ xem ASEAN là chìa khóa quan trọng cho sự thành công của mình trong chiến lược đối trọng với Trung Quốc tại châu Á.

ASEAN va an ninh khu vực

Thách thức an ninh tại ASEAN bao gồm các tranh chấp biên giới, buôn bán người, thảm họa đến từ thiên nhiên và con người, an ninh lương thực và băng nhóm khủng bố cùng quân nổi dậy xuyên biên giới. Phần lớn các vấn đề an ninh khu vực được giải quyết thông qua ASEAN hoặc các diễn đàn do ASEAN chủ trì như:

  • Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF): Ra mắt vào năm 1993, là một nhóm đa phương gồm hai mươi bảy thành viên, được thành lập nhằm hợp tác về các vấn đề liên quan đến chính trị và an ninh ngõ hầu củng cố lòng tin giữa các nước và gìn giữ các chính sách ngoại giao. Diễn đàn là tiếng nói chung, của toàn bộ các nước ASEAN, các bên tham gia đối thoại, Bắc Triều Tiên, và Pakistan. Nhưng nó thường bị sa lầy trong các tranh chấp địa chính trị khiến cho tính hiệu quả của nó bị hạn chế.
  • ASEAN Cộng Ba: Nhóm cố vấn này được hình thành vào năm 1997, quy tụ mười thành viên của ASEAN và ba quốc gia khác là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Nhóm này được mô tả như là “nhóm châu Á chặt chẽ và bền vững nhất”, theo Evan A. Feigenbaum và Robert A. Manning trong một báo cáo CFR.
  • Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS): Được tổ chức lần đầu vào năm 2005, hội nghị thượng đỉnh thúc đẩy an ninh và sự thịnh vượng trong khu vực và có sự tham dự của nhiều nguyên thủ quốc gia từ các nước ASEAN, Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zealand, Nga, Hàn Quốc, và Hoa Kỳ. ASEAN đóng vai trò trung tâm trong các chương trình nghị sự. Washington coi hội nghị này là “diễn đàn cần phải hướng tới” vì nó sẽ giải quyết các vấn đề an ninh chính trị trong khu vực châu Á–Thái Bình Dương, theo lời phát biểu năm 2015 của Michael Fuchs, cựu Phó Trợ lý văn phòng Ngoại trưởng Hoa Kỳ về Đông Á và Thái Bình Dương.

Dù các diễn đàn ngoại giao diễn ra ngày một nhiều, nhưng những bất đồng về vấn đề an ninh vẫn luôn đeo bám tinh thần đoàn kết của khối ASEAN. Thách thức rõ ràng nhất đó là việc tìm kiếm một tiếng nói chung đáp trả sự nổi dậy của Trung Quốc. “Sự tái xuất của cường quốc Trung Quốc trong khu vực Đông Nam Á không chỉ làm thay đổi các mối quan hệ giữa khu vực Đông Nam Á với Trung Quốc, nhưng có lẽ nó cũng sẽ ảnh hưởng đến cả quan hệ nội bộ giữa các nước ASEAN (PDF),” theo Beeson, thuộc Đại học Tây Úc.

Tranh chấp hàng hải ở Biển Đông là mối căng thẳng lớn nhất giữa các thành viên ASEAN. Brunei, Malaysia, Philippines, và Việt Nam cùng có yêu sách chủ quyền chồng lấn nhau trên các thực thể tại vùng biển tranh chấp với Trung Quốc. Đối với họ, các bước tiến của Trung Quốc nhằm chiếm lấy đất đai và xây dựng các đảo nhân tạo đang đe dọa và xâm phạm đến chủ quyền quốc gia. Đối với các thành viên khác, như Campuchia, sự căng thẳng ở Biển Đông là cái gì đó xa xôi và không liên quan đến họ. Vì sự thiếu đồng thuận, nên các nỗ lực xây dựng Tuyên bố Ứng xử của Các bên ở Biển Đông giữa ASEAN và Bắc Kinh thành một điều khoản ràng buộc về hành vi trở nên vô ích. Đổi lại, một số quốc gia lên tiếng kêu gọi sự hỗ trợ nhiều hơn từ phía Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đã phản ứng bằng cách đẩy mạnh hợp tác quân sự với các thành viên ASEAN như PhilippinesViệt Nam, đồng thời gia tăng sự có mặt của mình trên biển để thực thi tự do hàng hải trong vùng biển quốc tế. Cùng với đó, các quốc gia Đông Nam Á cũng đã đầu tư vào việc hiện đại hóa quân đội của họ.

Các thành viên ASEAN đã bị chia rẻ bởi sự thân thiết của họ đối với Trung Quốc hay Hoa Kỳ. Nhìn chung, cả khu vực đang cần sự đầu tư, thương mại và đặc biệt là phát triển cơ sở hạ tầng mà Trung Quốc lại có khả năng đáp ứng được các nhu cầu này. Nhưng các thành viên ASEAN đang lo lắng trong việc trở nên bị lệ thuộc vào Trung Quốc; do vậy, các quốc gia này “tìm đến Hoa Kỳ để nhờ sự trợ giúp,” Hiebert đến từ CSIS cho biết.

Đây mạnh mối quan hệ gữa Hoa Kỳ và ASEAN

Hoa Kỳ là đối tác thương mại lớn thứ ba của ASEAN, sau Trung Quốc (346 tỷ USD) và Nhật Bản (239 tỷ USD), với giá trị thương mại giữa hai bên đạt hơn 212 tỷ USD (PDF) vào năm 2015. Nó chiếm khoảng 9 phần trăm tổng giá trị thương mại của ASEAN. Hoa Kỳ cũng đã đưa ra các sáng kiến tiểu khu vực và song phương nhằm thúc đẩy quan hệ với Đông Nam Á, bao gồm Sáng kiến Hạ lưu Sông Mekong để tăng cường hợp tác giữa Hoa Kỳ và các thành viên ASEAN như Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam về các vấn đề liên quan đến môi trường, y tế, giáo dục và phát triển cơ sở hạ tầng. Bốn thành viên ASEAN (Brunei, Malaysia, Singapore và Việt Nam) cũng đã tham gia vào Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương TPP do Hoa Kỳ dẫn đầu, một thỏa thuận thương mại tự do giữa mười hai quốc gia.

Dưới thời của Tổng thống Barack Obama, Hoa Kỳ tăng cường việc tham gia vào các hoạt động của ASEAN, một phần là nhằm tái cân bằng quyền quản trị của mình, qua việc gửi các quan chức cấp cao tới hội nghị thượng đỉnh khu vực, chỉ định một đại sứ thường trú tại ASEAN, tham gia Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, và thiết lập một hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ–ASEAN hằng năm. Tháng Mười một năm 2015, Hoa Kỳ và các lãnh đạo ASEAN đã nâng cao mối quan hệ của họ thành đối tác chiến lược, theo sau là hội nghị thượng đỉnh độc lập đầu tiên giữa những người đứng đầu chính phủ của mỗi quốc gia đến từ Hoa Kỳ và các nước thành viên ASEAN vào tháng Hai năm 2016 tại Sunnylands, California.

Tại một hội nghị thượng đỉnh tháng Tám năm 2016, có mặt thủ tướng Singapore, ông Obama phát biểu rằng “mọi nỗ lực của chúng tôi tại khu vực châu Á–Thái Bình Dương không phải là để kích động xung đột, nhưng là để vun đắp một khuôn khổ và kiến tạo các quy tắc và tiêu chuẩn giúp gìn giữ hòa bình và điều này là để đảm bảo an ninh cho khu vực và cho cả chúng tôi trong nhiều năm tới.” Chuyên viên cấp cao CFR của khu vực Đông Nam Á, Joshua Kurlantzick, nói vào phút chót rằng, Washington đồng thuận với tầm quan trọng về tính biểu tượng của khối ASEAN. Tuy nhiên, một số chuyên gia cho rằng sự thất bại của Hoa Kỳ trong việc phê chuẩn Hiệp định TPP và sự thiếu cam kết của Hoa Kỳ với Đông Nam Á thông qua ASEAN liên can đến sự bất ổn trong khu vực. “Hoa Kỳ phải đối mặt với một phép thử quan trọng về độ tin cậy của họ trong khu vực Đông Nam Á,” theo Patrick Cronin, thuộc Trung tâm New American Security và Derwin Pereira, một cơ quan tư vấn chính trị ở Singapore.

Sự bất hòa và tính liên đới

ASEAN tập hợp các quốc gia láng giềng có những hệ thống kinh tế, chính trị và xã hội đa dạng. Singapore tự hào có GDP bình quân đầu người cao nhất với hơn 52.000 đô theo số liệu năm 2015 của Ngân hàng Thế giới, trong khi GDP bình quân đầu người của Campuchia thì chỉ ít ỏi với 1.159 đô. Hệ thống chính trị của các nước thành viên là một hỗn hợp đồng đều của nhà nước dân chủ, chế độ cộng sản, và các quốc gia độc quyền. Nhân khẩu học cũng có sự khác biệt trong khu vực; một số quốc gia có lượng dân cư thưa thớt, số khác thì tập trung đông dân theo phạm vi của các nhóm tôn giáo chiếm ưu thế. Về mặt địa lý, ASEAN là một nhóm các quốc gia đảo và quần đảo, cũng như lục địa với vùng đồng bằng thấp và địa hình đồi núi. Sự đa dạng này cho thấy một thỏa thuận đầy đủ về bất kỳ vấn đề nào dường như khó có thể xảy ra.

asean-gdp

Trong khi Biển Đông là vấn đề chính cho thấy những rạn nứt của cả khối, thì sự rạn nứt này cũng đang xảy ra bởi nhiều nhân tố khác, chẳng hạn như nhân quyền. Ví dụ, ASEAN bị chia rẽ trong việc giải quyết các vấn đề của những nước thành viên như Campuchia, và làn sóng di cư, như trường hợp của cuộc khủng hoảng tị nạn người Rohingya.

Một số chuyên gia cho rằng ASEAN cần định hình lại khuôn khổ hoạt động của mình và đề xuất các quyết định thực tiễn. Năm 2012, Kurlantzick đề ra những thay đổi nền tảng nhằm dẫn dắt tổ chức này trong nỗ lực tiến đến quá trình hội nhập ở châu Á. Chúng bao gồm sự tăng cường tiếng nói của ban thư ký và trao quyền cho một tổng thư ký cao cấp để đại diện quyết định những vấn đề quan trọng; nhằm đạt được sự đồng thuận trong việc ra nghị quyết, và thể hiện rằng ASEAN có thể xây dựng một khu vực thương mại tự do của riêng mình. Một số nhìn nhận khác, chẳng hạn như của Hiebert thuộc CSIS, cho rằng khối này cần phải thực hiện hình thức ‘sẵn lòng liên minh’, theo đó một số thành viên của nhóm sẽ đưa ra quyết định hành động trên một số vấn đề nhất định, chẳng hạn như sáng kiến tuần tra hàng hải chung hiện nay, và những nước khác sẽ lần lượt tham gia ngay khi họ đã sẵn sàng.

Scridb filter

Author: tapchiphiatruoc

Share This Post On
468 ad

Leave a Reply

%d bloggers like this: