Làm thế nào để khuyến khích sự sáng tạo trong lớp học?
Jan26

Làm thế nào để khuyến khích sự sáng tạo trong lớp học?

Đỗ Sơn chuyển ngữ, CTV Phía Trước Dan Davis, WEF Sáng tạo là một chuyện lớn trong lớp học ở thế kỷ 21. Nhiều quốc gia xem yếu tố này như một mục tiêu cốt lõi cho những học sinh của mình trong chương trình giảng dạy quốc gia, và thậm chí những nước hàng đầu thế giới về giáo dục như Singapore đang công nhận sự cần thiết của yếu tố sáng tạo trong các trường học của họ. Sự gia tăng về mức độ quan tâm đến chủ đề này ở những giáo viên, lãnh đạo nhà trường, viện nghiên cứu và các chính phủ một phần xuất phát từ sự tin tưởng rằng một nền kinh tế đang toàn cầu hóa một cách nhanh chóng đòi hỏi người lao động phải có suy nghĩ linh hoạt nhằm thích ứng với những thay đổi liên tục, chứ không phải theo một con đường sự nghiệp truyền thống. Chúng ta đang sống trong một thế giới nơi mà những vấn đề ngày càng phức tạp. Nó đòi hỏi nhũng giải pháp phải sáng tạo và khi đó nơi ở của mọi người có thể là nơi làm việc của mỗi cá nhân, điều đó sẽ tạo cho họ có nhiều cơ hội hơn để sáng tạo. Tuy nhiên, lại có ít giáo viên xem họ là những người sáng tạo. Đây có lẽ bởi vì họ có lối suy nghĩ dựa trên nghệ thuật hay hiệu quả công việc. Chẳng hạn như chơi một nhạc cụ, vẽ một bức tranh, diễn xuất một vai trong vở kịch, sáng tác một bài hát độc đáo, bài thơ hay một câu chuyện. Điều này trái ngược với một định nghĩa rộng hơn của sự sáng tạo là khả năng tạo ra các kết nối giữa hai ý tưởng hoặc ngữ cảnh không liên quan tới nhau – cái được gọi là “bisociation” bởi nhà văn Hungary-Anh Arthur Koestler. Vào năm 2013, tôi dẫn đầu một nhóm với nhiệm vụ nghiên cứu môi trường học tập sáng tạo trong ngành giáo dục cho Chính phủ Scotland. Nhìn vào một số nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng, để thúc đẩy sự sáng tạo trong giới học sinh, giáo viên cần phải gỡ bỏ những định kiến của họ về ý nghĩa của sự sáng tạo như một phần của quá trình học tập chuyên nghiệp. Hãy để giáo viên sáng tạo Họ cần được cho phép đổi mới và ứng biến bởi các lãnh đạo nhà trường, cái đang là mối nguy hiểm trong một nền văn hóa trường học được tạo...

Read More
Bài học về chủ nghĩa xã hội
Jan14

Bài học về chủ nghĩa xã hội

Ka Đặng chuyển ngữ, CTV Phía Trước Thomas J. Shelly, FEE Trích từ “Essays on Liberty, Volume I” – Foundation for Economic Education Là một giáo viên ở các trường công, tôi nhận thấy rằng cái ý tưởng xã hội cộng sản chủ nghĩa về việc “làm theo năng lực” và “hưởng theo nhu cầu” giờ đây thường được hầu hết các học sinh của tôi chấp nhận mà không nghi vấn về điều gì. Với sự nỗ lực nhằm giải thích về sự sai lầm trong lý thuyết này, tôi đôi lần thử dùng cách tiếp cận này với học trò của mình: Khi một trong số những học sinh sáng dạ hoặc chăm chỉ hơn đạt 95 điểm trong một bài kiểm tra, tôi đề nghị rằng sẽ lấy đi 20 điểm của em này và chuyển nó cho một học sinh khác chỉ làm bài được 55 điểm. Do đó, mỗi học sinh đã làm bài kiểm tra theo đúng khả năng của mình và – vì cả hai đều chỉ cần một số điểm để vượt qua bài kiểm tra – mỗi em đã nhận được số điểm đó theo đúng nhu cầu của mình. Sau khi tôi đã chuyển đổi những con điểm của tất cả các học sinh theo cách này, kết quả có được thường là một con điểm mang tính “sở hữu chung” nằm trong khoảng 75 và 80 – mức tối thiểu cần thiết để vượt qua, hoặc ‘sống sót’ sau bài kiểm tra. Sau đó, tôi cùng đào sâu vào vấn đề này với các em học sinh ví như các kết quả đó có thể xảy ra nếu tôi thực sự áp dụng lý thuyết xã hội chủ nghĩa vào việc chấm điểm: “Đầu tiên, những học sinh có khả năng làm việc đặc biệt hiệu quả – và họ luôn chỉ chiếm thiểu số trong trường học cũng như trong cuộc sống – sẽ sớm đánh mất tất cả động lực trong học tập. Tại sao cần phải phấn đấu để đạt điểm cao khi mà số điểm dư thừa sẽ bị lấy đi bởi “người nắm quyền” để chuyển cho người khác? Tại sao phải làm việc để đạt được điều gì đó nếu bạn biết bạn sẽ không được phép giữ nó? Thứ hai, những học sinh làm việc kém hiệu quả hơn – chiếm phần lớn trong trường học cũng như bất cứ nơi đâu – sẽ được gỡ bỏ gánh nặng, trong một thời gian, khỏi sự bắt buộc phải học tập hay sản xuất. Hệ thống xã hội cộng sản chủ nghĩa...

Read More
Chủ nghĩa tư bản có phải là căn nguyên của sự nghèo đói?
Jan12

Chủ nghĩa tư bản có phải là căn nguyên của sự nghèo đói?

Trường Sơn chuyển ngữ, CTV Phía Trước Ricardo Hausmann, Project–Syndicate Cambridge – Chủ nghĩa tư bản đang bị lên án trong rất nhiều vấn nạn ngày nay: từ nạn nghèo đói, sự bất bình đẳng, đến nạn thất nghiệp, và thậm chí cả tình trạng ấm lên toàn cầu. Giáo hoàng Francis đã khẳng định trong một bài phát biểu gần đây ở Bolivia: “Hệ thống này đã ở vào tình trạng mà người ta không thể chịu đựng được nữa: những người làm công trong trang trại không thể chịu đựng được nữa, người lao động cũng không thể chịu đựng được nữa, nhiều cộng đồng cũng thể chịu đựng được nữa, dân chúng không thể chịu đựng được nữa. Đến cả Trái đất – người chị cả của chúng tôi, Mẹ Trái đất, như chính Thánh Francis sẽ nói – cũng thấy không thể chịu đựng được nữa”. Nhưng có phải những vấn nạn đang khiến Giáo hoàng Francis trăn trở thực sự là hậu quả của thứ mà ông gọi là “chủ nghĩa tư bản mất kiểm soát”? Hoặc căn nguyên của chúng lại là chính những thất bại đáng ngạc nhiên của chủ nghĩa tư bản trong những lĩnh vực mà con người từng đặt niềm tin vào nó? Liệu một chương trình nghị sự phải truy vấn về vấn đề công bằng xã hội dựa trên khả năng kiểm soát chủ nghĩa tư bản hay dựa trện việc loại bỏ những rào cản ngăn chặn sự phát triển của nó? Chúng ta hãy tạm gác lại lời giải đáp cho truy vấn này đối với những nền kinh tế của châu Mỹ Latinh, châu Phi, Trung Đông và châu Á. Để làm rõ vấn đề, chúng ta cần nhớ lại cách Karl Marx hình dung về tương lai. Đối với Marx, vai trò lịch sử của chủ nghĩa tư bản là tái cấu trúc quá trình sản xuất. Những trang trại gia đình, xưởng thủ công, và cả “quốc gia của những người bán hàng”, như cách Napoleon khinh bỉ gọi nước Anh, phải biến mất. Tất cả các hoạt động mang tính tiểu tư sản sẽ bị thay thế bằng những hình thái kinh doanh tương đương như các hãng Zara, Toyota, Airbus, hay Walmart của ngày hôm nay. Kết quả là, những người làm công sẽ không còn khả năng sở hữu phương tiện sản xuất, như ở các trang trại gia đình hoặc xưởng của thợ thủ công, “tư bản” sẽ nắm quyền sở hữu tất cả những thứ ấy. Người lao động chỉ có thể sở hữu lao động của...

Read More
Aung San Suu Kyi – Diễn từ giải Nobel, Oslo, 16 tháng 6 năm 2012
Dec17

Aung San Suu Kyi – Diễn từ giải Nobel, Oslo, 16 tháng 6 năm 2012

Phạm Nguyên Trường dịch Aung San Suu Kyi, Nobelprize.org Nhiều năm trước – đôi khi tưởng như nhiều kiếp trước – tôi đang ở Oxford và nghe chương trình phát thanh Desert Island Discs cùng với cậu con trai Alexander của tôi. Đó là một chương trình có nhiều người (theo tôi biết thì hiện vẫn như thế) nổi tiếng từ tất cả các giai tầng xã hội được mời để nói về tám cái đĩa hát, một cuốn sách, ngoài cuốn Kinh Thánh và trọn bộ tác phẩm của Shakespeare, và một trong những món hàng xa xỉ họ mà muốn mang theo bên mình nếu họ bị đưa đến một hòn đảo không người. Gần hết chương trình – một chương trình mà cả hai mẹ con tôi đều thích – Alexander hỏi tôi có nghĩ rằng một lúc nào đó tôi cũng có thể được mời đến nói chuyện trên làn sóng Desert Island Discs hay không. “Tại sao không?” Tôi nhẹ nhàng đáp. Kể từ khi cháu biết rằng nói chung chỉ những người nổi tiếng mới tham gia chương trình mà cháu hỏi, với sự quan tâm chân thành, và đấy là lí do tôi nghĩ tôi có thể được mời tham gia. Tôi suy nghĩ một chút rồi trả lời: “Có lẽ mẹ phải giành được giải Nobel văn chương,” và cả hai chúng tôi cùng phá lên cười. Triển vọng có vẻ thú vị, nhưng hầu như không thể nào xảy ra được. (Bây giờ tôi không thể nhớ vì sao mình lại trả lời như thế, có lẽ bởi vì tôi trước đó không lâu tôi  đọc một cuốn sách mà tác giả là người đoạt giải Nobel văn chương hoặc người được vinh danh hôm đó trên chương trình Desert Island là một nhà văn nổi tiếng.) Năm 1989, khi người chồng quá cố của tôi, ông Michael Aris, đến thăm tôi trong thời gian tôi bị quản thúc tại gia – đây là lần đầu tiên tôi bị quản thúc – ông nói với tôi rằng một người bạn, ông John Finnis, đã đề cử tôi cho giải Nobel Hòa bình. Lần này tôi cũng cười. Michael tỏ vẻ ngạc nhiên trong giây lát, sau đó ông mới hiểu vì sao tôi tỏ ra thích thú. Giải Nobel Hòa bình? Triển vọng thật là thú vị, nhưng không thể nào xảy ra được! Cho nên, tôi cảm thấy thế nào khi tôi thực sự được trao giải Nobel Hòa bình? Nhiều người hỏi tôi như thế và đây chắc chắn là dịp thích hợp nhất để nói giải Nobel...

Read More
Sức cám dỗ của tư tưởng độc tài
Sep03

Sức cám dỗ của tư tưởng độc tài

Phạm Nguyên Trường dịch Nina L. Khrushcheva, Project-Syndicate Cách đây 24 năm, những người Xô Viết cứng rắn, những người muốn chặn đứng công cuộc chuyển hóa dân chủ vừa mới hình thành ở đất nước này, đã bắt giam Mikhail Gorbachev và tuyên bố thiết quân luật. Đáp lại, hàng triệu người đã đổ ra đường phố Moskva và các thành phố khác trên khắp Liên Xô. Những lực lượng quan trọng nhất trong quân đội không chấp nhận cuộc đảo chính và chẳng bao lâu sau thì cuộc đảo chính này thất bại, kéo theo sự sụp đổ của Liên Xô. Mặc dù trong những tháng cuối cùng của Liên Xô, điều kiện kinh tế quả là tồi tệ, nhưng người dân có thể nhìn thấy những quyền tự do đang đến gần, và khác với ngày hôm nay, họ sẵn sàng đứng lên bảo vệ những quyền tự do đó. Đúng là, trong những năm đầu của quá trình chuyển hóa dân chủ diễn ra sau đó, hầu hết các cử tri thời hậu cộng sản đã không bầu cho những kẻ cực đoan, tức là  những kẻ hứa sẽ chấm dứt thời kỳ khó khăn mà họ đang chịu đựng. Thay vào đó, họ thường chọn các ứng cử viên có tư duy duy lý trong số những người ứng cử. Ví dụ, người đã không bầu cho Vladimir Zhirinovsky, một người có tinh thần dân tộc chủ nghĩa, thô lỗ và bài Do Thái, tương tự như Donald Trump, mà ủng hộ Boris Yeltsin, người đã đứng ngay trước mũi xe tăng trong cuộc đảo chính thất bại vào năm 1991 và công nhận rằng tương lai của đất nước ông song hành với chế độ dân chủ và với phương Tây. Ở Romania, nhà thơ có tư tưởng cực đoan, Corneliu Vadim Tudor, đã thua những người tham nhũng nhưng thực dụng, bắt đầu từ Ion Iliescu, người đã lãnh đạo cuộc lật đổ Nicolae Ceauşescu, nhà lãnh đạo cộng sản cuối cùng của đất nước này. Kể từ đó, thế giới đã bị đảo lộn từ chân lên đầu. Khi cuộc sống đã trở thành dễ dàng hơn, phần lớn những kỳ vọng về vật chất của người dân đã được đáp ứng, cử tri ngày càng ưa thích những nhà độc tài-mới, tức là những người hứa sẽ “bảo vệ” dân chúng khỏi mối đe dọa này hay đe dọa kia. Tổng thống Nga Vladimir Putin là người dẫn đầu nhóm này, nhưng ngoài ông ta còn có Thủ tướng Hungary, Viktor Orbán và Tổng thống Czech, Miloš Zeman. Và xu...

Read More
Dân chủ như một phần của nền văn hóa
Aug07

Dân chủ như một phần của nền văn hóa

Phạm Nguyên Trường dịch Doug Saunders, The Globe and Mail Đối với các nước phản dân chủ trên thế giới, đây là thời điểm quan trọng. Hai nước Cuba và Iran vừa có những bước đi nghiêm túc nhằm liên kết với thế giới dân chủ. Điều đó buộc họ phải hy sinh những thứ mà cách đây không lâu họ đã từng coi là quý giá. Tuy nhiên, còn lâu họ mới trở thành những nước dân chủ. Có hai quan điểm: Đây là một chiến thắng của những nhà độc tài, giờ đây họ đã được thế giới công nhận và có thể tiếp cận với các nguồn tài chính toàn cầu, hoặc đây là tín hiệu về sự dịch chuyển tới thế giới tự do hơn và thuần nhất hơn. Muốn hiểu được sự khác biệt thì đừng nhìn vào những gì chúng ta đã cung cấp cho những nước này mà hãy nhìn vào những việc họ đã làm để được thế giới công nhận. Cuba đã tìm cách thiết lập quan hệ bình thường với thế giới dân chủ trong suốt một phần tư thế kỷ qua, sau khi quan hệ thương mại và chính trị khép kín của nước này cáo chung cùng với sự sụp đổ của chế độ cộng sản ở Liên Xô. Để mở cửa – tuần trước Cuba đã tái lập quan hệ ngoại giao và thương mại với Hoa Kỳ – nước này đã phải hy sinh nhiều thứ từng làm cho nó trở thành quốc gia đặc biệt: Cho phép công dân tự do đi lại và tự do cư trú, công dân có quyền sở hữu tài sản tư nhân, có quyền kinh doanh trong nước và quốc tế, có bất đồng chính kiến mà không phải ngồi tù và ngày càng có nhiều bộ luật và quy phạm làm cho nước này tương đồng hơn với các các quốc gia tự do trên thế giới. Chế độ thần quyền của Iran không có lý do – đấy là nói theo nguyên tắc của cuộc đảo chính năm 1979 – để ký thỏa thuận hạt nhân với bốn nước dân chủ phương Tây, với Liên minh châu Âu, Trung Quốc và Nga, thoả thuận buộc nước này phải từ bỏ hầu hết các nguồn lực hạt nhân của mình, thường xuyên bị thanh tra và bị nước ngoài kiểm tra chặt chẽ trong vòng 15 năm tới. Nước này có thể không tham gia Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (như Ấn Độ, Pakistan và Israel) và trở thành nhà nước khép kín...

Read More
Tại sao các nước đang phát triển cần và muốn dân chủ
Jul27

Tại sao các nước đang phát triển cần và muốn dân chủ

Lê Duy Nam chuyển ngữ, CTV Phía Trước Carl Gershman, Chủ tịch National Endowment for Democracy Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 50 của Ấn Độ vào năm 1997, Trung tâm Bghiên cứu các Xã hội đang Phát triển (CSDS) có trụ sở tại New Delhi đã tiến hành một cuộc khảo sát tầm quốc gia đánh giá quan điểm chung đối với nền dân chủ Ấn Độ. Các kết quả đã bác bỏ niềm tin phổ biến rằng người dân Ấn Độ đã mất niềm tin vào hệ thống dân chủ của đất nước. Ngược lại, giám đốc của CSDS Ashis Nandy đã viết, “Ngày nay, các hệ thống dân chủ được hưởng tính hợp pháp lớn hơn so với quá khứ. Người nghèo và người bị bóc lột bảo vệ dân chủ mạnh mẽ hơn các tầng lớp lãnh đạo.” Tính hấp dẫn của dân chủ, ông cho biết, nhờ một phần rất lớn vào niềm tin của Ấn Độ rằng tính toàn diện của nó cung cấp cách tốt nhất để đối phó với sự đa dạng sắc tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, và khu vực đáng kinh ngạc của nước này. Người nghèo đặc biệt coi trọng dân chủ, theo Nandy, bởi vì họ tin rằng “lá phiếu của mình có trọng lượng” và họ dường như thích thú thực hiện nhượng quyền của mình bất chấp các nhà hảo tâm chuyên nghiệp trong các tầng lớp giàu có hơn – những người có những ý tưởng riêng của họ về những gì người nghèo cần. Trong khi cuộc khảo sát của CSDS và bình luận của Nandy chỉ tập trung tại Ấn Độ, chúng chứa một thông điệp quan trọng về tầm quan trọng của nền dân chủ cho nhân dân ở các nước đang phát triển khác trên thế giới. Tại thời điểm khảo sát ý kiến của Ấn Độ xuất hiện, Lý Quang Diệu và một số nhà lãnh đạo chính trị khác đã thúc đẩy lập luận rằng dân chủ là một hệ thống phương Tây không phù hợp với văn hóa châu Á. Luận điểm “giá trị châu Á” này đã nhận được sự lắng nghe tôn trọng trong giới lãnh đạo ở châu Á, Bộ Ngoại giao và các ấn phẩm phương Tây khác. Uy tín của nó đã được củng cố thêm bởi sức mạnh của các nền kinh tế Đông Á mà dường như cho thấy rằng các hệ thống dựa trên đảng chiếm ưu thế, các lãnh đạo vô trách nhiệm, và các tập đoàn lớn được chống lưng bởi nhà nước đưa ra một hướng...

Read More
Chế độ nhân tài là gì?
Jul11

Chế độ nhân tài là gì?

Theo Wisegeek Dịch bởi Nguyễn Quang Thành tích được khen thưởng Là một hình thức chính phủ, chế độ nhân tài tìm kiếm những người có khả năng và phẩm chất/ bằng cấp tốt nhất, bao gồm giáo dục, và nó tưởng thưởng những người thực hiện tốt. Việc xác định những người có những khả năng nhất định nào đó có thể được thực hiện thông qua trắc nghiệm với các tài liệu giáo dục, xem xét mức độ kinh nghiệm và các loại đánh giá khác – hoặc kết hợp tất cả các đánh giá này. Một số nhà phê bình nói rằng hình thức chính phủ này có tính phân biệt đối xử cao vì nó có thể tự động làm bất tín nhiệm một số người có những kỹ năng làm việc nhưng được thông minh cho lắm hoặc không có học vấn như những người khác. Ưu điểm và nhược điểm Tại Singapore chẳng hạn, một số trẻ có thể được tạo điều kiện và đặt mục tiêu bồi dưỡng nhiều hơn ở một độ tuổi cụ thể, dựa trên năng khiếu. Có thể, trong một số trường hợp, các em có thể không được tự do lựa chọn con đường sự nghiệp của riêng mình hoặc không được tiếp xúc với tất cả các tùy chọn có thể có. Trong trường hợp như vậy, một chế độ nhân tài có thể hạn chế sự phát triển toàn diện của cá nhân. Sự đánh đổi trong những tình huống này là những người được lựa chọn để được giới thiệu vào chương trình này có khả năng sống một cuộc sống đặc quyền, không bao giờ phải thiếu thốn bất cứ điều gì. Người dân ở một chế độ nhân tài thường đi theo con đường kinh qua các cấp chính quyền cấp thấp, tích lũy kinh nghiệm trong khi họ tiến lên. Về một số phương diện, điều này có thể không có nhiều khác biệt so với các nhân viên chính phủ cấp thấp trong các thiết chế khác: tích lũy kinh nghiệm và làm việc liên tục để thăng cấp bậc, rồi dần dần được trao trách nhiệm lớn hơn theo thời gian. Khả năng thăng tiến không bị giới hạn Không giống như các hình thức chính phủ khác, trong chế độ nhân tài, thường là không có giới hạn để một người có thể thăng tiến đến mức nào. Trong các loại hình chính phủ khác, sau khi một quan chức đạt đến một cấp bậc nhất định, người đó chỉ có thể được thăng tiến do chỉ định/...

Read More
%d bloggers like this: