Hậu quả sau Brexit
Jun27

Hậu quả sau Brexit

Đặng Khương chuyển ngữ, CTV Phía Trước Judy Dempsey, Carnegie Europe Cuối cùng, người Anh đã bỏ phiếu chọn rời khỏi khối Liên minh châu Âu (European Union) mà Anh Quốc đã tham gia vào năm 1973. Sau một đêm dài và đếm phiếu căng thẳng, ‘Ra đi’ cuối cùng đã chiếm 51,9% trong cuộc trưng cầu dân ý mang tính lịch sử ngày 23 tháng Sáu. Thủ tướng David Cameron sau đó không lâu đã chính thức tuyên bố từ chức. Ông hy vọng sẽ tiếp tục ‘giữ vững con tàu’ trong thời gian 4 tháng sắp tới trước khi ra đi vào tháng Mười năm 2016. Kết quả vừa qua đã gây nhiều thất vọng không chỉ cho nước Anh mà còn đối với cả khối châu Âu. Uy tín của châu Âu cũng như Anh Quốc trên trường quốc tế đã bị suy yếu nghiêm trọng. Liên minh châu Âu được xây dựng trên đống tro tàn của Chiến tranh Thế giới thứ II. Đó là niềm niềm tin lớn và hy vọng sẽ dẫn đầu châu lục này đến hòa bình, thịnh vượng và đoàn kết. Nhiều người tin rằng nó sẽ trở thành một điểm lớn thu hút các nước khác tìm kiếm dân chủ. Đó là mô hình chưa từng có trên thế giới. Qua sự kiện Brexit, Anh Quốc đã không những chia sẻ những giá trị này mà còn thách thức chúng một cách nguy hiểm. Thủ tướng Đức Angela Merkel cho biết trong một tuyên bố vào ngày 24, “ngày hôm nay là một bước ngoặt đối với châu Âu.” Hậu quả trước mắt của cuộc bỏ phiếu ở Anh Quốc gặp bốn trở ngại sau đây. Đầu tiên, các nhóm theo chủ nghĩa ngoài nghi về Liên minh châu Âu sẽ vui mừng bởi kết quả của Anh và sẽ khai thác nó một cách triệt để. Marine Le Pen, lãnh đạo cực hữu thuộc Mặt trận Quốc gia Pháp, người đang lên kế hoạch chạy đua vào ghế tổng thống Pháp, cho biết bà sẽ tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý về tương lai nước Pháp trong Liên minh châu Âu nếu được bầu vào năm 2017. Bà không phải là người riêng lẻ. Tại Áo, Đan Mạch, Hungary, Hà Lan, và Ba Lan, các nhóm hoài nghi về liên minh, chủ nghĩa dân túy và các bên chống người nhập cư cũng đang gia tăng với kế hoạch tương tự. Kết quả ở Anh Quốc sẽ khuyến khích các nước này kêu gọi tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý về tương lai nước...

Read More
Cẩm nang cho những thói quen lành mạnh trên web
May30

Cẩm nang cho những thói quen lành mạnh trên web

Doug Bernard, theo VOA (Hay, “Tôi đã bắt đầu lo lắng và bảo vệ sự riêng tư của mình trên mạng ra sao”) Ở mặt lợi nhất, Internet có thể biến máy tính hoặc thiết bị di động của bạn thành một thư viện nghiên cứu, rạp chiếu phim, một công cụ y tế hoặc một phương tiện để kết nối với bất cứ ai khác trên hành tinh. Đó là một nơi an toàn, rộng mở để bạn là chính mình và phát triển bản thân. Ở mặt hại nhất, Internet có thể trở thành một nơi tối tăm và đầy mối đe dọa – một công cụ để những kẻ trộm đánh cắp, để những công ty theo dõi và để những chính phủ đàn áp. Như người ta vẫn nói, chúng ta biến Internet thành thế nào thì nó ra thế ấy. Thông tin có thể lưu thông tự do, nhưng có rất nhiều thế lực muốn chặn dòng chảy thông tin trên Internet và trừng phạt những người tìm cách kháng cự. Đặc biệt, một số chính phủ đang ra sức dựng tường ngăn cách một số nơi trên Internet bằng cách lọc và chặn những gì người ta có thể nhìn thấy. Những chính phủ khác thì đang lợi dụng tính chất rộng mở của Internet để theo dõi những cá nhân và trừng phạt họ về những gì họ làm trên mạng. Khi những công nghệ theo dõi và kiểm duyệt trở nên tân tiến thì những công cụ mới dành cho máy tính hoặc thiết bị di động của bạn cũng vậy, giúp bảo vệ sự riêng tư của bạn và vượt qua sự kiểm duyệt Internet. Hãy suy nghĩ về công trình này như một cẩm nang giúp tránh kiểm duyệt Internet và ẩn danh. Đây là phần tổng quan cơ bản về những thách thức và cách thức để kháng cự, nhấn mạnh đến tính chất “cơ bản.” Đây không phải là bộ quy tắc hoàn chỉnh, bất di bất dịch, và bất biến. Thay vào đó, hãy xem đây là một chỉ dẫn khái quát bàn về một số khái niệm chủ chốt và giới thiệu một số công cụ có thể giúp bạn giữ cho Internet tương đối tự do và an toàn. Hãy nhớ Tránh kiểm duyệt không phải là ẩn danh: Vượt tường lửa không đồng nghĩa với ẩn danh trên mạng. Một số trong những công cụ mà chúng ta sẽ tập trung bàn tới sẽ giúp bạn vừa tránh được những biện pháp ngăn chặn vừa bảo vệ được danh tính của mình khi...

Read More
Trung Quốc: Cai trị bằng nỗi sợ hãi
Mar29

Trung Quốc: Cai trị bằng nỗi sợ hãi

Hương Ly chuyển ngữ, CTV Phía Trước Minxin Pei, Project-Syndicate Trung Quốc lại một lần nữa bị kìm kẹp bởi sự sợ hãi chưa từng có kể từ thời Mao Trạch Đông. Từ những cơ quan bên trong của Đảng Cộng sản Trung Quốc cho đến những giảng đường đại học và các cơ quan hành chính, nỗi sợ hãi về những cáo trạng hà khắc, những sự trừng phạt còn khắc nghiệt hơn đang săn đuổi các giới chính trị, tri thức và cả thương nhân của Trung Quốc. Bằng chứng cho nỗi lo ngại đang lan tràn khắp nơi này rất dễ để thấy rõ. Từ khi cuộc chạy đua chống tham nhũng ác liệt của Chủ tịch Tập Cận Bình bắt đầu năm 2012, các vụ bắt giữ đối với các công chức chính phủ đã trở thành một nghi thức hàng ngày, gây nên những lo âu cho cho bạn bè và đồng nghiệp của họ. Những người có thâm niên đưa ra những đề nghị về một sự bảo trợ nhỏ, khi mà 146 “con hổ” thất bại (những viên chức giữ địa vị bộ trưởng hay lãnh đạo địa phương) được tìm ra, thường bị xoay chuyển tình huống một cách không ngờ tới. Một thuật ngữ mới thậm chí còn được thêm vào từ vựng Trung Quốc để miêu tả sự xuống dốc bất ngờ từ danh vọng: miaosha hay “tàn sát ngay lập tức”. Tuy nhiên, sự sợ hãi lại là hồi chuông lớn hơn đối với những viên chức thấp cấp, được thống kê từ những báo cáo về các vụ tự tử đang tăng nhanh. Truyền thông đã xác nhận có 28 vụ trong năm vừa qua, mặc dù con số thật có thể nhiều hơn đáng kể. Lo ngại về khuynh hướng này, các lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đề ra nhiệm vụ với các tổ chức đảng địa phương về việc thu thập dữ liệu số vụ tự tử của các viên chức chính phủ từ khi cuộc chạy đua chống tham nhũng bắt đầu. Không chỉ tội phạm mới sống trong nỗi khiếp sợ liên miên. Thậm chí với cả những sự chấp thuận hàng ngày với những dự án và những yêu cầu cũng có thể gợi lên những nghi ngờ, các quan chức Trung Quốc giờ cũng bị tê liệt trong nỗi sợ hãi. Ngoài các bộ máy quan chức, các viện sĩ, các luật sư bảo vệ quyền con người, các bloggers, các lãnh đạo kinh doanh cũng đang chịu ảnh hưởng. Tại các trường đại học, chính phủ đã...

Read More
Có nên tin những điều chuyên gia nói?
Mar14

Có nên tin những điều chuyên gia nói?

An Võ chuyển ngữ, CTV Phía Trước GS Derek J. Koehler, The New York Times Trong thế giới đầy phức tạp như ngày nay, ý kiến chuyên gia rất được coi trọng. Mỗi người trong chúng ta luôn có nhiều thắc mắc như thực phẩm biến đổi gen có an toàn không? Hay tình trạng nóng lên toàn cầu có thật đang diễn ra? Trẻ em có cần thiết tiêm vắc-xin phòng sởi? Tuy nhiên, vì không có đủ thời gian hay kiến thức để tự trả lời những thắc mắc này, chúng ta phải chuyển nó đến các chuyên gia. Mà để biết được họ nói gì, chúng ta thường thông qua truyền thông. Nhà báo vì thế gặp phải thách thức khi đối mặt những vấn đề có nhiều quan điểm khác nhau. Nếu theo như thông lệ viêt báo, ý kiến đồng ý hay phản đối đều cần được ghi nhận mà không ảnh hưởng đến nhận thức của công chúng về mức độ phản đối. Tuy nhiên, điều này không dễ để thực hiện. Thực tế, nhà báo thường bị đánh giá là tạo ra sự cân bằng giả cho nhiều vấn đề trong đó có cả sự bất đồng mặc dù vấn đề lại được đa số tán thành. Giải pháp được nhiều kênh tin tức như BBC áp dụng là xét bằng chứng. Cần phải chỉ ra cụ thể số đông ý kiến chuyên gia là nghiêng về bên nào trong nhiều ý kiến trái chiều. Nhưng liệu biện pháp này có hiệu quả hay không lại một câu hỏi tâm lý học chưa có giải đáp. Thế nên, gần đây tôi đã tiến hành hai thí nghiệm, cụ thể sẽ được in trong Tạp chí Tâm lý Thực nghiệm Ứng dụng sắp tới. Cả hai thí nghiệm đều cho thấy phương pháp bằng chứng là không hoàn hảo. Lắng nghe chuyên gia ở cả hai phía của một vấn đề thậm chí bóp méo nhận thức của chúng ta về sự đồng thuận, kể cả khi ta có đủ thông tin để sửa chữa hiểu lầm ấy. Trong một nghiên cứu, người tham gia được nhận một bảng tổng kết số liệu của hội đồng chuyên gia do Đại học Chicago tập hợp. Bản tổng kết cho thấy các ý kiến khác nhau của các chuyên gia về một số vấn đề kinh tế. Có những vấn đề nhận được sự đồng ý của đại đa số chuyên gia, có những vấn đề còn nhiều tranh cãi. Ví dụ, số đông đồng ý rằng thuế các-bon là biện pháp hữu hiệu giảm...

Read More
Chương trình cải cách của Việt Nam tiếp tục đình trệ
Mar09

Chương trình cải cách của Việt Nam tiếp tục đình trệ

Thiên Thanh chuyển ngữ, CTV Phía Trước Loc Doan, Global Policy Institute/EAF Năm 1986, việc Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện chính sách Đổi mới đã mang lại nhiều chuyển biến cho kinh tế Việt Nam lúc bấy giờ. Tuy nhiên, chính sách Đổi mới kéo dài 30 năm dường như đang dần dần hết tác dụng. Nếu Việt Nam muốn bắt kịp các quốc gia tiên tiến ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam cần phải bắt tay vào một quá trình Đổi mới khác, hướng đến tự do hóa nền chính trị cũng như cấu trúc kinh tế. Trong bài phát biểu tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh đã nhấn mạnh rằng hệ thống chính trị của Việt Nam đã được xây dựng với trọng tâm kế hoạch phát triển kinh tế. Hệ thống này “giờ đây trở thành rào cản cho sự phát triển” và “cải cách chính trị là một điều thiết yếu và cấp bách để nền kinh tế của chúng ta phát triển hơn nữa”. Đại hội Đảng lần thứ 12 diễn ra vào ngày từ 20 đến 28 tháng Một năm 2016 lẽ ra phải là một thời điểm quan trọng để Đảng giới thiệu những chương trình cải cách đi tắt đón đầu. Tuy nhiên, đại hội đã kết thúc bằng việc Đảng Cộng sản Việt Nam không hề quan tâm đến vấn đề tái cơ cầu bộ máy chính trị – một vấn đề được xem là vô cùng cần thiết. Những lời kêu gọi đổi mới toàn diện và triệt để cũng không còn là xa lạ, nhiều chính sách đã được kêu gọi từ ngay thời kì bắt đầu thực hiện chính sách Đổi mới vào năm 1986. Vào cuối những năm 1980, một vài đại biểu Quốc hội – bao gồm các lãnh đạo nòng cốt như Trần Xuân Bách – cũng kêu gọi thúc đẩy các đại biểu đi theo chế độ dân chủ và kiêm nhiệm nhiều chức vụ. Trong cuộc viếng thăm Việt Nam, bà Madelein K. Albright – cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ – cũng có những chia sẻ với các nhà lãnh đạo của Việt Nam. Bà chia sẻ rằng trong suốt thập kỉ vừa qua, Đổi mới đã mang lại cho Việt Nam những thành tựu đáng kể, nhưng những gì bây giờ cần làm là thực hiện quá trình Đổi mới 2. Bà gọi “Đổi mới 2” để chỉ những chuyển biến về việc mở cửa kinh tế và chính trị. Hai...

Read More
Tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông
Mar08

Tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông

Ka Đặng chuyển ngữ, CTV Phía Trước Theo CFR 11 tỷ là số lượng thùng dầu ước tính ở Biển Đông 190 nghìn tỷ (5.4 nghìn tỷ mét khối) là số lượng khối khí đốt tự nhiên ước tính ở Biển Đông 3 nghìn tỷ đô la là tổng giá trị thương mại hằng năm đi qua Biển Đông Những gia tăng căng thẳng gần đây Những tranh chấp về lãnh thổ và quyền tài phán trên Biển Đông tiếp tục gây căng thẳng cho mối quan hệ giữa Trung Quốc và các quốc gia khác ở Đông Nam Á, có nguy cơ leo thang thành một cuộc đụng độ quân sự. Hoa Kỳ đã tìm cách giữ vững quyền tự do hàng hải và hỗ trợ các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á vốn đang phải chịu ảnh hưởng bởi các tuyên bố cương quyết về lãnh thổ và những nỗ lực cải tạo đất của Trung Quốc. Mùa thu năm 2015, Hoa Kỳ đã báo hiệu rằng họ sẽ thách thức sự khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trên vùng lãnh thổ đang tranh chấp này bằng cách đưa máy bay quân sự và cử các tàu thuyển tới gần một số hòn đảo. Trong những năm gần đây, hình ảnh từ vệ tinh đã cho thấy những nỗ lực không ngừng nghỉ của Trung Quốc trong việc cải tạo đất ở Biển Đông bằng cách mở rộng diện tích của các hòn đảo, hoặc hoàn thành các dự án tạo ra những hòn đảo mới. Ngoài việc bồi thêm cát vào các rạn đá ngầm hiện có, Trung Quốc còn xây dựng các cảng, căn cứ quân sự và các phi đạo, đặc biệt là trên quần đảo Trường Sa. Bối cảnh Các tuyên bố về chủ quyền trên diện rộng của Trung Quốc lên khu vực biển này – và cả quyền sở hữu vô căn cứ 11 tỷ thùng dầu chưa được khai thác và 190 nghìn tỷ foot khối (5.4 nghìn tỷ mét khối) khí gas tự nhiên tại đó – đã gây thù nghịch với các bên tranh chấp như Malaysia, Việt Nam, Brunei, Đài Loan, Indonesia, và Philippines. Vào đầu những năm 1970, các quốc gia đã bắt đầu tuyên bố chủ quyền trên các hòn đảo và những vùng khác nhau như trường hợp của quần đảo Trường Sa, qua đó có thể chiếm hữu được các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các ngư trường phong phú, trong khu vực Biển Đông thể như là của chính họ. Trung Quốc viện dẫn rằng theo luật...

Read More
Buổi tiệc kinh tế ‘chỉ mới bắt đầu ở Việt Nam’
Dec16

Buổi tiệc kinh tế ‘chỉ mới bắt đầu ở Việt Nam’

Việt Khôi chuyển ngữ, CTV Phía Trước Rowan Callick, The Australian Trong khi hầu hết mức tăng trưởng tại châu Á đang chậm lại giữa lúc điều chỉnh sang hướng thị trường tiêu dùng thì dường như “buổi tiệc chỉ mới bắt đầu ở Việt Nam”, theo Standard & Poor. Thương mại giữa Úc và Việt Nam đã tăng 35 phần trăm hồi năm ngoái lên đến 8 tỷ USD, mặc dù đầu tư chỉ đạt mức khiêm tốn 1,2 tỷ USD. Cơ quan xếp hạng Standard & Poor cho biết trong một báo cáo bốn năm trước rằng nền kinh tế Việt đã phải vật lộn và các khoản nợ xấu tăng cao khi chính phủ tập trung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước thuộc sở hữu nhà nước. Kể từ đó, cả nước đã thu hút được nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu, mặc dù nhu cầu vẫn còn chậm chạp và giá cả toàn cầu tiếp tục giảm. Xuất khẩu từ các nhà máy nội địa – chủ yếu là do nhà nước quản lý – đã hoạt động “ở khoảng mức trung bình như phần còn lại của các nước châu Á”, S&P cho biết. “Các ngôi sao trong ngành này như thiết bị điện tử và điện thoại di động đã hoạt động tốt một phần vì Nhật Bản và Hàn Quốc đã đầu tư vào các nhà máy mới tại Việt Nam”, và gần đây nhất đặc biệt Samsung đã giúp gia tăng khoản đầu tư trong nước. Ngành xuất khẩu điện tử đã tăng gần 33 phần trăm mỗi năm trong ba năm qua, với thị phần trong số tổng xuất khẩu ngày càng tăng từ 18 phần trăm đến 29 phần trăm. Dệt may và da giày đã tăng ở ổn định, ở mức khoảng 20 phần trăm trong tất cả các mặt hàng xuất khẩu. Nhìn chung, vốn FDI đã tăng gấp đôi từ 2012 đến năn 2014 so với ba năm trước. Nhật Bản và Hàn Quốc mỗi nước đóng góp khoảng 22 phần trăm, Singapore đầu từ gần 16 phần trăm, trong khi Trung Quốc và Hồng Kông đã đầu tư gần 13 phần trăm, và Đài Loan đóng góp khoảng 7,5 phần trăm. Khi Trung Quốc di chuyển lên chuỗi giá trị thì “thị trường sản xuất ở châu Á cần tìm một nơi mới”., S&P cho biết. Việt Nam là nước hưởng lợi chính trong sự thay đổi này. Việt Nam hiện có dân số khoảng 91 triệu người nên lực lượng lao...

Read More
%d bloggers like this: