Toàn cầu hoá và các giới bất mãn mới
Oct05

Toàn cầu hoá và các giới bất mãn mới

TS Đỗ Kim Thêm dịch, CTV Phía Trước Joseph E. Stiglitz, Project-Syndicate Mười lăm năm trước, tôi đã viết một cuốn sách nhỏ tựa “Toàn cầu hóa và Các giới bất mãn“, để mô tả sự phản đối ngày càng tăng ở các nước đang phát triển đối với các cải cách đang lan rộng khắp thế giới. Dường như có một điều bí ẩn: người dân ở các nước đang phát triển được biết rằng toàn cầu hóa sẽ làm tăng phúc lợi khắp nơi. Nếu thế, tại sao đã có rất nhiều người trở nên căm thù với trào lưu này? Hiện nay, giới đối kháng toàn cầu hóa ở các thị trường mới nổi và các nước đang phát triển đã có thêm được sự tham gia của hàng chục triệu người ở các nước tiên tiến. Các cuộc thăm dò dư luận, bao gồm cả một nghiên cứu nghiêm túc của Stanley Greenberg và các cộng sự viên tại Học viện Roosevelt, cho thấy rằng thương mại là một trong những nguồn chính của sự bất mãn đối với một phần lớn của người Mỹ. Các quan điểm tương tự cũng thể hiện ở châu Âu. Các nhà lãnh đạo chính trị của chúng ta – và một vài nhà kinh tế – nói sẽ làm cho tất cả mọi người được khá hơn mà sao lại bị chỉ trích thậm tệ như vậy? Đôi khi có một câu trả lời mà người ta nghe được từ các nhà kinh tế theo trường phái tân tự do. Họ ủng hộ cho những chính sách này vì mọi người khá hơn. Họ không hiểu vấn đề. Bất mãn là vấn đề cho các bác sĩ tâm thần, không phải cho các nhà kinh tế. Nhưng dữ liệu về thu nhập cho thấy những người theo trường phái tân tự do có thể được hưởng lợi từ việc điều trị này. Phận lớn dân chúng ở các nước tiên tiến đã không hưởng lợi: ở Mỹ, 90% đã phải chịu đựng tình trạng trì trệ về thu nhập trong một phần ba thế kỷ. Thu nhập bình quân của một nam công nhân toàn thời gian thực sự là thấp hơn trong tình trạng thực tế (sau khi điều chỉnh giá bị lạm phát) so với 42 năm trước đây. Trong tận cùng của bảng lương, tiền lương thực tế được so sánh bằng với lương cách đây 60 năm. Các hiệu ứng của sự khó khăn kinh tế và chuyển dịch mà nhiều người Mỹ đang trải nghiệm thậm chí còn thể hiện rõ trong các...

Read More
Việt Nam trước ba lựa chọn mang tính chiến lược
Oct03

Việt Nam trước ba lựa chọn mang tính chiến lược

Phương Võ chuyển ngữ, CTV Phía Trước Anders Corr, Forbes Những hành động của Trung Quốc trên Biển Đông ngày càng mang tính quân sự rõ rệt hơn. Trong khi đó, Việt Nam có vẻ ở thế yếu so với những quốc gia láng giềng vì nước này thiếu những quan hệ đồng minh. Trước tình hình an ninh Việt Nam đang có những diễn biến xấu đi, nước này có ba lựa chọn: 1) tiếp tục chiến lược hiện tại cân bằng giữa Trung Quốc, Hoa Kỳ, và Nga; 2) đồng minh với Hoa Kỳ chống Trung Quốc; 3) phát triển năng lực quân sự, bao gồm cả khả năng chống hạt nhân. Khi Trung Quốc có những hành động xâm phạm lãnh thổ Việt Nam, phản ứng chiến lược của Việt Nam và kết quả đều có ảnh hưởng trên trường quốc tế. Trường hợp Trung Quốc lấn át Việt Nam sẽ gây e ngại cho các quốc gia khác và khuyến khích Trung Quốc gia tăng những hoạt động quân sự. Vì vậy, quyết định chiến lược của Việt Nam trong những năm tới đây sẽ trở thành chủ đề chính trị quốc tế cho những bên quan tâm. Những đe dọa của Trung Quốc với Việt Nam căn bản ở chỗ giành quyền trong vùng kinh tế đặc quyền trên biển (EEZ) vốn được Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) dành cho Việt Nam. Việt Nam sẽ phải vừa phải thích ứng vừa phải kết hợp hai hình thức phản kháng để đối diện với thách thức này.Tuy nhiên, do tính loại trừ của những lựa chọn, chiến lược của Việt Nam có lẽ chỉ tập trung vào một trong ba lựa chọn trên. Cả ba lựa chọn đều có cái giá phải trả, nguy cơ và có thể tạo ra những thay đổi về chính trị và kinh tế cho Việt Nam. Quyết định của Việt Nam sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình trong nước và quốc tế, bao gồm dự đoán Trung Quốc có tăng cường sự hiện diện chức năng ở vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam, sự ổn định của nhóm lãnh đạo đương nhiệm và chiến lược của Trung Quốc đối với các quốc gia khác. Chiến lược hiện tại của Việt Nam – cân bằng giữa Hoa kỳ, Trung Quốc, và Nga – là lựa chọn phức tạp nhất, nhưng ít có khả năng dẫn tới những căng thẳng ngoại giao, kinh tế, và thậm chí chính trị. Đây có thể là con đường mà Việt Nam sẽ đi. Hướng đi này...

Read More
Tại sao Việt Nam trì hoãn phê chuẩn Hiệp định TPP?
Sep30

Tại sao Việt Nam trì hoãn phê chuẩn Hiệp định TPP?

Lê Hồng Hiệp, trích từ NCQT Nguồn: Today Online Nhiều nhà quan sát cảm thấy bất ngờ khi việc phê chuẩn Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) không được đưa vào chương trình của kỳ họp thứ hai (khóa 14) của Quốc hội Việt Nam, dự kiến sẽ khai mạc vào ngày 20 tháng 10 tới. Như vậy, hiệp định thương mại này sẽ không được Việt Nam phê chuẩn ít nhất cho đến khoảng tháng 4 năm sau, khi Quốc hội nhóm họp trở lại. Thông tin này gây thất vọng cho những người ủng hộ TPP, đặc biệt là khi Việt Nam được cho sẽ là quốc gia hưởng lợi lớn nhất trong số 12 thành viên của Hiệp định. TPP sẽ không chỉ giúp thúc đẩy GDP, hoạt động xuất khẩu và việc thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam, mà nó còn giúp đẩy nhanh các cải cách quan trọng vốn thiết yếu cho sự phát triển kinh tế về lâu dài của đất nước. Đây thực ra là lần thứ hai Việt Nam trì hoãn việc phê chuẩn Hiệp định. Đầu năm nay, các nhà chức trách Việt Nam thông báo rằng Hiệp định sẽ được trình lên phiên họp đầu tiên của Quốc hội vào tháng 7 để phê chuẩn, nhưng cuối cùng việc này đã không xảy ra. Liệu có “uẩn khúc” gì đằng sau quyết định của Việt Nam không? Hoa Kỳ và các thành viên khác của TPP có nên cảm thấy lo lắng? Chuẩn bị cho TPP Đầu tiên, cần lưu ý rằng hồi tháng Giêng năm nay, Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã bỏ phiếu nhất trí tán thành hiệp định. Điều này làm cho việc Quốc hội phê chuẩn hiệp định chủ yếu mang tính thủ tục mà thôi. Khi giải thích quyết định chưa phê chuẩn hiệp định gần đây, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho rằng Việt Nam cần phải “xem xét tình hình toàn cầu, đánh giá hành động của các nước thành viên khác và chờ đợi kết quả của cuộc bầu cử tổng thống Mỹ “. Rõ ràng, sự không chắc chắn ở Washington về tương lai của TPP – nơi mà cả hai ứng cử viên tổng thống đều chống lại hiệp định – là một lý do quan trọng khiến Việt Nam quyết định trì hoãn việc phê chuẩn. Các lãnh đạo Việt Nam có thể không muốn gặp phải một tình huống “việt vị” khi mà Hà Nội đã phê chuẩn hiệp định nhưng Washington thì không....

Read More
Chính giới cánh tả bất lực trước các vấn đề toàn cầu hoá và mị dân
Sep29

Chính giới cánh tả bất lực trước các vấn đề toàn cầu hoá và mị dân

TS Đỗ Kim Thêm dịch, CTV Phía Trước Dano Rodrik, Project-Syndicate Khi thế giới chao đảo từ cú sốc trong việc nước Anh quyết định ra khỏi Liên Âu, thì hai giới chính khách và kinh tế ngộ ra rằng họ đã đánh giá quá thấp về sự mong manh chính trị của các hình thức hiện nay về toàn cầu hóa. Cuộc nổi loạn của quần chúng dường như đang thể hiện qua các hình thức đa dạng và trùng lấp nhau: khẳng định lại các bản sắc địa phương và quốc gia, đòi hỏi nhiều kiểm soát hơn về dân chủ và trách nhiệm giải trình, từ bỏ các chính đảng trung dung, và không tin cậy nơi các giới thượng lưu và chuyên gia. Phản ứng dữ dội này có thể dự đoán được. Một số nhà kinh tế, trong đó có tôi, đã cảnh báo về những hậu quả của việc toàn cầu hóa kinh tế là nó đã đẩy ra ngoài các giới hạn của các định chế nhằm điều tiết, tạo ổn định và hợp pháp đối với nền thị trường. Việc thổi phòng toàn cầu hóa trong lĩnh vực thương mại và tài chính nhằm tạo ra các thị trường thế giới hội nhập không biên giới đã làm phân hoá các xã hội trong nước. Điều ngạc nhiên lớn hơn là khuynh hướng thiên về cánh hữu rõ rệt trong các phản ứng chính trị thành hình. Tại châu Âu, số người dân theo chủ thuyết dân tộc và người dân bản địa theo lối chính trị mị dân đã tăng lên đáng kể, trong khi giới cánh tả chỉ thắng thế ở một vài nơi như Hy Lạp và Tây Ban Nha. Tại Hoa Kỳ, người mị dân cánh hữu như Donald Trump đã tìm cách thắng thế để đẩy lui giới quyền thế cố hữu trong Đảng Cộng hòa, trong khi Bernie Sanders, người theo cành tả, đã không thể vượt qua được Hillary Clinton, người theo phái trung dung. Khi tinh thần đồng thuận về việc tạo ra một nền tảng chính trị mới đang nổi lên và được thừa nhận một cách miễn cưỡng, thì toàn cầu hóa làm nổi bật các vấn đề phân chia giai cấp giữa những người có kỹ năng và nguồn lực với những người không có, khi người có thì lại biết cách tận dụng được lợi thế của các thị trường toàn cầu. Sự cách biệt về thu nhập và giai cấp, trái ngược với sự phân chia theo bản sắc dựa trên chủng tộc, sắc tộc hay tôn giáo,...

Read More
Những điều cần biết về G20
Sep28

Những điều cần biết về G20

Hương Ly chuyển ngữ, CTV Phía Trước Rosamond Hutt, WEF Bạn có biết rằng không chỉ có 20 nước thành viên trong G20? Với việc những nhà lãnh đạo của thế giới tụ họp ở hội nghị năm nay tại Hàng Châu, Trung Quốc, chúng ta có thể sơ lược vì sao có tên gọi G20, những ai được mời tới và tại sao lại có hơn 20 quốc gia trong nhóm. G20 là gì? G20, viết tắt của “Group of 20”, được thành lập bởi 19 quốc gia: Argentina, Úc, Brazil, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức, Ấn Độ, Indonesia, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mexico, Nga, Ả rập, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kì, Anh Quốc và Hoa Kỳ, cộng thêm cả khối Liên minh châu Âu. Cùng nhau, các thành viên của nhóm chiếm khoảng 85% nền kinh tế thế giới; đó là khoảng ¾ nền thương mại thế giới và 2/3 dân số thế giới. Họ bàn luận những gì? G20 bắt đầu vào năm 1999, sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, là một diễn đàn cho các bộ trưởng tài chính và các thống đốc ngân hàng trung ương từ các nền kinh tế phát triển lớn và các nền kinh tế đang phát triển nhằm thảo luận về các vấn đề tài chính toàn cầu. Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, G20 phát triển lên thành một hội nghị cho những nhà lãnh đạo, là nơi để các tổng thống và thủ tướng có thể ngồi lại cùng nhau hai ngày để giải quyết các vấn đề kinh tế thế giới. Những cuộc gặp mặt thành công của các lãnh đạo G20 được tổ chức ở Washington, DC vào năm 2008, London vào đầu năm 2009 và Pittsburgh vào cuối năm 2009, và đã trở thành một thông lệ thường niên. Chạy đua cho các cuộc hội nghị cấp cao, các cựu viên chức được biết đến như “sherpas” (người dân Himalaya) đã bàn luận kỹ lưỡng các vấn đề cho cuộc thảo luận, với mục đích là đưa các thành viên G20 đạt được một thỏa thuận tại hội nghị. Cũng giống như sherpas tại Himalayas, họ giúp chỉ dẫn lãnh đạo của họ qua những vùng địa hình khó khăn, và hoạt động ngoại giao bằng việc đi nhiều nơi. Ngoài ra, G20 cũng có những cuộc gặp mặt của các bộ trưởng tài chính và thống đốc ngân hàng trung ương, đại biểu thương mại và các nhóm hoạt động chống tham nhũng. Ai là khách mời? Nhiệm kì chủ tịch G20 giữa các thành...

Read More
Đừng biến những nhà tư tưởng lớn thành thánh nhân
Sep27

Đừng biến những nhà tư tưởng lớn thành thánh nhân

Phạm Nguyên Trường dịch Robert Higgs, FEE Thỉnh thoảng, khi tôi phê bình một ý kiến nào đó của nhà một nhà trí thức vĩ đại, như Ludwig von Mises, thì người ta liền phản ứng trên phương tiện truyền thông xã hội bằng cách viết bình luận viết ngắn như: “Mises> Higgs”. Thật là ngớ ngẩn. Tôi có là trí thức ngang hàng với Mises không? Tất nhiên là không. Tôi sẽ là một thằng ngốc nếu nghĩ như thế. Tuy nhiên, sự kém cỏi về mặt trí tuệ của tôi không có nghĩa là khi tôi không đồng ý với Misies về một vấn đề cụ thể nào đó, thì bao giờ tôi cũng sai. Tôi có là người trí thức ngang hàng với Einstein không? Câu hỏi thật là lố bịch. Tuy nhiên, về những vấn đề cụ thể nhất định, khi Einstein và tôi có ý kiến khác nhau, ông rõ ràng là người đã sai. Tôi có thể giải thích, tôi tin khá chắc chắn như thế, vì sao chủ nghĩa xã hội là chế độ xã hội không thể nào đạt được những mục tiêu mà những người xã hội chủ nghĩa đầy thiện ý như Einstein tin là sẽ đạt được. Đơn giản là Einstein không biết nhiều về kinh tế học, dù ông có là nhà vật lý học vĩ đại đến mức nào. Bất cứ người nào cũng có thể có sự khác biệt tương tự như thế. Chắc chắn là có hàng triệu người – có thể là hàng trăm triệu – nói chung, là giỏi hơn tôi về mặt trí tuệ. Nhưng, như thế không có nghĩa là khi tôi có ý kiến khác với một trong những người đó, thì tôi là người sai. Viện dẫn uy quyền là ngụy biện, chắc chắn là thế, nhưng khi người ta xem xét một vấn đề mà người có uy quyền – do những đóng góp về trí tuệ của họ – đã đặt niềm của của mình vào, thì viện dẫn là hầu như không thể tránh khỏi trong một số cuộc thảo luận – những người nghiệp dư ít có cơ hội trở lại bàn vẽ, trên đó, những người có uy tín đã trình bày luận cứ và trưng ra bằng chứng. Nhưng khi những người có uy quyền nói về những vấn đề nằm ngoài kiến thức chuyên môn thật sự của họ, thì họ cũng thường nói ngu như ai và người nghe phải luôn luôn nhớ trong đầu như thế. Tôi nhớ rằng sau khi George Stigler (1911-1991, Nobel kinh tế năm 1982...

Read More
ASEAN – Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (I)
Sep26

ASEAN – Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (I)

CTV Phía Trươc chuyển ngữ Eleanor Albert, CFR Giới thiệu Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là một tổ chức nhằm liên kết các nước trong khu vực thông qua việc thúc đẩy kinh tế, chính trị và hợp tác an ninh, bao gồm mười nước thành viên: Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Miến Điện, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam. Theo số liệu năm 2014, các quốc gia ASEAN có dân số trên 622 triệu người (PDF) và tổng giá trị GDP là 2,6 nghìn tỷ USD. Hiệp hội giúp thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế và đã ký kết sáu hiệp định tự do thương mại với các nền kinh tế khác trong khu vực. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng hoạt động của ASEAN bị giới hạn do thiếu tầm nhìn chiến lược, đặc quyền của mỗi nước chưa được thống nhất, và khả năng lãnh đạo yếu kém. Thách thức lớn nhất của khối này là làm sao để đạt được sự thống nhất chung trong việc đàm phán với Trung Quốc, đặc biệt là để đáp trả với những yêu sách chủ quyền trên diện rộng của Trung Quốc tại Biển Đông. Hoa Kỳ xem ASEAN là chìa khóa quan trọng cho sự thành công của mình trong chiến lược đối trọng với Trung Quốc tại châu Á. ASEAN: Xưa và nay Hằng năm, các nước thành viên ASEAN đều luân phiên tổ chức các cuộc họp chính thức thông qua một ban thư ký có trụ sở tại Jakarta, Indonesia. Các quyết định đạt được thông qua tham vấn và cùng được định hướng bởi những nguyên tắc như không can thiệp vào công việc nội bộ và giải quyết các cuộc xung đột bằng biện pháp hòa bình. Một số chuyên gia nhận định rằng cách thức đưa ra quyết định như trên là một khuyết điểm lớn cho cả khối. “Việc đề cao sự đồng thuận, để tránh làm mất mặt, và tính duy ý chí cho thấy rằng các quan điểm chính trị về một mẫu số chung thấp nhất (PDF) có xu hướng chiếm ưu thế, và rằng các vấn đề khó khăn đã bị né tránh chứ không phải là dám đối mặt trực diện”, giáo sư chính trị quốc tế tại Đại học Tây Úc, Perth, Mark Beeson viết trong một bài trên tạp chí năm 2016. Các chuyên gia khác nói ASEAN đã góp phần ổn định khu vực bằng cách xây dựng các tiêu chuẩn cần thiết và tạo dựng một môi trường ổn định nhằm giải quyết...

Read More
Liên minh Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương – NATO (II)
Sep23

Liên minh Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương – NATO (II)

CTV Phía Trước chuyển ngữ Jonathan Masters, CFR Giới thiệu Liên Minh Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương, nền tảng về an ninh khu vực xuyên Thái Bình Dương thời kì Chiến tranh Lạnh, trong 20 năm qua đã khôi phục lại đáng kể vai trò của mình. Được thành lập năm 1949 nhằm bảo vệ mình trước sự đối đầu của Liên Xô, NATO đã phát triển để đương đầu với những mối đe dọa, từ nạn hải tặc ở khu vực Sừng châu Phi đến buôn người ở vùng Địa Trung Hải. Tuy nhiên, trong khi NATO hiện đại nhìn chung được công nhận vai trò của mình vượt ra khỏi khuôn khổ châu Âu, trong những năm qua, những động thái của Nga, cụ thể trong sự can thiệp tại Ukraine, đã xoay chuyển mối quan tâm của liên minh trở về lục địa. Những diễn biến gần đây đã phơi bày những căng thẳng chưa được giải quyết khi NATO mở rộng đến khu vực thuộc Liên Xô trước kia. Xem thêm Phần I *** Afghanistan và Lực lượng Hỗ trợ An ninh Quốc tế (ISAF) NATO viện đến điều khoản về phòng thủ tập thể (điều khoản V) lần đầu tiên sau khi vụ tấn công 11 tháng 9 diễn ra ở Mỹ, do mạng lưới khủng bố Al-Qaeda có trụ sở ở Afghanistan chủ mưu. Ngay sau khi lực lượng được Hoa Kỳ dẫn đầu lật đổ chính quyền Taliban ở Kabul, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ủy quyền xLực lượng Hỗ trợ an ninh quốc tế (ISAF) đến hỗ trợ chính quyền Afghan mới. NATO chính thức nắm quyền chỉ huy ISAF vào năm 2013, đánh dấu sự cam kết điều hành đầu tiên nằm bên ngoài châu Âu. Chuyên gia NATO Stanley Sloan trong phỏng vấn CFR từng nói: “Việc liên minh tham gia vào Afghanistan “là sự việc mang tính cách mạng. Đó là bằng chứng rằng NATO giờ đã thích nghi với những nhiệm vụ vô cùng khác biệt so với những gì người ta từng mong đợi trong thời Chiến tranh Lạnh.” Thế nhưng, một vài nhà phê bình nghi ngờ sự gắn kết nơi chiến trường của NATO tại Afghanistan. Đồng minh đã nhất trí các mục tiêu trung tâm của nhiệm vụ – chính là việc ổn định và tái xây dựng Afghanistan – nhưng một vài thành viên hạn chế lực lượng của mình khỏi việc tham gia vào các chiến dịch chống nổi loạn và các nhiệm vụ khác, một thông lệ được gọi là “cảnh báo quốc gia” (hạn chế sử...

Read More
%d bloggers like this: