Tại sao chúng ta cần nói về quyền của bé gái ở Đông Á
Jul22

Tại sao chúng ta cần nói về quyền của bé gái ở Đông Á

Hà Trang chuyển ngữ, CTV Phía Trước Anne-Birgitte Albrectsen, WEF Châu Á là một châu lục không bao giờ ngủ. Các nền kinh tế nơi đây đã lớn mạnh và chuyển mình ở một tốc độ khó tin, tái định hình không gian xã hội và diện mạo theo những cách mà chúng ta chỉ dám tưởng tượng vào ba thập niên trước đây. Đặc biệt, các quốc gia ASEAN đang trải nghiệm một thay đổi lớn, cả khối ASEAN hợp lại đã trở thành nên kinh tế lớn thứ 7 thế giới vào năm 2011. Giờ đây, khi các nền kinh tế này hội nhập với nhau ngày càng mạnh mẽ thì càng mang tới sự niềm tin vào sự tăng trưởng và thay đổi xã hội còn lớn hơn nữa. Có vẻ đã tới lúc đưa ra câu hỏi khu vực này sẽ sẽ trỗi dậy như thế nào vào giai đoạn tiếp theo trong tương lai. Xét ở nhiều phương diện, điều này sẽ vẫn sẽ chỉ dừng lại ở những cuộc thảo luận xung quanh kinh tế, nhưng đối với tôi, vị trí kinh tế và xã hội của các bé gái đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong việc đảm bảo một tương lai thịnh vượng và bền vững trong khu vực. Cuộc đối thoại về quyền của các bé gái nghe có vẻ như không liên quan lắm trong bối cảnh này. Tuy nhiên, việc các bé gái được trao quyền để có thể học tập, trở thành lãnh đạo, đưa ra quyết định và phát triển sẽ là yếu tố trọng yếu giúp ASEAN tiếp tục thành công của mình. Cơ hội đã lớn, thách thức còn lớn hơn Sự tăng trưởng kinh tế đi đôi với sự phát triển năng động của xã hội đã tạo ra những cơ hội lớn, bao gồm cả cơ hội cho phụ nữ và trẻ em gái. Trên toàn châu Á, cùng với sự chuyển biến về kinh tế, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động. Ai cũng biết rằng khi có càng nhiều phụ nữ được đi làm, nền kinh tế sẽ tăng trưởng càng mạnh hơn. Ở châu Á, tiềm năng này chưa được tận dụng triệt để: người ta ước tính rằng châu Á thâm hụt 40 tỷ USD hàng năm do khoảng cách giới giữa nam và nữ trong giáo dục và việc làm gây ra. Khả năng phụ nữ được tuyển dụng ít hơn đàn ông khoảng 70%. Các nước ASEAN, cũng như các nước khác trên thế giới đang phải đối mặt...

Read More
Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của chúng ta
Jul21

Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của chúng ta

Phạm Nguyên Trường dịch Sean B. Carroll, Project-Syndicate Xin hình dung câu chuyện sau đây. Đấy là năm 1966. Bạn đang đứng trong một văn phòng chính phủ ở Washington, DC, và đang quan sát một quan chức vận đồng phục nói với một người mặc trang phục doanh nhân: “Nhiệm vụ của ông là tiêu diệt kẻ thù đã giết chết nhiều người hơn cả hai cuộc thế chiến cộng lại. Ông sẽ có một ngân khoản không lớn, một nhóm nhỏ nhân viên, và nếu ông thất bại, Bộ trưởng sẽ từ chối, sẽ nói, chẳng biết gì về công ciệc của ông”. Nghe như một cảnh trong phim Hollywood vậy. Và, đúng thế, là cảnh mở đầu của bộ phim Mission: Impossible (Nhiệm vụ bất khả), một bộ phim truyền hình được chiếu trong năm đó. Nhưng đã xảy ra đúng như thế, nếu không nói là chính xác những từ đó. Vị quan chức là tướng quân ý James Watt; còn người nhận nhiệm vụ là nhà khoa học Donald Henderson thuộc trung tâm Trung tâm các Bệnh truyền nhiễm(CDC), và kẻ thù là bệnh đậu mùa. Nhiệm vụ chắc chắn dường như là bất khả. Lúc đó, mỗi năm, bệnh đậu mùa giết chết hai triệu người, và làm cho 15 triệu khác mắc bệnh. Nhưng, tương tự như trong phim, Henderson và nhóm của ông ở Tổ chức Y tế Thế giới đã chấp nhận thách tức. Chỉ trong vòng hơn một thập kỷ, bệnh đậu mùa đã – và, cho đến nay là bệnh lây nhiễm duy nhất – bị xóa bỏ hoàn toàn. Chìa khóa dẫn tới thành công to lớn này không phải là – như người ta có thể nghĩ – bước đột phá lớn về y tế (vaccine đậu mùa đã có từ thế kỷ XVIII). Đấy là công tác ngoại giao, thái độ uyển chuyển và hợp tác. Ngay từ đầu, WHO đã không tin vào chiến dịch tiêm chủng. Nhiều người, trong đó có tổng giám đốc WHO, cho rằng, để chấm dứt bệnh đậu mùa, tất cả 1,1 tỷ người ở 31 nước bị ảnh hưởng, trong đó có cả những người sống trong những làng bản xa xôi, đều phải được tiêm phòng – đúng là một cơn ác mộng về mặt hậu cần. Đó là lý do vì sao các đại biểu của WHO lại tranh cãi trong nhiều ngày trước khi đồng ý, mỗi năm chỉ cung cấp 2,4 triệu USD cho nỗ lực này – quá ít, không đủ trang trải các chi phí vaccine chủng ngừa không được hiến tặng,...

Read More
VPN tạo kết nối ảo an toàn
Jul08

VPN tạo kết nối ảo an toàn

Doug Bernard, theo VOA VPN là gì? VPN là từ viết tắt của Virtual Private Network (Mạng lưới Riêng tư Ảo). “Ảo” trong trường hợp này có nghĩa là bạn kết nối hai máy tính bằng cách sử dụng mạng Internet công khai, nhưng làm như vậy bằng cách tạo ra một kết nối an toàn và riêng tư. VPN đầu tiên được phát triển cho những nhân viên doanh nghiệp cần truy cập dữ liệu nhạy cảm từ xa trên máy chủ nhà ở nhà họ, và kể từ đó đã được sử dụng ngày càng nhiều và phổ biến. VPN cho phép người dùng gửi và nhận mọi loại dữ liệu cá nhân bằng cách sử dụng cái thường được gọi là một “đường hầm” Internet. Hãy nghĩ về VPN như thế này: có một mạng lưới máy tính ở đâu đó trên thế giới mà chỉ cho phép những người dùng cụ thể truy cập được, và bạn là một trong số những người đó, nhưng bạn chỉ có thể truy cập được thông qua Internet không an toàn. Sử dụng VPN, cả máy tính và mạng lưới mục tiêu của bạn xác nhận tính chân thực của mỗi bên với nhau. Sau đó, VPN của bạn sẽ bọc dữ liệu của bạn ở cả hai đầu trong những gói được mã hóa mà chỉ có bạn và mạng lưới của bạn sẽ hiểu được. Đối với bất cứ ai xâm nhập đường liên lạc này, những dữ liệu trao đổi qua lại sẽ chỉ là những ký tự hoàn toàn vô nghĩa. Có rất nhiều dịch vụ VPN khác nhau có sẵn với những cái tên như “PureVPN”, “AirVPN” hoặc “VPN4All”. Mỗi thứ cung cấp một tập hợp những dịch vụ riêng biệt và có chi phí nằm trong khoảng từ không mất đồng nào cho tới $80 một năm hoặc nhiều hơn. Cách thức hoạt động Dù đúng là VPN thiết lập một kết nối “đường hầm” an toàn với một máy tính hoặc mạng lưới cụ thể, bạn cũng có thể sử dụng nó để bảo vệ danh tính của mình, tránh những biện pháp chặn Internet và vượt tường lửa. Về bản chất, một khi bạn cài đặt và chạy một dịch vụ VPN riêng biệt, máy tính của bạn sẽ thiết lập một kết nối an toàn với một tập hợp những máy chủ VPN có liên hệ với dịch vụ đó. Yêu cầu bí mật của bạn xem một website bị chặn, chẳng hạn như YouTube, được gửi đến máy chủ VPN của bạn, mà từ đó gửi yêu cầu...

Read More
Nguồn gốc thảm họa kinh tế của Venezuela
Jul07

Nguồn gốc thảm họa kinh tế của Venezuela

Trịnh Ngọc Thao dịch | Lê Hồng Hiệp biên tập, theo NGQT Ricardo Hausmann, Project-Syndicate Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính 2008, người ta đã quá quen với việc ca thán các nhà kinh tế vì đã không dự đoán được thảm họa này, đưa ra các giải pháp phòng ngừa sai lệch, hoặc thất bại trong việc khắc phục khủng hoảng sau khi nó xảy ra. Người ta liên tiếp kêu gọi một tư duy kinh tế mới và điều này là thích đáng. Thế nhưng, những điều mới có thể không tốt và những cái tốt lại chưa chắc đã mới. Dịp kỷ niệm lần thứ 50 Cách mạng Văn hóa Trung Quốc là một nhắc nhở về điều gì có thể xảy ra khi tất cả những quan điểm chính thống bị ném ra ngoài cửa sổ. Thảm họa hiện nay tại Venezuela là một minh chứng khác: Một quốc gia đáng lẽ phải giàu mạnh đang phải chịu đựng cuộc suy thoái trầm trọng nhất thế giới, lạm phát cao nhất và sự sa sút nặng nề các chỉ số xã hội. Người dân Venezuela dù sống trên trữ lượng dầu lớn nhất thế giới nhưng lại đang đói khát và chết dần vì thiếu thực phẩm, thuốc men. Khi thảm họa còn âm ỉ, Venezuela đã được tán dương bởi tổ chức Nông lương Liên Hiệp quốc, Ủy ban Kinh tế Mỹ Latinh, Lãnh đạo Công Đảng Anh Jeremy Corbyn, cựu Tổng thống Brazil Luiz Inacio Lula da Silva và Trung tâm Nghiên cứu Chính sách của Mỹ và một số tổ chức khác nữa. Vậy thế giới nên học được điều gì từ việc sa sút dẫn tới thảm họa của Venezuela? Nói ngắn gọn, Venezuela chính là điển hình về sự nguy hiểm khi bác bỏ các nguyên tắc kinh tế nền tảng. Một trong những nguyên tắc nền tảng đó chính là ý tưởng rằng để đạt được các mục tiêu xã hội, việc sử dụng thị trường sẽ tốt hơn là áp chế nó. Xét cho cùng, thị trường về bản chất là một hình thức tổ chức tự thân thông qua đó mọi người cố gắng kiếm sống bằng cách làm những việc mà người khác thấy có giá trị. Ở hầu hết các nước, mọi người mua thực phẩm, xà phòng, giấy vệ sinh mà không vấp phải cơn ác mộng về chính sách quốc gia như tại Venezuela. Nhưng giả sử nếu bạn không thích các kết quả do thị trường mang lại thì sao? Các học thuyết kinh tế tiêu chuẩn đề xuất ý tưởng...

Read More
Tương lai khu vực ASEAN trong 25 năm tới
Jul02

Tương lai khu vực ASEAN trong 25 năm tới

Phương Võ chuyển ngữ, CTV Phía Trước Justin Wood, WEF ASEAN, hay Cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á, là khu vực sôi động nằm ở trung tâm châu Á. ASEAN được thành lập với mục tiêu ban đầu năm 1967 là ổn định địa chính trị ở khu vực, và đến nay cộng đồng này ngày càng lớn mạnh. Cộng đồng ASEAN tính đến ngày nay đã được 49 năm tuổi, với thời gian đầu thành lập chỉ có 5 thành viên. Hiện nay ASEAN đã mở rộng lên 10 nước thành viên. Cộng đồng này cũng đã chuyển hướng mục tiêu từ an ninh khu vực sang thương mại, xây dựng cộng đồng kinh tế, và ứng biến kịp thời với những đổi thay của xu thế toàn cầu. Như tất cả các quốc gia và khu vực khác, ASEAN đang đối mặt với một số thách thức. Thách thức lớn nhất là ảnh hưởng của công nghệ số lên chính quyền, doanh nghiệp, và cộng đồng ASEAN, hay còn được biết đến Cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư. Khi hàng loạt các phát kiến công nghệ – như người máy cao cấp, trí tuệ nhân tạo, in ấn 3D, phương tiện tự động, máy học, và nền tảng kết nối Internet ra đời – đã đề ra cho ASEAN cần phải học cách bắt lấy những cơ hội mới, cũng như tỉnh táo xác định nguy cơ thực sự đằng sau những cơ hội trên. Phương hướng phát triển truyền thống cho nhiều quốc gia đã không còn như xưa. Cách thức này giờ đây đã thay đổi từ sản xuất dựa vào xuất khẩu sang cung cấp dịch vụ số, như vậy sẽ mang lại nhiều cơ hội việc làm cho nguồn lao động. Giáo viên cũng cần nâng cao năng lực sử dụng công nghệ số, theo Kathleen Chew trong bài báo của cô về nền giáo dục châu Á, nhằm hỗ trợ học sinh, sinh viên tốt hơn với những kỹ năng cần thiết cho nền kinh tế hiện đại. Phụ nữ và trẻ em gái cũng cần là những đối tượng được quan tâm, cô Anne-Birgitte Albresctsen, CEO của Plan Internaltional chia sẻ, nếu khu vực muốn đạt được những mục tiêu về tỷ lệ tham gia của phụ nữ trong nguồn lao động. Khi chi phí tự động hóa giảm đi đáng kể, khu vực ASEAN với lợi thế nhân công giá rẻ sẽ gặp phải cạnh tranh khốc liệt. Tình trạng thất nghiệp hiện giữ ở mức 10%. Câu trả lời cho những thách thức này, theo Saadia...

Read More
Làm sao tạo ra được nạn đói vào năm 2016?
Jul01

Làm sao tạo ra được nạn đói vào năm 2016?

Phạm Nguyên Trường dịch Jeffrey Tucker, FEE Chỉ cần đi theo con đường của Venezuela. Tấn công vào quyền sở hữu và thương mại, cướp bóc những người giàu có, bãi bỏ hệ thống giá cả, bắt tù những người bất đồng chính kiến, nghiền nát phe đối lập, phá hủy hệ thống tự do tự nhiên, tức là hệ thống đã nuôi sống thế giới này. Đấy là chủ nghĩa xã hội. Đấy là con đường dẫn tới địa ngục trần gian. Một trong những thành tựu vĩ đại của tâm trí con người là tìm được giải pháp cho thách thức lớn nhất đối với sự sống trên trái đất: tìm được đủ thức ăn. So sánh với ăn thì chỗ ở và quần áo chỉ là chuyện vặt. Chỉ cần tìm được một cái hang và lột một tấm da là xong. Nhưng tìm kiếm thức ăn là vấn đề thường trực, không bao giờ chấm dứt. Kho đụn chưa đủ, phải có một hệ thống sản xuất liên tục. Năm 2016, cuối cùng, chúng ta đã có hệ thống như thế, nó có thể nuôi sống 7,4 tỷ người. Hiện nay hệ thống này mạnh đến nỗi các nước phát triển gặp vấn nạn ngược lại: bệnh béo phì. Việc tạo ra hệ thống này – bạn có thể nhìn thấy nó ở bất kỳ cửa hàng tạp hóa nào trong khu phố bên cạnh nhà bạn – là thách thức trước kì vọng của rất nhiều người trong thế kỷ XIX. Dân số đang bùng nổ với tốc độ không thể tin nổi. Làm sao nuôi được? Hầu hết các nhà trí thức đều không thể tưởng tượng nổi, làm sao chuyện như thế lại có thể xảy ra được! Nhưng nó đã xảy ra. Thị trường lương thực thực phẩm toàn cầu phức tạp, phát triển sâu rộng và năng suất cao đến nỗi khó mà phá vỡ được nó. Phải có nỗ lực phi thường thì mới tạo ra được nạn đói vào năm 2016. Phải có một hệ thống cưỡng bức toàn diện, tức là hệ thống tấn công tất cả các thiết chế đã làm cho sự thừa mứa trở thành khả thi: quyền sở hữu, thương mại quốc tế, hệ thống giá cả uyển chuyển, quyền được đổi mới trong lĩnh vực thương mại. Chủ nghĩa xã hội ra đòn Nhưng, có một hệ thống như thế. Tên của nó là “chủ nghĩa xã hội”. Người ta đang thử nghiệm nó trong một đất nước từng là quốc gia giàu có, dễ chịu và văn minh: đất nước có...

Read More
Các đô thị hiệu quả đóng vai trò then chốt giúp Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thu nhập cao
Jun28

Các đô thị hiệu quả đóng vai trò then chốt giúp Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thu nhập cao

Axel van Trotsenburg, theo World Bank Quá trình đô thị hóa nhanh chóng là một điểm nhấn quan trọng trong quá trình phát triển của Việt Nam trong những thập kỷ qua. Năm 1986 dân số đô thị của Việt Nam chỉ là dưới13 triệu người; hiện nay con số đó đã là 30 triệu. Các thành phố đã trở thành trụ cột phát triển mạnh mẽ, tăng trưởng kinh tế của khu vực đô thị cao gấp hai lần mức bình quân của cả nước, đóng góp trên một nửa tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Các khu vực đô thị ngày càng đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng, và điều đó không có gì đáng ngạc nhiên. Một thực tế được thừa nhận trên phạm vi toàn cầu là nếu quản lý tốt, quá trình đô thị hoá sẽ góp phần làm tăng năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế nhờ hiệu ứng tập trung, chẳng hạn như thị trường lao động sẽ có quy mô lớn hơn và hoạt động hiệu quả hơn, chi phí giao dịch thấp hơn và tri thức được lan tỏa dễ dàng hơn. Tuy nhiên, khi quan sát cụ thể hơn, có thể thấy đô thị hóa ở Việt Nam hiện nay cần những thay đổi lớn về tư duy để đảm bảo rằng quá trình này sẽ đóng góp toàn diện vào mục tiêu trở thành nước thu nhập cao. Việt Nam cần sắp xếp lại quá trình đô thị hóa để xây dựng những thành phố hiệu quả hơn – những thành phố có mật độ dân số vừa đủ, kết nối tốt trong nội bộ và trong vùng, cũng như được quản lý tốt. Bên cạnh đó, để phù hợp với ưu tiên mạnh mẽ của Việt Nam trong đảm bảo công bằng xã hội, các thành phố cũng cần đảm bảo rằng mọi người dân đều được hưởng lợi từ quá trình phát triển, không một nhóm người hoặc khu vực nào bị bỏ lại phía sau. Hiện nay, quá trình đô thị hóa đất đai đang diễn ra nhanh hơn đô thị hóa về dân số, dẫn đến việc giảm mật độ dân số và cản trở tăng năng suất lao động. Mô hình đô thị hoá hiện nay là chuyển đổi sử dụng đất để xây dựng khu công nghiệp và các khu đô thị manh mún, qui mô nhỏ. Tốc độ chuyển đổi sử dụng đất tăng nhanh hơn tốc độ tăng dân số và tạo việc làm. Các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí...

Read More
Tại sao các cuộc biểu tình đường phố kém hiệu quả?
Jun24

Tại sao các cuộc biểu tình đường phố kém hiệu quả?

Nguyễn Huy Hoàng biên dịch Moisés Naím, The Atlantic Các cuộc biểu tình đường phố đang thịnh hành. Từ Bangkok đến Caracas, từ Madrid đến Moskva, những ngày này không có tuần nào trôi qua mà không có tin tức về một đám đông lớn tập hợp trên đường phố của những thành phố lớn trên thế giới. Có nhiều lý do để biểu tình (hệ thống giao thông công cộng và giáo dục chất lượng kém và đắt đỏ, kế hoạch san bằng một công viên, tình trạng lạm quyền của cảnh sát…). Thông thường, cơn bất bình nhanh chóng lan rộng sang việc phủ nhận chính phủ, hoặc người đứng đầu cơ quan này, hoặc đến những tố cáo rộng hơn về tham nhũng và bất bình đẳng kinh tế. Hình ảnh chụp từ trên không các cuộc diễu hành chống chính phủ thường cho thấy một biển người giận dữ đòi hỏi sự thay đổi. Nhưng những gì mà những đám đông này đạt được lại ít đến đáng ngạc nhiên. Nguồn năng lượng chính trị dồi dào trên thực địa cực kỳ không tương xứng với những kết quả thực tế của các cuộc biểu tình này. Dĩ nhiên đã có những ngoại lệ đáng chú ý: Ở Ai Cập, Tusinia, và Ukraina, các cuộc biểu tình đường phố đã thực sự góp phần vào việc lật đổ chính phủ. Nhưng các cuộc biểu tình lớn nhất đã không tạo ra được những sự thay đổi đáng kể trong nền chính trị hoặc chính sách công. Phong trào Chiếm đóng phố Wall là một ví dụ điển hình. Ra đời vào mùa hè năm 2011 (không phải ở phố Wall mà ở Quảng trường Merdeka ở Kuala Lumpur), phong trào Chiếm đóng nhanh chóng lan rộng và sớm phổ biến tại gần 2.600 thành phố trên khắp thế giới. Các nhóm khác nhau tham gia biểu tình đã không có liên kết chính thức với nhau, không có hệ thống phân cấp rõ ràng, và hiển nhiên không có nhà lãnh đạo. Nhưng các mạng lưới xã hội đã giúp tái tạo phong trào trên diện rộng đến mức các mô hình cơ bản như cắm trại, biểu tình, gây quỹ, truyền thông, và tương tác với chính quyền đã trở nên tương đồng từ nơi này đến nơi khác. Cùng một thông điệp vang vọng ở mọi nơi: Không thể chấp nhận được việc tài sản toàn cầu tập trung trong tay của nhóm tinh hoa 1% trong khi 99% còn lại gần như chỉ có thể đủ sống. Đáng lẽ một sáng kiến...

Read More
%d bloggers like this: