Năng lượng tại Biển Nam Trung Hoa – Phần II
May03

Năng lượng tại Biển Nam Trung Hoa – Phần II

Ngô Bắc dịch và phụ chú Trích từ Gió-O Biển Nam Trung Hoa, tức Biển Đông, là một hải lộ mậu dịch thế giới trọng yếu và một nguồn chất hydrocarbon tiềm năng, đặc biệt hơi đốt thiên nhiên, với các sự tuyên nhận tranh giành nhau về quyền sở hữu trên biển và các tài nguyên của nó. Xem thêm: Phần I *** Thăm dò và sản Xuất Biển Nam Trung Hoa đặt ra các vấn đề sâu rộng về  địa chất, kỹ thuật và nguồn tài nguyên. Trong khi các công ty dầu hỏa quốc doanh (national oil companies: NOCs) đã thành công trong việc xuất trích chất hydrocarbon gần các bờ biển của Biển Nam Trung Hoa, phần lớn khu vực bị đặt trước các sự thách đố làm nản lòng sự phát triển.  Ngoài các sự tranh chấp địa chính trị, các khu vực biển tranh chấp đối diện với các sự quan tâm về địa chất và kỹ thuật. Cơ Quan EIA ước lượng Biển Nam Trung Hoa sẽ khả quan như một nguồn hơi đốt thiên nhiên hơn là một nguồn dầu hỏa, như thế các nhà sản xuất sẽ phải xây dựng các ống dẫn dưới biển tốn kém để mang hơi đốt đến các cơ sở biến chế.  Các thung lũng dưới biển và các luồng nước mạnh nêu ra các vấn đề địa chất đáng sợ cho hạ tầng cơ sở hơi đốt nước sâu hữu hiệu.  Vùng này cũng có khuynh hướng chịu các trận bão nhiệt đới và giông tố, loại trừ các giàn sản xuất và khoan cứng rẻ tiền hơn.  Các nguồn tin trong ngành kỹ nghệ nêu ra các sự canh tân trong việc khoan tại vùng nước sâu được tiên phong khắp Vịnh Mexico như các mô hình cho việc phát triển Biển Nam Trung Hoa, kể cả việc buộc chân kéo căng của các cơ sở thiết bị sản xuất và vận dụng việc khoan áp suất để hoạt động tại môi trường nước sâu nhiều áp lực.  Các NOC đã hợp tác với các công ty quốc tế để cung cấp kỹ thuật và trang thiết bị cho việc thăm dò và các hoạt động khoan vùng biển sâu. Brunei Công Ty Dầu Hỏa Quốc Gia Brunei (PetroleumBRUNEI) quản trị các hoạt động ngoài khơi trong xứ sở, trong khi Brunei-Shell Petroleum, một liên doanh giữa Shell và chính phủ, là nhà sản xuất dầu thô độc nhất trong nước.  Mỏ dầu hỏa và khí đốt ngoài khơi lớn nhất của Brunei được đặt tên là Champion bắt đầu sản xuất trong...

Read More
Việt Nam trước sự thách thức của Trung Quốc
May02

Việt Nam trước sự thách thức của Trung Quốc

Thiên Thanh chuyển ngữ, CTV Phía Trước Nguyen Khac Giang, EAF Sau bầu cử Đại hội Đảng – cuộc bầu cử cấp cao nhất của Đảng cộng sản Việt Nam – kết thúc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục được tái bổ nhiệm vào chức vụ cao nhất của bộ máy chính trị Việt Nam vào hồi cuối tháng Giêng. Tuy nhiên, trong nhiệm kì 5 năm vừa qua, chiến thắng trong cuộc bầu cử lần này chỉ mới là bước khởi đầu đối với tổng bí thư. Thách thức quan trọng mà các nhà lãnh đạo mới phải đối mặt trong thời gian tới là duy trì mối quan hệ với Trung Quốc. Cuối năm 2015, trong khi các ủy viên cấp cao của đảng đang bận rộn chuẩn bị cho Đại hội lần thứ 12 thì Trung Quốc lại gây nhũng nhiễu bằng việc đưa dàn khoan HD-981 vào khu vực chủ quyền thuộc Việt Nam, gây ra tranh cãi. Không ai có thể đoán chắc được động thái của Trung Quốc là gì, liệu rằng đó là một phần trong kế hoạch bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc, hay họ chỉ muốn gây ra những căng thẳng trong thời gian bầu cử của Đảng Cộng sản Việt Nam – điều mà Trung Quốc đã làm trước đây trong cuộc bầu cử tổng thống Đài Loan năm 1996. Bất kể âm mưu đằng sau của Trung Quốc là gì, đây vẫn là vấn đề mà ông Trọng cần phải đối mặt. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có xu hướng được xem là bảo thủ và thân Trung Quốc hơn đối thủ của mình – ông Nguyễn Tấn Dũng.  Hiện nay trong các đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như dân chúng Việt Nam đều có động thái chống đối Trung Quốc, và các nhân vật lãnh đạo mới đứng trước áp lực phải chứng minh điều ngược lại. Việc ông Nguyễn Phú Trọng tái đắc cử diễn ra đúng lúc mối quan hệ của Việt Nam và Trung Quốc đang có nhiều bất ổn so với 5 năm trước. Bắc Kinh giờ đang thể hiện quyết tâm của mình bằng cách chuyển từ việc tuyên bố chủ quyền sang chiếm đóng Biển Đông. Âm mưu này từng bước được thực hiện hóa bằng việc khai hoang đảo, hiện đại hóa hải quân nhanh chóng, và tăng cường hệ thống phòng không. Trong suốt năm 2015, Trung Quốc đã tiến hành các hoạt động cải tạo đáng kể trên một số đảo, đá ngầm và đá ở Biển Đông. Các dự...

Read More
Richard Nixon, Henry Kissinger và sự sụp đổ của Miền Nam (cuối)
Apr29

Richard Nixon, Henry Kissinger và sự sụp đổ của Miền Nam (cuối)

TS Đỗ Kim Thêm, CTV Phía Trước Vấn đề “Mỹ không thể bỏ Việt Nam” đó là một niềm tin son sắt của chính giới và người dân miền Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975. Hơn nữa, Việt Nam Cộng hòa (VNCH) với 1 triệu 1 quân nhân, một không lực đứng hàng thứ tư trên thế giới, kiểm soát trên 50% dân chúng và 75% lãnh thổ, không ai tin là có thể đầu hàng. Cuối cùng, chuyện không muốn đã đến khi Đồng Minh tháo chạy. Cho đến nay, vẫn còn có câu hỏi đặt ra là tại sao VNCH sụp đổ, vì trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, đã chưa có một trường hợp nào tương tự như vây đã xảy ra và các lý giải vẫn chưa thoả đáng. Lý do thật dễ hiểu: Việt Nam không còn các sử gia chân chính; nhiều cán bộ sử học của phe thắng cuộc đang tiếp tục làm nhiệm vụ tuyên truyền; các sử gia khả tín của phe thua cuộc không còn cơ hội lên tiếng; sử gia ngoại quốc cũng chẳng soi sáng được nội tình nhiều hơn vì là người ngoại cuộc. Thế hệ tham chiến không thể kể hết tiếng lòng của nạn nhân chiến cuộc; các tự sự qua ký ức cá nhân và ký ức tập thể mờ nhạt qua bụi thời gian. Vì không có một chương trình giáo dục khách quan cho thế hệ hậu chiến, nên các mờ ảo của lịch sử cận đại còn đó. Tổng Thống Richard Nixon và Cố vấn Henny Kissinger là hai chính khách trực tiếp can dự vào sự sụp đổ của VNCH. Richard Nixon đã thú nhận những sai lầm qua danh tác “No More Vietnam“. Henry Kissinger, vốn là nhà sử học và có nhiều trước tác liên quan; nhưng gần đây ông cũng cho là chưa có một tác phẩm nào về chiến tranh Việt Nam là khách quan và thuyết phục. Trước đống tro tàn của lịch sử, một câu hỏi được đặt lại là Richard Nixon và Henry Kissinger đã làm gì trong tiến trình Việt Nam Hoá chiến tranh và ai thắng ai thua trong sự sup đổ của VNCH; đó là nội dung của vấn đề ở đây và bài viết này là một thử nghiệm khiêm tốn. Xem thêm: Phần I Phần II Quốc hội và Watergate Sau khi người lính cuối cùng rời khỏi Việt Nam và Hà Nội trao trả 580 tù binh thì chính giới Hoa Kỳ không còn lý do để ủng hộ cho VNCH. Dù...

Read More
Richard Nixon, Henry Kissinger và sự sụp đổ của Miền Nam (II)
Apr27

Richard Nixon, Henry Kissinger và sự sụp đổ của Miền Nam (II)

TS Đỗ Kim Thêm, CTV Phía Trước Vấn đề “Mỹ không thể bỏ Việt Nam” đó là một niềm tin son sắt của chính giới và người dân miền Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975. Hơn nữa, Việt Nam Cộng hòa (VNCH) với 1 triệu 1 quân nhân, một không lực đứng hàng thứ tư trên thế giới, kiểm soát trên 50% dân chúng và 75% lãnh thổ, không ai tin là có thể đầu hàng. Cuối cùng, chuyện không muốn đã đến khi Đồng Minh tháo chạy. Cho đến nay, vẫn còn có câu hỏi đặt ra là tại sao VNCH sụp đổ, vì trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, đã chưa có một trường hợp nào tương tự như vây đã xảy ra và các lý giải vẫn chưa thoả đáng. Lý do thật dễ hiểu: Việt Nam không còn các sử gia chân chính; nhiều cán bộ sử học của phe thắng cuộc đang tiếp tục làm nhiệm vụ tuyên truyền; các sử gia khả tín của phe thua cuộc không còn cơ hội lên tiếng; sử gia ngoại quốc cũng chẳng soi sáng được nội tình nhiều hơn vì là người ngoại cuộc. Thế hệ tham chiến không thể kể hết tiếng lòng của nạn nhân chiến cuộc; các tự sự qua ký ức cá nhân và ký ức tập thể mờ nhạt qua bụi thời gian. Vì không có một chương trình giáo dục khách quan cho thế hệ hậu chiến, nên các mờ ảo của lịch sử cận đại còn đó. Tổng Thống Richard Nixon và Cố vấn Henny Kissinger là hai chính khách trực tiếp can dự vào sự sụp đổ của VNCH. Richard Nixon đã thú nhận những sai lầm qua danh tác “No More Vietnam“. Henry Kissinger, vốn là nhà sử học và có nhiều trước tác liên quan; nhưng gần đây ông cũng cho là chưa có một tác phẩm nào về chiến tranh Việt Nam là khách quan và thuyết phục. Trước đống tro tàn của lịch sử, một câu hỏi được đặt lại là Richard Nixon và Henry Kissinger đã làm gì trong tiến trình Việt Nam Hoá chiến tranh và ai thắng ai thua trong sự sup đổ của VNCH; đó là nội dung của vấn đề ở đây và bài viết này là một thử nghiệm khiêm tốn. Xem thêm: Phần I Tấn công Campuchia Thủ tướng Lon Nol đảo chính Hoàng thân Norodom Sihanouk vào ngày 18 tháng 3 năm 1970. Đến nay vẫn chưa xác định được là có CIA nhúng tay trong vụ này không. Hoa Kỳ thấy...

Read More
Richard Nixon, Henry Kissinger và sự sụp đổ của Miền Nam (I)
Apr26

Richard Nixon, Henry Kissinger và sự sụp đổ của Miền Nam (I)

TS Đỗ Kim Thêm, CTV Phía Trước Vấn đề “Mỹ không thể bỏ Việt Nam” đó là một niềm tin son sắt của chính giới và người dân miền Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975. Hơn nữa, Việt Nam Cộng hòa (VNCH) với 1 triệu 1 quân nhân, một không lực đứng hàng thứ tư trên thế giới, kiểm soát trên 50% dân chúng và 75% lãnh thổ, không ai tin là có thể đầu hàng. Cuối cùng, chuyện không muốn đã đến khi Đồng Minh tháo chạy. Cho đến nay, vẫn còn có câu hỏi đặt ra là tại sao VNCH sụp đổ, vì trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, đã chưa có một trường hợp nào tương tự như vây đã xảy ra và các lý giải vẫn chưa thoả đáng. Lý do thật dễ hiểu: Việt Nam không còn các sử gia chân chính; nhiều cán bộ sử học của phe thắng cuộc đang tiếp tục làm nhiệm vụ tuyên truyền; các sử gia khả tín của phe thua cuộc không còn cơ hội lên tiếng; sử gia ngoại quốc cũng chẳng soi sáng được nội tình nhiều hơn vì là người ngoại cuộc. Thế hệ tham chiến không thể kể hết tiếng lòng của nạn nhân chiến cuộc; các tự sự qua ký ức cá nhân và ký ức tập thể mờ nhạt qua bụi thời gian. Vì không có một chương trình giáo dục khách quan cho thế hệ hậu chiến, nên các mờ ảo của lịch sử cận đại còn đó. Tổng Thống Richard Nixon và Cố vấn Henny Kissinger là hai chính khách trực tiếp can dự vào sự sụp đổ của VNCH. Richard Nixon đã thú nhận những sai lầm qua danh tác “No More Vietnam“. Henry Kissinger, vốn là nhà sử học và có nhiều trước tác liên quan; nhưng gần đây ông cũng cho là chưa có một tác phẩm nào về chiến tranh Việt Nam là khách quan và thuyết phục. Trước đống tro tàn của lịch sử, một câu hỏi được đặt lại là Richard Nixon và Henry Kissinger đã làm gì trong tiến trình Việt Nam Hoá chiến tranh và ai thắng ai thua trong sự sup đổ của VNCH; đó là nội dung của vấn đề ở đây và bài viết này là một thử nghiệm khiêm tốn. Nhậm chức Tổng Thống và bổ nhiệm Cố vấn Sau bao năm thăng trầm trong chính trường, Nixon thắng cử và trở thành Tổng Thống thứ 37 của Hoa Kỳ. Ông là một luật sư có tài hùng biện, văn tài diễn đạt...

Read More
Năng lượng tại Biển Nam Trung Hoa
Apr23

Năng lượng tại Biển Nam Trung Hoa

Ngô Bắc dịch và phụ chú Trích từ Gió-O Biển Nam Trung Hoa, tức BIển Đông, là một hải lộ mậu dịch thế giới trọng yếu và một nguồn chất hydrocarbon tiềm năng, đặc biệt hơi đốt thiên nhiên, với các sự tuyên nhận tranh giành nhau về quyền sở hữu trên biển và các tài nguyên của nó. Trải dài từ Singapore và Eo Biển Malacca tại phía tây nam đến Eo Biển Đài Loan ở phía đông bắc, Biển Nam Trung Hoa là một trong những tuyến đường mậu dịch quan trọng nhất trên thế giới.  Biển này giàu tài nguyên và nắm giữ tầm quan trọng chính trị và chiến lược đáng kể. Khu vực bao gồm vài trăm hòn đảo nhỏ, bãi đá, rạn san hô, với đa số tọa lạc tại các chuỗi đảo Paracel (Hoàng Sa) và Spratly (Trường Sa).  Nhiều đảo trong số các đảo này một phần chìm dưới mặt nước, các khối đất đai không thích hợp cho sự cư trú và không kém pha6`n nguy hiểm cho sự chuyên chở bằng tàu.  Thí dụ, tổng số diện tích mặt đất của các đảo ở Spratly chưa gom đầy 3 dặm vuông. Vài nước giáp ranh với biển tuyên bố quyền sở hữu chủ các hòn đảo để tuyên nhận biển bao quanh và các nguồn tài nguyên của nó.  Vịnh Thái Lan giáp ranh với Biển Nam Trung Hoa, và mặc dù về mặt kỹ thuật không phải là một phần của biển này, cũng có các sự tranh chấp chung quanh Vịnh đó và các nguồn tài nguyên của nó. Sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của Á Châu nâng cao nhu cầu năng lượng trong vùng.  Cơ Quan Thông Tin Năng Lương Hoa Kỳ (U.S. Energy Information Administration: EIA) dự phóng tổng số tiêu thụ nhiên liệu lỏng tại các nước Á Châu bên ngoài Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế (Organization for Economic Cooperation and Development: OECD) vươn lên tỷ số tăng trưởng hàng năm là 2.6 phần trăm, gia tăng từ khoảng 20 phần trăm trong số tiêu thụ thế giới trong năm 2008 lên hơn 30 phần trăm số tiêu thụ của thế giới vào năm 2035.  Tương tự, số tiêu thụ khí đốt thiên nhiên của Á Châu ngoài khối OECD gia tăng 3.9 phần trăm hàng năm, từ 10 phần trăm số tiêu thụ khí đốt thế giới trong năm 2008 lên 19 phần trăm vào năm 2035.  Cơ Quan EIA ước định Trung Quốc chiếm 43 phần trăm số gia tăng đó. Với sản lượng dầu hỏa...

Read More
Vai trò quan trọng của tự do báo chí
Apr22

Vai trò quan trọng của tự do báo chí

Lucy P. Marcus, Project Syndicate Trần Văn Thắng dịch / Lê Hồng Hiệp hiệu đính, trích từ NCQT Theo Chỉ số Tự do Báo chí Thế giới năm 2015 (2015 World Press Freedom Index), tự do báo chí và báo chí độc lập, một thành phần chủ yếu của nền dân chủ trên toàn thế giới, đang suy giảm với một tốc độ đáng báo động. Tuy nhiên, sự minh bạch và cảnh giác mà một nền báo chí tự do và độc lập cung cấp là rất quan trọng không chỉ đối với nền dân chủ. Chúng còn là những thứ vũ khí mạnh mẽ chống lại các lực lượng từ tham nhũng tới các hoạt động kinh doanh xấu đang hủy hoại sự thịnh vượng kinh tế. Đơn giản là, nếu không có một nền báo chí chất lượng cao, việc xây dựng các nền kinh tế tốt hơn, mạnh hơn và vững chắc hơn là không thể. Mỗi ngày mang đến những ví dụ về các mối đe dọa, và trong một số trường hợp là các vụ tấn công, mà báo chí đang ngày càng phải đối mặt, hoặc từ các nhà lãnh đạo độc đoán hoặc là do các mô hình kinh doanh yếu kém. Dù theo cách nào, vào thời điểm chúng ta cần các điều tra báo chí nghiêm túc và phân tích thông minh về các xu hướng kinh tế và các hoạt động kinh doanh hơn bao giờ hết, thì năng lực cung cấp những điều như vậy lại đang nhanh chóng bị xói mòn. Một vấn đề là do quảng cáo trên báo in đang giảm tới vạch giới hạn, các công ty truyền thông ngày càng gặp khó khăn trong việc trợ cấp cho các nghiên cứu dài hạn mà việc đưa tin sâu thường đòi hỏi. Tuy nhiên, bằng việc nhận diện và làm nổi bật các vấn đề có thể ảnh hưởng tới các chương trình nghị sự và đời sống xã hội trong những năm tới, tác động của việc đưa tin như vậy có thể là rất lớn. Ví dụ như điều tra năm 2012 của Reuters, cuộc điều tra đòi hỏi nhiều tháng nghiên cứu tỉ mỉ mưu đồ trốn thuế của Starbuck. Nhà báo Tom Bergin đã phân tích các tài liệu phức tạp trong nhiều năm để phát hiện, vạch trần và giải thích chi tiết cách thức mà công ty này trốn thuế địa phương ở những quốc gia nơi nó hoạt động. Cuộc điều tra của ông đã châm ngòi cho một cơn bão tiếp tục gây chấn động...

Read More
Bốn trụ cột của nạn tham nhũng và cách chống tham nhũng
Apr21

Bốn trụ cột của nạn tham nhũng và cách chống tham nhũng

Hương Ly chuyển ngữ, CTV Phía Trước Adam Blackwell, Bộ trưởng An ninh Đa chiều, OAS, WEF Yếu tố lớn nhất trong việc nhận biết tính hợp pháp của các lãnh đạo, chính quyền và các tổ chức đoàn thể (dù là công khai, cá nhân hay phi lợi nhuận) có lẽ là niềm tin từ người dân dành cho họ. Tham nhũng, hay thậm chí chỉ là cách nhìn nhận về vấn đề tham nhũng, sẽ hủy hoại niềm tin này. Nó không chỉ ngấm ngầm hủy hoại chế độ dân chủ và các điều luật pháp đã ban hành mà còn đánh vào cả nền kinh tế cũng như cuộc sống của từng cá nhân, đồng thời việc này thúc đẩy các hành vi phạm pháp và nền kinh tế trái phép. Tham nhũng rất nghiêm trọng và phổ biến, nó gây ảnh hưởng tới người nghèo và với thế giới đang phát triển, chuyển hướng những nguồn kinh phí và đầu tư ra khỏi những khu vực và những người khốn khổ nhất. Do đó, tham nhũng ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định, an ninh và phát triển của xã hội và các quốc gia. Vì những lý do trên nên tham nhũng là chủ đề thảo luận tối quan trọng trên World Economic Forum on Latin America vừa diễn ra được tổ chức tại Mexico.  Đó là trọng tâm chính trong một phiên trao đổi, có tên là Expanding the Light, trong đó họ xem xét các ý kiến từ các khu vực công và tư để củng cố sự minh bạch ở các nước Mỹ Latin. Sự liên kết ngày càng bền vững của các nền kinh tế, các quốc gia và người dân có nghĩa rằng tham nhũng thật sự là một hiện tượng xuyên quốc gia và có liên quan tới các hoạt động phi pháp khác, như buôn bán ma túy và các hoạt động phạm tội có tổ chức. Một cách tiếp cận toàn diện và đa chiều nhằm liên kết các nước với nhau, các đoàn thể và các cá nhân cần phải thực hiện để phòng tránh và loại bỏ tham nhũng ở mọi cấp độ và mọi loại hình. Để chiến thắng tham nhũng, chúng ta cần phải tập trung vào cái mà tôi gọi là “4 trụ cột của nạn tham nhũng” và mối tương quan của chúng đối với nhau: Các tầng lớp quan tham Bộ máy quản lý bị thoái hóa Sự miễn tội đối với các tầng lớp quản lý Sự chịu đựng Trong bốn yếu tố này, yếu tố cuối –...

Read More
%d bloggers like this: