Đừng biến những nhà tư tưởng lớn thành thánh nhân
Sep27

Đừng biến những nhà tư tưởng lớn thành thánh nhân

Phạm Nguyên Trường dịch Robert Higgs, FEE Thỉnh thoảng, khi tôi phê bình một ý kiến nào đó của nhà một nhà trí thức vĩ đại, như Ludwig von Mises, thì người ta liền phản ứng trên phương tiện truyền thông xã hội bằng cách viết bình luận viết ngắn như: “Mises> Higgs”. Thật là ngớ ngẩn. Tôi có là trí thức ngang hàng với Mises không? Tất nhiên là không. Tôi sẽ là một thằng ngốc nếu nghĩ như thế. Tuy nhiên, sự kém cỏi về mặt trí tuệ của tôi không có nghĩa là khi tôi không đồng ý với Misies về một vấn đề cụ thể nào đó, thì bao giờ tôi cũng sai. Tôi có là người trí thức ngang hàng với Einstein không? Câu hỏi thật là lố bịch. Tuy nhiên, về những vấn đề cụ thể nhất định, khi Einstein và tôi có ý kiến khác nhau, ông rõ ràng là người đã sai. Tôi có thể giải thích, tôi tin khá chắc chắn như thế, vì sao chủ nghĩa xã hội là chế độ xã hội không thể nào đạt được những mục tiêu mà những người xã hội chủ nghĩa đầy thiện ý như Einstein tin là sẽ đạt được. Đơn giản là Einstein không biết nhiều về kinh tế học, dù ông có là nhà vật lý học vĩ đại đến mức nào. Bất cứ người nào cũng có thể có sự khác biệt tương tự như thế. Chắc chắn là có hàng triệu người – có thể là hàng trăm triệu – nói chung, là giỏi hơn tôi về mặt trí tuệ. Nhưng, như thế không có nghĩa là khi tôi có ý kiến khác với một trong những người đó, thì tôi là người sai. Viện dẫn uy quyền là ngụy biện, chắc chắn là thế, nhưng khi người ta xem xét một vấn đề mà người có uy quyền – do những đóng góp về trí tuệ của họ – đã đặt niềm của của mình vào, thì viện dẫn là hầu như không thể tránh khỏi trong một số cuộc thảo luận – những người nghiệp dư ít có cơ hội trở lại bàn vẽ, trên đó, những người có uy tín đã trình bày luận cứ và trưng ra bằng chứng. Nhưng khi những người có uy quyền nói về những vấn đề nằm ngoài kiến thức chuyên môn thật sự của họ, thì họ cũng thường nói ngu như ai và người nghe phải luôn luôn nhớ trong đầu như thế. Tôi nhớ rằng sau khi George Stigler (1911-1991, Nobel kinh tế năm 1982...

Read More
Dân chủ tự do xuất hiện trong điều kiện nào?
Sep13

Dân chủ tự do xuất hiện trong điều kiện nào?

Nguyễn Thị Kim Phụng biên dịch| Nguyễn Huy Hoàng hiệu đính Dani Rodrik & Sharun Mukand, Project Syndicate Gần hai thập niên trước, nhà bình luận chính trị Fareed Zakaria đã viết một bài báo mang tính tiên tri có nhan đề “Sự trỗi dậy của nền Dân chủ Phi tự do”, trong đó, ông lo lắng về sự nổi lên của những kẻ chuyên quyền được lòng dân nhưng ít quan tâm đến pháp quyền và các quyền tự do dân sự. Các chính phủ có thể được bầu lên một cách tự do và công bằng, ông viết, nhưng vẫn thường xuyên vi phạm các quyền cơ bản của công dân họ. Kể từ khi bài báo của Zakaria ra đời, các nền dân chủ phi tự do đã trở nên bình thường hơn chứ không còn là ngoại lệ. Theo báo cáo của tổ chức Ngôi nhà Tự do (Freedom House), hơn 60% các quốc gia trên thế giới có nền dân chủ bầu cử – chế độ mà trong đó các đảng chính trị cạnh tranh và lên nắm quyền thông qua các cuộc bầu cử thường xuyên được lịch trình sẵn – tăng từ khoảng 40% vào cuối những năm 1980. Nhưng đa số các nền dân chủ này đều không đảm bảo được sự bảo vệ bình đẳng trước pháp luật. Thông thường, các nhóm thiểu số (về dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, hoặc vùng miền) sẽ phải chịu đựng gánh nặng của các chính sách và hành động phi tự do. Nhưng các nhóm phản đối chính quyền thuộc phe chính trị nào cũng đều có nguy cơ bị kiểm duyệt, bắt bớ, hay bỏ tù sai trái. Dân chủ tự do dựa trên ba nhóm quyền riêng biệt là quyền sở hữu, quyền chính trị, và quyền dân sự. Nhóm quyền đầu tiên bảo vệ các chủ sở hữu và các nhà đầu tư khỏi bị tước đoạt tài sản. Nhóm quyền thứ hai đảm bảo các nhóm giành chiến thắng trong bầu cử có thể nắm quyền và lựa chọn chính sách theo ý muốn của mình – với điều kiện những chính sách này không vi phạm hai nhóm quyền còn lại. Cuối cùng, các quyền dân sự đảm bảo sự đối xử bình đẳng trước pháp luật và bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ công như giáo dục. Cả quyền sở hữu và quyền chính trị đều có đối tượng thụ hưởng là những người có quyền lực. Nhóm quyền sở hữu là mối quan tâm chủ yếu của giới tinh hoa – các...

Read More
Tôn giáo nào phát triển nhanh nhất thế giới?
Sep12

Tôn giáo nào phát triển nhanh nhất thế giới?

CTV Phía Trước chuyển ngữ Adam Shirley, WEF Hồi giáo đang phát triển nhanh hơn so với bất kỳ tôn giáo nào khác, theo một nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Pew. Trên thực tế, hầu hết các nhóm tôn giáo lớn trên thế giới dự kiến sẽ gia tăng số lượng tuyệt đối vào năm 2050. Nghiên cứu chỉ ra rằng, Hồi giáo sẽ vượt qua Kitô giáo và trở thành tôn giáo lớn nhất của thế giới vào năm 2070. Những người không theo bất kỳ tôn giáo nào, chẳng hạn như những người vô thần hay những người tin rằng không ai có thể thấu hiểu được sự tồn tại hay bản chất của Thượng Đế, sẽ giảm tỉ lệ trên tổng dân số của thế giới vào năm 2050, mặc dù số lượng nhóm người này đang gia tăng tại một số quốc gia thế tục hơn so với các nước khác như Pháp và Hoa Kỳ. Sự gia tăng số người theo đạo ở các tôn giáo lớn là nhờ vào một phần lớn tỷ lệ sinh và quy mô dân số trẻ ở các quốc gia ít thế tục. Năm 2050, Kitô giáo vẫn sẽ là nhóm tôn giáo lớn nhất thế giới, với khoảng một phần ba dân số thế giới trung thành với các nhánh khác nhau của tôn giáo này. Hồi giáo vẫn đang đuổi theo khá nhanh, mặc dù các tín đồ Hồi giáo là nhóm tôn giáo lớn duy nhất dự kiến sẽ tăng nhanh hơn so với dân số thế giới theo một tổng thể. Một trong những yếu tố chính thúc đẩy sự tăng trưởng trong tương lai của các tôn giáo là vùng địa lý mà các nhóm tôn giáo đang tập trung ở đó. Các tôn giáo có nhiều tín đồ ở các nước đang phát triển – nơi có tỷ lệ sinh cao, và tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh nhìn chung đang giảm – dường như sẽ gia tăng nhanh chóng. Như vậy, phần lớn sự gia tăng trên toàn thế giới của Hồi giáo và Kitô giáo sẽ diễn ra tại các khu vực trong châu Phi, xung quanh Sahara, nơi có dân số dự kiến sẽ tăng 12% vào năm 2050. Ngược lại, số người trên thế giới không theo tôn giáo nào tập trung nhiều ở những nơi có mức sinh thấp và dân số già, chẳng hạn như Bắc Mỹ, châu Âu, Trung Quốc và Nhật Bản. Tỷ lệ sinh thấp ở Trung Quốc và Nhật Bản là nguyên nhân dẫn đến việc giảm tỉ...

Read More
Dân chủ là gì?
Aug22

Dân chủ là gì?

Nguyễn Huy Hoàng biên dịch Robert A. Dahl, On Democracy (New Haven, CT: Yale University Press, 1998), pp. 35–8. Tất cả chúng ta đều có những mục tiêu mà chúng ta không thể tự mình đạt được. Nhưng chúng ta có thể đạt được một số mục tiêu trong số đó bằng cách hợp tác với những người khác cùng chia sẻ những mục tiêu tương tự. Giả sử, khi đó, để đạt được một số mục tiêu chung nhất định, bạn và vài trăm người khác đồng ý thành lập một hiệp hội. Chúng ta có thể bỏ qua một bên những mục tiêu cụ thể của hiệp hội này để tập trung chính xác vào câu hỏi nhan đề của chương sách này: Dân chủ là gì? Chúng ta tiếp tục giả sử, trong cuộc họp đầu tiên, một số thành viên cho rằng hiệp hội của bạn cần một bản hiến pháp. Quan điểm của họ được ưu ái đón nhận. Do mọi người nghĩ bạn có một số kỹ năng về những vấn đề như vậy, một thành viên đề xuất mời bạn soạn thảo một bản hiến pháp, rồi bạn sẽ mang nó đến một cuộc họp sau này để các thành viên xem xét. Đề xuất này được tán đồng thông qua. Trong lúc chấp nhận nhiệm vụ này bạn nói đại loại như sau: “Tôi tin mình hiểu những mục tiêu mà chúng ta chia sẻ, nhưng tôi không chắc chúng ta nên đưa ra những quyết định của mình như thế nào. Ví dụ, chúng ta có muốn có một bản hiến pháp sẽ giao thẩm quyền đưa ra mọi quyết định quan trọng của chúng ta cho những người hiểu biết nhất và có khả năng nhất trong chúng ta hay không? Cách dàn xếp này không chỉ có thể đảm bảo những quyết định khôn ngoan hơn mà còn có thể tiết kiệm thời gian và sức lực của những người còn lại.” Các thành viên bác bỏ một cách áp đảo một giải pháp như vậy. Một thành viên lập luận: “Về những vấn đề quan trọng nhất mà hiệp hội này sẽ phải giải quyết, không ai trong số chúng ta khôn ngoan hơn nhiều so với người khác đến mức quan điểm của anh ta có thể tự động thắng thế. Ngay cả khi một số thành viên có thể hiểu biết nhiều hơn về một vấn đề ở bất cứ thời điểm nào, chúng ta cũng đều có khả năng học những gì mình cần biết. Dĩ nhiên, chúng ta sẽ cần bàn luận và suy...

Read More
Mượn tiểu thuyết “Hồ Quý Ly” để lạm bàn về thất bại mang tính hệ thống
Aug12

Mượn tiểu thuyết “Hồ Quý Ly” để lạm bàn về thất bại mang tính hệ thống

Nguyễn Phương Mạnh Trích từ Book Hunter Giới thiệu về tiểu thuyết “Hồ Quý Ly” Tiểu thuyết lịch sử “Hồ Quý Ly” của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh làm sống lại thời kì nhà Trần suy tàn – một thời kì sóng gió, đầy bi thương của dân tộc Việt Nam. Cuốn sách có nhiều điểm đặc sắc như hình ảnh danh lam thắng cảnh Đại Việt, chân dung trai tài gái sắc của đất nước, chất thơ trong ngôn từ…. Trong những điểm trên, một điểm đã đưa tiểu thuyết “Hồ Quý Ly” vượt ra khỏi lối viết “cuộc chiến giữa người tốt – kẻ xấu” thông thường và vươn lên trở thành tác phẩm truyện lịch sử xuất sắc là sự thất bại mang tính hệ thống của vương triều Trần. Định nghĩa thất bại mang tính hệ thống Để hiểu được vì sao sự thất bại của triều Trần trong tiểu thuyết “Hồ Quý Ly” lại là sự thất bại mang tính hệ thống, trước hết chúng ta phải hiểu được thất bại mang tính hệ thống (systemic failure) là gì. Thất bại là biểu hiện không quá hiếm gặp ở các thiết bị, cơ quan xung quanh ta, ví dụ như máy tính bị treo, điện thoại bị hỏng, dạ dày bị đau, mô bên trong mũi tiết dịch gây sổ mũi… Chúng ta thường không coi đây là thất bại mang tính hệ thống, mà chỉ là thất bại của một đơn vị. Thất bại mang tính hệ thống là một dạng thất bại đặc biệt: từng phần tử của một hệ thống vẫn hoạt động như theo thiết kế hoặc như theo kiểu mẫu trong quá khứ, nhưng sự tương tác giữa chúng lại khiến cho toàn bộ hệ thống thất bại. Dạng thất bại này hiếm gặp hơn, khó khắc phục hơn, và khi xảy ra lại tạo nên hậu quả khó lường hơn. Thất bại mang tính hệ thống được thấy trong tiểu thuyết “Hồ Quý Ly” thuộc dạng thất bại do tích tụ áp lực ngầm lên hệ thống trong thời gian dài, làm yếu đi các mắt xích, tha hóa các phần tử, làm căng thẳng các mối liên kết. Khi áp lực ngầm được tích tụ đủ, chỉ cần một biến cố nhỏ cũng làm nên ảnh hưởng lớn, chấn động các quá trình diễn ra trong hệ thống đó, từ đó tạo nên thất bại mang tính hệ thống. Chi tiết về quá trình thất bại này có thể xem ở phần phụ lục. Vì sao câu chuyện được đề cập trong tiểu thuyết “Hồ Quý Ly”...

Read More
Các nước nghèo có thể dân chủ không?
Jul25

Các nước nghèo có thể dân chủ không?

Nguyễn Huy Hoàng dịch Gary S. Becker, The Becker-Posner Blog, May. 3, 2011 “Các nước nghèo không thể dân chủ” là một điệp khúc phổ biến để cổ xúy cho quan điểm rằng các nước nghèo cần một nền lãnh đạo mạnh và chuyên chế để thoát khỏi những lực lượng khiến họ nghèo đói trong hàng thế kỷ. Minh chứng rõ ràng là đại đa số các nước giàu chủ yếu là dân chủ. Tuy nhiên, trong khi những tác động của dân chủ đối với hiệu quả kinh tế đang gây nhiều tranh cãi, nền dân chủ vẫn có thể mang lại một số lợi ích kinh tế cho cả các nước giàu và nghèo. Không nên so sánh những tác động thực tế của dân chủ đối với kinh tế và các khía cạnh khác của cuộc sống với một hình thức chính thể lý tưởng, mà nên so với nhiều chính phủ khác không có tự do báo chí, không cho phép cạnh tranh công khai cho các vị trí lãnh đạo, không có phổ thông đầu phiếu, thiếu những thiết chế và các quyền tự do khác – những đặc điểm của nền dân chủ. Như phát biểu nổi tiếng của Winston Churchill, “Không ai cho rằng dân chủ là hoàn hảo hay toàn thiện. Thực ra, dân chủ là hình thức chính thể tồi tệ nhất nếu không tính đến các chính thể khác từng tồn tại.” Câu nói này được đưa ra trong một bài phát biểu ở Viện Thứ dân ngày 11 tháng 11 năm 1947, khoảng 2 năm sau khi Churchill thất bại trong cuộc bầu cử sớm hậu Thế chiến II. Nhiều nghiên cứu đã cố gắng cô lập những tác động của dân chủ so với các hệ thống chính phủ chuyên chế đối với phát triển kinh tế, bất bình đẳng, giáo dục, và nhiều yếu tố khác. Bởi phân biệt những tác động của dân chủ với tác động của các yếu tố khác là rất khó, những nghiên cứu này không thu được kết quả cuối cùng. Tuy nhiên, xu hướng chung là khi cân nhắc các yếu tố phù hợp khác, giữa tốc độ tăng trưởng GDP trung bình trong dài hạn và việc quốc gia đó có dân chủ hay không dường như chỉ tồn tại một mối quan hệ lỏng lẻo. Dân chủ khuyến khích đầu tư hơn nữa cho giáo dục, và giáo dục sẽ giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh hơn. Cho dù một số nhà lãnh đạo chuyên chế đã cải thiện đáng kể nền kinh tế của họ, đó không phải là quy...

Read More
Chủ nghĩa Tự Do Mới – nguồn gốc của mọi vấn đề chúng ta đang đối mặt (I)
Jun11

Chủ nghĩa Tự Do Mới – nguồn gốc của mọi vấn đề chúng ta đang đối mặt (I)

CTV Phía Trước chuyển ngữ George Monbiot, The Guardian Tài chính suy thoái, thảm họa môi trường và thậm chí là sự lên ngôi của Donald Trump – là do Chủ nghĩa Tự do Mới góp phần tạo nên tất cả những điều đó. Tại sao cánh tả lại không thể đưa ra sự thay thế khả dĩ nào khác cho Chủ nghĩa Tự do Mới (hay còn gọi là Chủ nghĩa Tân Tự do)? Hệ tư tưởng nào chi phối cuộc sống của chúng ta? Với người Nga có lẽ họ sẽ trả lời là chủ nghĩa cộng sản. Nhưng với phần lớn những người khác thì họ sẽ không thể đưa ra câu trả lời. Không tin bạn hãy thử hỏi xem, có lẽ bạn sẽ nhận được cái nhún vai lắc đầu. Thậm chí là nếu họ đã từng nghe đến thuật ngữ đấy đi chăng nữa thì chắc cũng rất khó khăn để đưa ra định nghĩa nó là gì. Đó chính là “Chủ nghĩa Tự Do Mới”, bạn có biết nó là gì không? Biểu hiện và nguồn gốc sức mạnh của Chủ nghĩa Tự Do Mới luôn mai danh ẩn tích, dù nó đóng vai trò quan trọng trong những các cuộc khủng hoảng nghiêm trọng khác nhau như: cuộc suy thoái tài chính năm 2007-2008, chuyển dịch nguồn lực và của cải ra nước ngoài mà vụ bê bối Panama chỉ là phần nổi của tảng băng; sự thoái hóa dần về giáo dục và chăm sóc sức khỏe cộng đồng; sự gia tăng trẻ em cơ nhỡ, sự bùng nổ người neo đơn; sự suy thoái hệ sinh thái; và sự lên ngôi của Donal Trump. Nhưng chúng ta luôn phản ứng với các khủng hoảng như thể chúng hoàn toàn độc lập và hoàn toàn không để ý rằng chúng có thể được châm ngòi hay thổi phồng cũng chỉ bời cùng một triết lý rõ ràng, một triết lý có hoặc đã từng có một cái tên. Liệu có sức mạnh nào lớn hơn sức mạnh vô hình? Chủ nghĩa Tự do Mới lan tràn phổ biến đến nỗi mà chũng ta thậm chí còn chẳng nhận ra nó là một hệ tư tưởng. Chúng ta có vẻ như thừa nhận một mệnh đề rằng đức tin bền vững và không tưởng này mô tả một thế lực trung dung, một quy luật sinh học, giống như thuyết tiến hóa của Darwin. Nhưng học thuyết này nổi lên như một nỗ lực có ý thức nhằm định hình lại cuộc sống loài người và chuyển dịch địa vị quyền...

Read More
Khủng hoảng ở Venezuela: Ví dụ mới nhất vì sao chủ nghĩa xã hội không thể tồn tại
Jun06

Khủng hoảng ở Venezuela: Ví dụ mới nhất vì sao chủ nghĩa xã hội không thể tồn tại

Đặng Khương chuyển ngữ, CTV Phía Trước Gabriel de Arruda Castro / Ana Quintana, Daily Signal Có vẻ như “Chủ nghĩa xã hội thế kỷ 21” thực sự không có gì khác so với chủ nghĩa xã hội trong quá khứ. Bi kịch hiện nay ở Venezuela, đỉnh điểm là tình trạng thiếu thực phẩm, tội phạm tăng cao và sụp đổ năng lượng, là ví dụ mới nhất về lý do tại sao nền kinh tế kế hoạch tập trung không hoạt động được, và nó cũng không khác mấy so với chế độ độc tài. Tại đất nước Nam Mỹ này, thậm chí các dịch vụ và sản phẩm cơ bản nhất đang trở nên khó tiếp cận. Đó là hậu quả từ chủ nghĩa bè phái, can thiệp [từ chính phủ], và chính sách kiểm soát giá cả. Chính phủ hiện chỉ làm việc chỉ hai ngày trong một tuần nhằm giảm tầng suất bị cắt điện liên tục. Tỷ lệ lạm phát tại đây hiện cao nhất trên thế giới: giới chuyên gia dự kiến lạm phát sẽ ở mức 720% vào cuối năm 2016. Vâng, bạn vẫn có thể đi ăn McDonalds tại Venezuela – nhưng bạn phải sẵn sàng chi trả khoảng 130 USD cho một phần khoai tây chiên. Và bạn sẽ phải tận hưởng phần khoai tây chiên mà không có một lon nước Coke vì tập đoàn McDonalds đã ngưng sản xuất trong nước ngọt tại đây do thiếu đường. Một điều khác cần chú ý là hậu quả bi thảm hơn của sự ảo tưởng về ý thức hệ của Hugo Chavez và người kế nhiệm ông, Tổng thống Nicolás Maduro, là sự mất mát về sinh mạng tại Venezuela. Thủ phủ Caracas hiện nay có tỷ lệ giết người cao nhất trên thế giới, khoảng 120 người cho mỗi 100.000 cư dân vào năm 2015. Điều này đồng nghĩa với việc bạn có thể đi bộ trên đường phố tại thủ đô Kabul [Afghanistan] mà vẫn an toàn hơn ở Caracas. Các tình tiết này mang đếu nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với những thành phần cư dân nghèo. Trẻ em đang chết vì thiếu các loại thuốc cơ bản, điện, và các thiết bị chức năng giúp trợ bé sơ sinh. Bi thảm hơn, Tổng thống Maduro đã trả lời về vấn đề này như một trò hề: “Tôi không tin rằng bất cứ nơi nào khác trên thế giới, ngoại trừ ở Cuba, lại tồn tại một hệ thống y tế tốt hơn như tại Venezuela.” Trong khi tin này bằng cách nào đó gây...

Read More
%d bloggers like this: