Trung Quốc đang tự hủy hoại mình bằng chiến lược biển
Sep02

Trung Quốc đang tự hủy hoại mình bằng chiến lược biển

Trường Sơn chuyển ngữ, CTV Phía Trước Masahiro Matsumura, Project-Syndicate OSAKA – Một lần nữa, yêu sách của Trung Quốc trong vấn đề lãnh thổ và xây dựng đảo nhân tạo ở Biển Đông lại chiếm ưu thế trong cuộc họp cấp cao của các nhà lãnh đạo châu Á, Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á ở Kuala Lumpur. Và, một lần nữa, Trung Quốc đã từ chối mọi nỗ lực nhằm đạt được một hiệp định đa phương có thể kết thúc bế tắc kéo dài và càng lúc càng nguy hiểm. Trớ trêu thay, chính lập trường này đang đe dọa lợi ích của Trung Quốc hơn hết thảy. Trung Quốc rõ ràng không đồng ý với mọi nỗ lực hòa giải, đó là lý do tại sao quốc gia này đang tăng gấp đôi những nỗ lực nhằm đảm bảo quyền bá chủ trên Biển Đông. Với mục tiêu thiết lập một thực tế không thể lay chuyển liên quan đến tuyên bố của họ trong khu vực, Trung Quốc gần đây ngày càng tiến xa hơn trong việc phối hợp nạo vét và cải tạo các công trình trên nhiều rạn san hô và bãi cát ngầm ở quần đảo Trường Sa vốn luôn bị tranh chấp. Nước này cũng đã triển khai lực lượng quân sự và bán quân sự bao gồm tàu và máy bay đến khu vực, và đang đe dọa tự do hàng hải – điều mà Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry kiên quyết phản đối trong Hội nghị Thượng đỉnh ở Kuala Lumpur. Sự phản đối của người Mỹ trước những động thái của Trung Quốc ở Biển Đông giờ không chỉ dừng lại ở lời nói nữa. Hoa Kỳ đã khẳng định rõ lập trường tiếp tục tuần tra quân sự, cả ở vùng biển lẫn vùng trời, trong những hải phận và không phận bị Trung Quốc chiếm đoạt. Hoa Kỳ cũng đang thảo luận về hợp tác quân sự ba bên với Nhật Bản và Australia, đặc biệt nhằm kiềm chế Trung Quốc. Và mặc dù Hoa Kỳ không hỗ trợ Philippines một cách trực tiếp trên bình diện pháp luật, khi Philippines đem vụ kiện đến Liên Hiệp Quốc và khẳng định rằng tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc là bất hợp pháp theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, Philippines rõ ràng đã nhận được sự ủng hộ ngầm từ hầu hết các đồng minh trong lần khiếu kiện này. Tất nhiên, mục tiêu giữ cho các tuyến đường biển trong khu vực luôn rộng mở và hòa bình chính là...

Read More
Trung Quốc phải làm gì?
Sep01

Trung Quốc phải làm gì?

TS Đỗ Kim Thêm dịch, CTV Phía Trước Michael J. Boskin, Project-Syndicate Các nỗ lực táo bạo của chính phủ Trung Quốc nhằm ngăn chận các biến động gần đây trong thị trường chứng khoán – mà động thái mới nhất là cấm bán non cổ phiếu và cấm các đại gia cổ phiếu bán – đã tác hại nghiêm trọng đến uy tín Trung Quốc. Nhưng thất bại trong chính sách của Trung Quốc tất phải đến và không có gì là bất ngờ. Giới hoạch định chính sách Trung Quốc không phải là giới đầu tiên có quản lý sai lầm trong thị trường tài chính, tiền tệ và thương mại. Ví dụ là chính phủ nhiều nước châu Âu cũng bị tổn thất nặng nề trong việc bảo vệ tiền tệ thất thoát trong những năm của thập niên 1990. Tuy nhiên, nền kinh tế Trung Quốc vẫn là một nguồn bất trắc quan trọng. Thật vậy, mặc dù thành quả của thị trường chứng khoán Trung Quốc và thành quả các nền kinh tế thực đã không quan hệ nhau mật thiết, một tình trạng suy vi trầm trọng đang xãy ra. Đối với các bộ tài chính, các ngân hàng trung ương, các trung tâm mậu dịch, các nhà nhập và xuất khẩu trên toàn thế giới, đó là một mối quan tâm nghiêm trọng. Chính phủ Trung Quốc tin rằng có thể huy động việc hạ cánh nhẹ nhàng trong quá trình chuyển đổi từ tình trạng kinh tế nóng bỏng với tỷ lệ tăng trưởng hai con số, được thúc đẩy do xuất khẩu và đầu tư, đến một tình trạng tăng trưởng cân bằng ổn định và được củng cố bởi mức tiêu thụ nội địa, đặc biệt là các dịch vụ nội địa. Và trên thực tế, chính phủ đã ban hành một số chính sách và cải cách bén nhạy. Nhưng sự tăng trưởng nhanh chóng che khuất nhiều vấn đề. Ví dụ như trong lúc tìm kiếm để bảo đảm thăng tiến bằng cách đạt được các mục tiêu kinh tế ngắn hạn, các quan chức đã phân bổ sai lạc các nguồn lực; các ngành công nghiệp cơ bản như thép và xi măng xây dựng dư thừa quá mức công suất; và các khoản nợ xấu tích lũy trên bảng cân đối của các ngân hàng và chính quyền địa phương. Không nơi nào khác mà những vấn đề với các sách lược này thể hiện rõ ràng hơn là trong các nỗ lực lập kế hoạch đô thị hóa, nó kéo theo việc xây dựng...

Read More
Phát triển bền vững và quản lý hợp cách
Aug29

Phát triển bền vững và quản lý hợp cách

Trường Sơn chuyển ngữ, CTV Phía Trước Theo Urban Governance Phát triển chủ yếu là trách nhiệm của từng quốc gia Trách nhiệm phát triển bền vững ở tầm quốc gia – trong đó, hệ thống phức tạp của những yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa và sinh thái phải liên kết với nhau bằng một tập hợp những điều kiện đặc thù – phải là mục tiêu hàng đầu và quan trọng nhất với các nước có liên quan đến vấn đề này. Bất kỳ tiến trình nào nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân phải bắt đầu và được duy trì “ngay trong gia đình”. Tất nhiên, một môi trường kinh tế thuận lợi với những điều kiện công bằng cho cạnh tranh và thương mại sẽ giúp những nỗ lực của mỗi quốc gia nhằm đạt được mục tiêu như vậy diễn ra dễ dàng hơn, nhưng những kẻ “ngoài cuộc” cũng chỉ có thể hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển bền vững – họ không thể thay thế được những nỗ lực nội tại của một đất nước. Cơ cấu kinh tế, xã hội và chính trị của từng quốc gia có tầm quan trọng quyết định đối với khả năng tự lực phát triển thành công. Trên hết, đó là hệ thống phụ thuộc vào bản chất của chính sách phát triển mà mỗi quốc gia đã lựa chọn cũng như phụ thuộc vào phẩm cách của chính phủ và các cơ quan chức năng. Đóng góp tích cực cho sự phát triển Trong hơn ba mươi năm qua, nhiều nước đang phát triển với những đặc trưng có thể so sánh trong tài nguyên tự nhiên (lãnh thổ, nguồn nước, đất canh tác, khoáng sản, khí hậu,…) và cấu trúc xã hội đã thể hiện những khác biệt đáng kể về tiến bộ kinh tế, xã hội. Với những tiêu chí là tỷ xuất sinh thô, tuổi thọ và học vấn của dân số – những chỉ số quan trọng cho thấy chất lượng cuộc sống của người dân – một số quốc gia đã đạt được tiến bộ nổi bật đáng kể so với những quốc gia ngang hàng khác, mặc dù tất cả đều là một phần trong môi trường kinh tế thế giới và đều cùng trải qua quá khứ làm thuộc địa. Điều này cho thấy gánh nặng lịch sử, những bất lợi từ điều kiện kinh tế toàn cầu như việc giảm giá nguyên vật liệu hoặc những yếu tố bên ngoài khác, dù vẫn quan trọng, vẫn không...

Read More
Liệu một liên minh Mỹ – Việt có khả thi?
Aug27

Liệu một liên minh Mỹ – Việt có khả thi?

Trường Sơn chuyển ngữ, CTV Phía Trước Helen Clark, The National Interest Hoa Kỳ và Việt Nam vừa ký Tuyên bố Tầm nhìn chung nhưng đừng trông chờ hai nước này thành lập liên minh chống Trung Quốc. Chuyện về một liên minh Mỹ–Việt xét cho cùng tuy không khả thi, nhưng vẫn đóng vai trò nhất định để lý giải quan hệ tay ba giữa Hoa Kỳ–Việt Nam–Trung Quốc. Cuộc Đối thoại Shangri-La diễn ra cuối tháng Năm ở Singapore chỉ tập trung vào một chủ đề: tình hình căng thẳng ở Biển Đông và những động thái của Trung Quốc ở khu vực này. Bởi vì chính phủ Hoa Kỳ ngày càng quan tâm đến những diễn biến này và Trung Quốc thì luôn hành động theo cách không chỉ dừng lại ở việc khiến các nước láng giềng và những nước xung quanh vụ kiện quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa lo ngại, mà vấn đề này đã xuất hiện trên trang nhất của nhiều tờ báo trên thế giới. Việc này càng tạo thêm chất xúc tác cho tình hữu nghị ngày càng tăng giữa Washington và Hà Nội. Những truy vấn về hình thái của mối quan hệ khả dĩ giữa chính phủ Hoa Kỳ và Việt Nam cũng ngày càng gây được nhiều sự chú ý, bởi vì đó thực sự là câu chuyện hấp dẫn về viễn cảnh những kẻ “cựu thù” (khái niệm luôn cần phải nhắc đến khi bàn về Việt Nam và Hoa Kỳ) giờ xích lại gần nhau hơn. Cá nhân tôi chỉ thấy kinh ngạc chút thôi, vì tôi đã từng thấy chiều hướng như vậy xuất hiện theo cách này hay cách khác từ năm 2006, khi tôi vừa đến Hà Nội, ngay trước Hội nghị APEC, và chỉ vài tháng sau đó là Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giớI (WTO). Mối liên hệ ngày càng khởi sắc với chính phủ Hoa Kỳ, cùng những tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc diễn ra sau đó, luôn là đề tài béo bở của bất kỳ nhà báo nước ngoài nào tại đây. Những khi tuyến cáp quang Internet dưới lòng biển bị đứt hoặc ngư dân Việt Nam bị đe dọa ngay trên ngư trường của họ thì thường sẽ có một nhóm biểu tình tuy nhỏ nhưng rất tận tâm tuần hành xung quanh Hồ Hoàn Kiếm vào một buổi sáng Chủ nhật, tất nhiên lực lượng công an Hà Nội luôn theo dõi họ. Những sự kiện gay gấn như vậy diễn ra...

Read More
Cách mạng Tư bản Chủ nghĩa của Hà Nội
Aug26

Cách mạng Tư bản Chủ nghĩa của Hà Nội

Huỳnh Phan dịch Michael J. Totten, City Journal Hè 2015 Thị trường tự do, doanh nghiệp tư nhân, trung tâm mua sắm và tầng lớp trung lưu – không phải là những gì ông Hồ Chí Minh đã có trong đầu. Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975, Hà Nội, thủ đô của nước Việt Nam cộng sản giờ đây đã thống nhất, là một cảnh vật bị tàn phá bởi mưa bom. Cư dân sống dưới một triều đại bình đẳng về khủng bố. Những người theo giáo điều khắc nghiệt đang điều hành đất nước cấm công dân kết giao với người nước ngoài hoặc thậm chí nói chuyện với vài khách ngoại quốc. Mọi người xếp hàng rồng rắn tại các cửa hàng với kệ trống rỗng để đổi tem phiếu nhu yếu phẩm lấy vài nắm gạo ít ỏi. Trên đường phố thỉnh thoảng mới có xe đạp là loại xe duy nhất chạy qua. Tuy nhiên, kể từ đó, Hà Nội đã tự thay đổi nhanh hơn hầu hết thành phố nào khác trên thế giới. Hiện nay, thành phố này là ngọn núi lửa TBCN nổ bùng, và Việt Nam đang trên con đường nhanh chóng trở thành một cường quốc kinh tế và quân sự đáng gờm. Christopher Hitchens đã từng nói, diễn giải câu của John Maynard Keynes: “Nhiều cuộc cách mạng được bắt đầu từ những người bảo thủ, bởi đây là những người đã cố làm cho hệ thống hiện có chạy đuợc và họ biết vì sao nó không chạy đuợc. Đó là một cái nhìn thấu sâu vào cốt lõi. Nó thường được biết theo cách nói của Marx như là cuộc cách mạng từ bên trên”. Đó đích xác là những gì đã xảy ra ở Việt Nam, mặc dù những người cách mạng này không phải là đảng viên đảng bảo thủ. Họ là đảng viên cộng sản. Thế kỷ XX là thế kỷ đầy khó khăn đối với Hà Nội. Người Pháp xâm lược và biến nó thành thủ đô của Đông Dương thuộc địa Pháp vào năm 1887. Đế quốc Nhật chiếm thành phố năm 1940 và sát nhập Việt Nam vào Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á phát xít. Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam là nhà nước độc lập sau Thế chiến II, và lực lượng Việt Minh của ông kiểm soát một vài vùng lãnh thổ, nhưng người Pháp trở lại nắm quyền vào năm 1946 và ở lại cho đến khi quân đội cộng sản của HCM buộc họ ra đi vào năm 1954. Hà...

Read More
Biển Đông: Sức ép của Bắc Kinh và phản ứng của Manila
Aug21

Biển Đông: Sức ép của Bắc Kinh và phản ứng của Manila

Việt Khôi lược dịch, CTV Phía Trước Theo CSMonitor Philippines vừa tuyên bố sẽ gia tăng 25% quân lực nhằm đối phó với các dự án tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên khu vực Biển Đông. Manila cho hay các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc là không hợp pháp và chắc chắn sẽ có phiên toà quốc tế tại La Hay. Dự án cải tạo các rặng san hô trên Biển Đông đã làm cho các quốc gia có liên quan phải đứng ngồi không yên, trong đó có Philippines. Quốc gia này đã tìm kiếm sự hậu thuẫn từ phía Hoa Kỳ cũng như đệ đơn kiện Trung Quốc ra toà án quốc tế. Tuy nhiên, Trung Quốc đã từ chối tham gia mọi phiên toà. Đúng là Toà án quốc tế La Hay không có lực lượng hành pháp và Bắc Kinh cũng chưa hề đưa ra một tín hiệu nào về việc tôn trọng toà án quốc tế. Nhưng các phiên toà xét xử có thể cung cấp cho Philippines những lý lẽ bổ sung trong các hoạt động đàm phán sau này, Jay L.Batongbacal, giám đốc học viện Hàng hải và Luật biển tại Đại học Philippines, cho hay. Kết luận cuối cùng của toà án quốc tế sẽ được đưa ra vào mùa thu năm nay. Ngoài việc đệ đơn kiện lên toà án quốc tế, Philippines còn tăng cường quân đội và sẵn sàng mở căn cứ hải quân cũ của Hoa Kỳ tại Cảng Subic, nơi nước này sẽ cho đậu các máy bay chiến đấu mới mua từ Hàn Quốc. Một con mẫu hạm cũ rích từ Thế chiến thứ II cũng đang được sửa hiện đang neo đậu tại quần đảo Trường Sa, với vai trò bảo vệ điểm xa nhất về phía Tây của nước Philippines. Quân đội của Philippines không lớn so với quân đội  Trung Quốc, nhưng với Hiệp định An ninh song phương ký với Hoa Kỳ hàng thập kỷ qua, Hoa Kỳ có trách nhiệm hỗ trợ thuộc địa cũ nếu như Philippines bị tấn công. Vậy nhưng tính tới nay việc Washington có hành động hay không vẫn còn chưa rõ. © 2007-2015 Bản tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC – www.phiatruoc.info Share on Facebook Scridb filterLike this:Like...

Read More
Nhóm Bảy cường quốc G7 (Phần cuối)
Aug20

Nhóm Bảy cường quốc G7 (Phần cuối)

Trường Sơn chuyển ngữ, CTV Phía Trước Zachary Laub & James McBride, CFR Tổng quan về nhóm G7 Nhóm Bảy cường quốc (G7) là một liên minh không chính thức các cường quốc theo thể chế dân chủ với nền công nghiệp tiên tiến – bao gồm Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, và Vương quốc Anh – họp mặt hàng năm để thảo luận các chủ đề như quản trị kinh tế toàn cầu, tình hình an ninh thế giới và chính sách năng lượng. Luồng dư luận ủng hộ cho rằng lượng thành viên nhỏ gọn và tương đối đồng nhất về quan điểm của nhóm G7 sẽ đẩy nhanh tiến trình ra quyết định tập thể, nhưng có những người chỉ trích lưu ý rằng nhóm này thường thiếu sự tương tác và chưa xét đến các cường quốc quan trọng mới nổi. Nga từng là thành viên chính thức của tổ chức này từ năm 1998 đến năm 2014 – như vậy khi ấy tạo thành Nhóm Tám cường quốc (G8) – nhưng nước này giờ đã bị đình chỉ tư cách thành viên sau biến cố chính quyền Moscow thôn tính Crimea vào tháng Ba năm 2014. Hiện giờ, khi những căng thẳng ở Ukraine diễn biến ngày càng phức tạp, khi dư luận ngày càng bi quan về tương lai kinh tế của khu vực sử dụng đồng Euro, và tổ chức G20[1] với quy mô lớn mạnh hơn có thể hoạt động như một diễn đàn thay thế, tương lai của nhóm G7 đang rất bất định. Xem thêm Phần I Nỗ lực tái thiết G7 Đối với nhiều nhà quan sát, khủng hoảng ở Ukraine đã tái khẳng định vị trí của nước Nga như một kẻ “ngoài cuộc” đối với nhóm G7. Ông James Goldgeier, trưởng Khoa Dịch vụ Quốc tế của Đại học Hoa Kỳ khẳng định: “Tổ chức G8 vốn chẳng có nghĩa gì cả”. Ông cũng cho rằng những mục tiêu chính trị ông Clinton theo đuổi khi góp sức kiến tạo mối quan hệ giữa Nga và phương Tây đều không thực tế, và những diễn đàn khác, trong đó có Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, vốn có thể làm cầu nối giữa phương Tây và Nga vẫn luôn hiện diện ngay từ đầu. Giới chuyên gia cho rằng, một nhóm G7 được tái thiết có khả năng ở trong trạng thái cân bằng, ổn định hơn để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tập thể. Ông Stewart Patrick khẳng định, nếu không có Nga, nhóm sẽ “thống nhất về...

Read More
Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry bàn về mối quan hệ Việt-Mỹ và thực trạng nhân quyền ở Việt Nam
Aug19

Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry bàn về mối quan hệ Việt-Mỹ và thực trạng nhân quyền ở Việt Nam

Trường Sơn chuyển ngữ, CTV Phía Trước Michael R. Gordon, The New York Times Ông Kerry khẳng định rằng quan hệ Việt–Mỹ sẽ bền chặt và tiến xa hơn nếu vấn đề nhân quyền được giải quyết thỏa đáng Thứ Sáu tuần rồi (ngày 07 tháng Tám, 2015), Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry tuyên bố trước giới quan chức và lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam rằng nỗ lực cải thiện tình trạng nhân quyền ở Việt Nam sẽ dẫn đến mối quan hệ Việt–Mỹ bền chặt hơn. “Những tiến bộ về nhân quyền và pháp quyền sẽ tạo nền tảng cho một chiến lược và quan hệ đối tác chiến lược sâu sắc và bền vững hơn giữa Hoa Kỳ và Việt Nam”, ông Kerry đã khẳng định như vậy trong bài phát biểu kỷ niệm 20 năm khôi phục quan hệ ngoại giao giữa hai nước vốn từng là kẻ thù trong thời chiến tranh. Ông cũng tuyên bố thêm rằng: “Chỉ có các bạn mới quyết định được tốc độ và định hướng của tiến trình xây dựng quan hệ đối tác này, nhưng tôi chắc chắn các bạn đã nhận thấy rằng những nước thiết lập được quan hệ ngoại giao vững chắn nhất với Hoa Kỳ đều chia sẻ những cam kết chung về những các giá trị nhân quyền”. Tối ngày 06 tháng Tám vừa qua, ông Kerry đã tới thủ đô Việt Nam để thảo luận một số vấn đề liên quan đến thương mại và an ninh. Đó cũng là điểm dừng chân cuối cùng trong chuyến công du của ông qua năm các quốc gia ở vùng Trung Đông và châu Á. Cả Hoa Kỳ và Việt Nam đều đang lo ngại về xu thế gia tăng sức mạnh quân sự, cũng như những động thái tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông của Trung Quốc. Năm ngoái, chính quyền của Tổng thống Obama đã dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí lâu năm đối với Việt Nam để có thể cung cấp vũ khí gây sát thương cho lực lượng Cảnh sát Biển Việt Nam. Quan hệ kinh tế giữa hai nước cũng đang phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Việt Nam là một trong các quốc gia đang tham gia tiến trình đàm phán Hiệp định Thương mại Thái Bình Dương (Trans-Pacific Patnership – TPP) mà Tổng thống Obama đang xúc tiến. Quan hệ thương mại giữa hai nước đã tăng vọt từ mức 451 triệu USD ở hai thập kỷ trước lên đến hơn 36 tỷ USD hồi năm ngoái. Sau...

Read More
%d bloggers like this: