Tại sao Việt Nam trì hoãn phê chuẩn Hiệp định TPP?
Sep30

Tại sao Việt Nam trì hoãn phê chuẩn Hiệp định TPP?

Lê Hồng Hiệp, trích từ NCQT Nguồn: Today Online Nhiều nhà quan sát cảm thấy bất ngờ khi việc phê chuẩn Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) không được đưa vào chương trình của kỳ họp thứ hai (khóa 14) của Quốc hội Việt Nam, dự kiến sẽ khai mạc vào ngày 20 tháng 10 tới. Như vậy, hiệp định thương mại này sẽ không được Việt Nam phê chuẩn ít nhất cho đến khoảng tháng 4 năm sau, khi Quốc hội nhóm họp trở lại. Thông tin này gây thất vọng cho những người ủng hộ TPP, đặc biệt là khi Việt Nam được cho sẽ là quốc gia hưởng lợi lớn nhất trong số 12 thành viên của Hiệp định. TPP sẽ không chỉ giúp thúc đẩy GDP, hoạt động xuất khẩu và việc thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam, mà nó còn giúp đẩy nhanh các cải cách quan trọng vốn thiết yếu cho sự phát triển kinh tế về lâu dài của đất nước. Đây thực ra là lần thứ hai Việt Nam trì hoãn việc phê chuẩn Hiệp định. Đầu năm nay, các nhà chức trách Việt Nam thông báo rằng Hiệp định sẽ được trình lên phiên họp đầu tiên của Quốc hội vào tháng 7 để phê chuẩn, nhưng cuối cùng việc này đã không xảy ra. Liệu có “uẩn khúc” gì đằng sau quyết định của Việt Nam không? Hoa Kỳ và các thành viên khác của TPP có nên cảm thấy lo lắng? Chuẩn bị cho TPP Đầu tiên, cần lưu ý rằng hồi tháng Giêng năm nay, Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã bỏ phiếu nhất trí tán thành hiệp định. Điều này làm cho việc Quốc hội phê chuẩn hiệp định chủ yếu mang tính thủ tục mà thôi. Khi giải thích quyết định chưa phê chuẩn hiệp định gần đây, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho rằng Việt Nam cần phải “xem xét tình hình toàn cầu, đánh giá hành động của các nước thành viên khác và chờ đợi kết quả của cuộc bầu cử tổng thống Mỹ “. Rõ ràng, sự không chắc chắn ở Washington về tương lai của TPP – nơi mà cả hai ứng cử viên tổng thống đều chống lại hiệp định – là một lý do quan trọng khiến Việt Nam quyết định trì hoãn việc phê chuẩn. Các lãnh đạo Việt Nam có thể không muốn gặp phải một tình huống “việt vị” khi mà Hà Nội đã phê chuẩn hiệp định nhưng Washington thì không....

Read More
Chính giới cánh tả bất lực trước các vấn đề toàn cầu hoá và mị dân
Sep29

Chính giới cánh tả bất lực trước các vấn đề toàn cầu hoá và mị dân

TS Đỗ Kim Thêm dịch, CTV Phía Trước Dano Rodrik, Project-Syndicate Khi thế giới chao đảo từ cú sốc trong việc nước Anh quyết định ra khỏi Liên Âu, thì hai giới chính khách và kinh tế ngộ ra rằng họ đã đánh giá quá thấp về sự mong manh chính trị của các hình thức hiện nay về toàn cầu hóa. Cuộc nổi loạn của quần chúng dường như đang thể hiện qua các hình thức đa dạng và trùng lấp nhau: khẳng định lại các bản sắc địa phương và quốc gia, đòi hỏi nhiều kiểm soát hơn về dân chủ và trách nhiệm giải trình, từ bỏ các chính đảng trung dung, và không tin cậy nơi các giới thượng lưu và chuyên gia. Phản ứng dữ dội này có thể dự đoán được. Một số nhà kinh tế, trong đó có tôi, đã cảnh báo về những hậu quả của việc toàn cầu hóa kinh tế là nó đã đẩy ra ngoài các giới hạn của các định chế nhằm điều tiết, tạo ổn định và hợp pháp đối với nền thị trường. Việc thổi phòng toàn cầu hóa trong lĩnh vực thương mại và tài chính nhằm tạo ra các thị trường thế giới hội nhập không biên giới đã làm phân hoá các xã hội trong nước. Điều ngạc nhiên lớn hơn là khuynh hướng thiên về cánh hữu rõ rệt trong các phản ứng chính trị thành hình. Tại châu Âu, số người dân theo chủ thuyết dân tộc và người dân bản địa theo lối chính trị mị dân đã tăng lên đáng kể, trong khi giới cánh tả chỉ thắng thế ở một vài nơi như Hy Lạp và Tây Ban Nha. Tại Hoa Kỳ, người mị dân cánh hữu như Donald Trump đã tìm cách thắng thế để đẩy lui giới quyền thế cố hữu trong Đảng Cộng hòa, trong khi Bernie Sanders, người theo cành tả, đã không thể vượt qua được Hillary Clinton, người theo phái trung dung. Khi tinh thần đồng thuận về việc tạo ra một nền tảng chính trị mới đang nổi lên và được thừa nhận một cách miễn cưỡng, thì toàn cầu hóa làm nổi bật các vấn đề phân chia giai cấp giữa những người có kỹ năng và nguồn lực với những người không có, khi người có thì lại biết cách tận dụng được lợi thế của các thị trường toàn cầu. Sự cách biệt về thu nhập và giai cấp, trái ngược với sự phân chia theo bản sắc dựa trên chủng tộc, sắc tộc hay tôn giáo,...

Read More
Những điều cần biết về G20
Sep28

Những điều cần biết về G20

Hương Ly chuyển ngữ, CTV Phía Trước Rosamond Hutt, WEF Bạn có biết rằng không chỉ có 20 nước thành viên trong G20? Với việc những nhà lãnh đạo của thế giới tụ họp ở hội nghị năm nay tại Hàng Châu, Trung Quốc, chúng ta có thể sơ lược vì sao có tên gọi G20, những ai được mời tới và tại sao lại có hơn 20 quốc gia trong nhóm. G20 là gì? G20, viết tắt của “Group of 20”, được thành lập bởi 19 quốc gia: Argentina, Úc, Brazil, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức, Ấn Độ, Indonesia, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mexico, Nga, Ả rập, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kì, Anh Quốc và Hoa Kỳ, cộng thêm cả khối Liên minh châu Âu. Cùng nhau, các thành viên của nhóm chiếm khoảng 85% nền kinh tế thế giới; đó là khoảng ¾ nền thương mại thế giới và 2/3 dân số thế giới. Họ bàn luận những gì? G20 bắt đầu vào năm 1999, sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, là một diễn đàn cho các bộ trưởng tài chính và các thống đốc ngân hàng trung ương từ các nền kinh tế phát triển lớn và các nền kinh tế đang phát triển nhằm thảo luận về các vấn đề tài chính toàn cầu. Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, G20 phát triển lên thành một hội nghị cho những nhà lãnh đạo, là nơi để các tổng thống và thủ tướng có thể ngồi lại cùng nhau hai ngày để giải quyết các vấn đề kinh tế thế giới. Những cuộc gặp mặt thành công của các lãnh đạo G20 được tổ chức ở Washington, DC vào năm 2008, London vào đầu năm 2009 và Pittsburgh vào cuối năm 2009, và đã trở thành một thông lệ thường niên. Chạy đua cho các cuộc hội nghị cấp cao, các cựu viên chức được biết đến như “sherpas” (người dân Himalaya) đã bàn luận kỹ lưỡng các vấn đề cho cuộc thảo luận, với mục đích là đưa các thành viên G20 đạt được một thỏa thuận tại hội nghị. Cũng giống như sherpas tại Himalayas, họ giúp chỉ dẫn lãnh đạo của họ qua những vùng địa hình khó khăn, và hoạt động ngoại giao bằng việc đi nhiều nơi. Ngoài ra, G20 cũng có những cuộc gặp mặt của các bộ trưởng tài chính và thống đốc ngân hàng trung ương, đại biểu thương mại và các nhóm hoạt động chống tham nhũng. Ai là khách mời? Nhiệm kì chủ tịch G20 giữa các thành...

Read More
Vấn đề nợ công của Trung Quốc
Sep15

Vấn đề nợ công của Trung Quốc

Phạm Nguyên Trường dịch David Lipton, Project-Syndicate LND: Trung Quốc phải học ngay ba bài học: “Thứ nhất, chính quyền phải hành động một cách nhanh chóng và hiệu quả, để vấn đề nợ của công ty hiện nay không trở thành vấn đề nợ mang tính hệ thống trong tương lai. Thứ hai, họ phải làm việc với cả các chủ nợ lẫn con nợ – một số nước chỉ giải quyết với một trong hai phía, tức là gieo rắc hạt giống cho những vấn đề trong tương lai. Cuối cùng, phải xác định được và cải cách những cơ cấu quản trị đã gây ra những vấn đề đó. Ít nhất, Trung Quốc cần một hệ thống hiệu quả nhằm giải quyết vấn đề phá sản; phải có quy định nghiêm ngặt về đánh giá rủi ro; cải thiện công tác kế toán, lập dự phòng cho các khoản thiệt hại về tín dụng, và luật lệ về công khai tài chính”. Và đấy cũng là những bài học mà chính phủ Việt Nam phải học trước khi quá muộn. **** Trong mấy năm gần đây, tốc độc phát triển kinh tế Trung Quốc đã giảm, nhưng vẫn khá mạnh mẽ: đóng góp khoảng một phần ba tổng số tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Kinh tế Trung Quốc cũng trở nên bền vững hơn, song hành với thay đổi mô hình tăng trưởng, từ đầu tư và xuất khẩu sang đáp ứng nhu cầu và dịch vụ trong nước. Trước thềm hội nghị thượng đỉnh G20 vào tháng tới ở Hàng Châu, Trung Quốc đã lớn tiếng kêu gọi cam kết với cải cách cơ cấu nhằm kích thích tăng trưởng trong các nền kinh tế tiên tiến và các thị trường mới nổi. Nhưng Trung Quốc đang gặp những rủi ro nghiêm trọng ngay ở trong nước. Trước hết, tín dụng ở trong nước vẫn tiếp tục phát triển với một tốc độ quá cao, khó mà bền vững, tổng nợ của các công ty đã lên đến mức nguy hiểm. Theo báo cáo thường niên của Quỹ Tiền tệ quốc tế về kinh tế Trung Quốc, mới được công bố trong thời gian gần đây, tín dụng đang tăng nhanh gấp đôi sản phẩm đầu ra. Tín dụng đang tăng nhanh trong cả khu vực tư nhân phi tài chính lẫn trong khu vực tài chính đang phình ra và quyện chặt lấy nhau, và vẫn chưa minh bạch. Hơn nữa, trong khi, theo tiêu chuẩn quốc tế, tăng trưởng tín dụng như thế là cao – đây là chỉ số quan trọng...

Read More
Tôn giáo nào phát triển nhanh nhất thế giới?
Sep12

Tôn giáo nào phát triển nhanh nhất thế giới?

CTV Phía Trước chuyển ngữ Adam Shirley, WEF Hồi giáo đang phát triển nhanh hơn so với bất kỳ tôn giáo nào khác, theo một nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Pew. Trên thực tế, hầu hết các nhóm tôn giáo lớn trên thế giới dự kiến sẽ gia tăng số lượng tuyệt đối vào năm 2050. Nghiên cứu chỉ ra rằng, Hồi giáo sẽ vượt qua Kitô giáo và trở thành tôn giáo lớn nhất của thế giới vào năm 2070. Những người không theo bất kỳ tôn giáo nào, chẳng hạn như những người vô thần hay những người tin rằng không ai có thể thấu hiểu được sự tồn tại hay bản chất của Thượng Đế, sẽ giảm tỉ lệ trên tổng dân số của thế giới vào năm 2050, mặc dù số lượng nhóm người này đang gia tăng tại một số quốc gia thế tục hơn so với các nước khác như Pháp và Hoa Kỳ. Sự gia tăng số người theo đạo ở các tôn giáo lớn là nhờ vào một phần lớn tỷ lệ sinh và quy mô dân số trẻ ở các quốc gia ít thế tục. Năm 2050, Kitô giáo vẫn sẽ là nhóm tôn giáo lớn nhất thế giới, với khoảng một phần ba dân số thế giới trung thành với các nhánh khác nhau của tôn giáo này. Hồi giáo vẫn đang đuổi theo khá nhanh, mặc dù các tín đồ Hồi giáo là nhóm tôn giáo lớn duy nhất dự kiến sẽ tăng nhanh hơn so với dân số thế giới theo một tổng thể. Một trong những yếu tố chính thúc đẩy sự tăng trưởng trong tương lai của các tôn giáo là vùng địa lý mà các nhóm tôn giáo đang tập trung ở đó. Các tôn giáo có nhiều tín đồ ở các nước đang phát triển – nơi có tỷ lệ sinh cao, và tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh nhìn chung đang giảm – dường như sẽ gia tăng nhanh chóng. Như vậy, phần lớn sự gia tăng trên toàn thế giới của Hồi giáo và Kitô giáo sẽ diễn ra tại các khu vực trong châu Phi, xung quanh Sahara, nơi có dân số dự kiến sẽ tăng 12% vào năm 2050. Ngược lại, số người trên thế giới không theo tôn giáo nào tập trung nhiều ở những nơi có mức sinh thấp và dân số già, chẳng hạn như Bắc Mỹ, châu Âu, Trung Quốc và Nhật Bản. Tỷ lệ sinh thấp ở Trung Quốc và Nhật Bản là nguyên nhân dẫn đến việc giảm tỉ...

Read More
Liệu truyền thông xã hội có giúp mối quan hệ giữa chính phủ và người dân hay không?
Sep05

Liệu truyền thông xã hội có giúp mối quan hệ giữa chính phủ và người dân hay không?

CTV Phía Trước chuyển ngữ James Toscano, WEF Điều này phụ thuộc vào người bạn hỏi là ai. Tùy thuộc vào nơi bạn sống, có thể bạn theo dõi bộ phận vận tải địa phương mình đang làm việc trên Twitter để cập nhật tình hình công trình, có thể bạn xem video trên Periscope về phiên họp hội đồng thành phố hoặc đọc blog trực tiếp của các cuộc họp hội đồng trường công lập. Trên toàn thế giới, chính phủ và nhân dân đều đang tham gia vào truyền thông xã hội. Ví dụ, vào tháng Sáu vừa qua, cơ quan chính phủ ở thị trấn Tây Ban Nha đã bỏ cách tiếp cận truyền thống của mình và thay đó bằng tương tác trên Twitter để phục vụ người dân địa phương. Sau cơn Bão Sandy năm 2012, Twitter đã giúp các cơ quan quản lý tình trạng khẩn cấp ở vùng Đông Bắc Hoa Kỳ mở rộng phạm vi tiếp cận, cung cấp “đường cứu sinh” cho những người dân cần thông tin quan trọng nhưng lại không có điện. Vào buổi sáng mùa xuân năm đó, hai hội thảo quan trọng của Mỹ đã diễn ra cùng ngày trên phương tiện truyền thông xã hội của chính phủ, một chương trình được dẫn dắt bởi các chuyên gia truyền thông cấp cao, và một được dẫn dắt bởi những học giả. Quan sát viên của mỗi chương trình đã thảo luận những ý tưởng khác biệt về tiềm năng của truyền thông xã hội, nhằm mục đích cải thiện mối quan hệ giữa chính phủ và nhân dân. Những người ở phe này trả lời những phàn nàn của người dân trên Facebook hay cuộc gặp gỡ công chúng trực tiếp trên Twitter bằng cách đưa ra những quan điểm tích cực về việc truyền thông xã hội có ảnh hưởng tốt như thế nào đến sự tương tác bầu cử chính phủ. Tuy nhiên, một vài chuyên gia trong giới học thuật về chính sách công lại tỏ ra không hài lòng về cách sử dụng truyền thông xã hội của chính phủ. Tại sao hai nhóm này lại có những quan điểm khác nhau như vậy về những gì đang xảy ra? Với tư cách là một học giả chuyên nghiệp, người kết nối hai quan điểm này với nhau, tôi đã tìm ra một vài sự thật ít người biết. Mất hi vọng từ bên trong tháp ngà Vào ngày 8/04/2016, các học giả từ rất nhiều trường cũng như tổ hợp những người có chuyên môn từ dọc Florida đến...

Read More
Bài học từ thảm họa kinh tế Venezuela
Aug24

Bài học từ thảm họa kinh tế Venezuela

Trương Thái Tiểu Long biên dịch | Lê Hồng Hiệp biên tập, NCQT Ricardo Hausmann, Project Syndicate Mỗi khi chúng ta nghe tin một người bạn phải gánh chịu một thảm họa nào đó, ta thường cảm thấy đồng cảm và chênh vênh. Chúng ta tự hỏi rằng điều đó có thể xảy ra với mình hay không: Liệu thảm họa đó có phải là hệ quả của những đặc điểm bất thường mà chúng ta may mắn không gặp phải? Hay chúng ta cũng dễ bị tổn thương như thế? Nếu vậy thì chúng ta có thể làm gì để tránh khỏi một vận mệnh tương tự? Logic này cũng áp dụng được với các quốc gia. Vào những ngày cuối tuần 16-17/07, người Venezuela được phép sang biên giới Colombia tối đa 12 tiếng. Sự kiện này khiến người ta nhớ về sự sụp đổ của Bức tường Berlin. Hơn 135.000 người đã tận dụng cơ hội này để sang Colombia mua nhu yếu phẩm. Họ phải đi hàng trăm cây số và chỉ đổi được tiền theo tỉ giá chỉ bằng 1% tỉ giá chính thức để mua thực phẩm và thuốc men. Tuy vậy, họ vẫn cảm thấy xứng đáng trong bối cảnh nạn đói, thiếu hụt và tuyệt vọng tại quê nhà. Truyền thông quốc tế đã và đang đưa tin về sự sụp đổ của nền kinh tế, hệ thống y tế, an ninh cá nhân, cũng như hiến pháp và nhân quyền của Venezuela. Tất cả những điều này diễn ra tại quốc gia có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới chỉ hai năm sau khi đợt tăng giá dầu dài nhất trong lịch sử kết thúc. Tại sao? Tình trạng này có thể diễn ra ở nơi khác không? Những đặc điểm của bất kì tình huống nào cũng luôn đặc thù, và vì thế không thể áp dụng rập khuôn. Nhưng điều này mang đến cho chúng ta một cảm giác an tâm sai lầm. Nếu xem xét một cách thấu đáo, Venezuela có thể mang lại những bài học kinh nghiệm quý giá đối với các nước khác. Cuộc khủng hoảng tại Venezuela không phải do xui rủi. Trái lại, chính vận may mới là sợi dây thừng siết cổ một quốc gia. Khủng hoảng là hệ quả không thể tránh khỏi từ các chính sách của chính phủ. Trong trường hợp của Venezuela, những chính sách đó bao gồm sung công ép buộc, kiểm soát giá cả và tỉ giá, vay mượn quá mức thời đất nước còn ổn định, các quy định chống doanh nghiệp,...

Read More
Đâu là những quyền con người quan trọng nhất?
Aug23

Đâu là những quyền con người quan trọng nhất?

Hương Ly chuyể ngữ, CTV Phía Trước Emma Luxton, WEF Theo khảo sát mới đây của YouGov, quyền con người quan trọng nhất mà bạn nghĩ hóa ra lại phụ thuộc phần lớn vào nơi mà bạn sinh sống. Tổ chức bỏ phiếu này đã khảo sát người dân từ bảy hạt của châu Âu và Hoa Kỳ về 30 quyền con người được công bố bởi Liên Hiệp Quốc, Hội đồng châu Âu và Tuyên ngôn Nhân quyền Hoa Kỳ. Chúng cũng bao gồm các quyền có đặc điểm nổi bật có thể thấy ở các cuộc tranh luận gần đây trên truyền thông. Những người khảo sát được yêu cầu chọn 10 trong 30 quyền mà họ cho là quan trọng nhất. Những biểu đồ này từ i100 cho thấy phần trăm số người được khảo sát từ mỗi quốc gia bầu cho mỗi quyền. Sự tự do bầu cử đã được xếp như quyền con người quan trọng nhất trong năm trên tám quốc gia. Hoa Kỳ xem vấn đề tự do ngôn luận như là quyền quan trọng nhất của con người, xếp thứ ba là quyền tự do bầu cử. Tự do ngôn luận cũng được coi trọng ở Đức, nơi mà công dân của họ cũng thấy rằng việc này là quan trọng nhất. Trong tám quốc gia, hơn 50% người được khảo sát chọn tự do ngôn luận như là một trong những quyền con người quan trọng nhất – đó là quyền duy nhất nhận được 50% hoặc nhiều hơn từ tất cả các quốc gia. Quyền xét xử công bằng cũng được cho là một trong top 5 quyền quan trọng nhất bởi người dân đến từ nửa số quốc gia. Ở Anh thì quyền này được coi là quan trọng thứ hai, và được xếp thứ tư ở Hoa Kỳ, Đức và Thụy Điển. Quyền được tự do giáo dục và chăm sóc sức khỏe với chi phí thấp được cho là ưu tiên với hầu hết các nước. Tuy nhiên, Pháp và Hoa Kỳ đánh giá những quyền này thấp hơn so với các nước khác. Sự khác biệt trong lịch sử và văn hóa, đặc biệt với sự quan tâm về điều khoản dịch vụ công cộng có thể giải thích sự khác nhau giữa Hoa Kỳ và phần đông các nước châu Âu. Mĩ cũng khác các nước châu Âu về tự do tôn giáo, với số phiếu chọn quyền này ở Mĩ là 53%, nhưng đây vẫn là con số ít hơn 30% so với người dân ở hầu hết các quốc gia khác. Quyền...

Read More
%d bloggers like this: