Bài học từ thảm họa kinh tế Venezuela
Aug24

Bài học từ thảm họa kinh tế Venezuela

Trương Thái Tiểu Long biên dịch | Lê Hồng Hiệp biên tập, NCQT Ricardo Hausmann, Project Syndicate Mỗi khi chúng ta nghe tin một người bạn phải gánh chịu một thảm họa nào đó, ta thường cảm thấy đồng cảm và chênh vênh. Chúng ta tự hỏi rằng điều đó có thể xảy ra với mình hay không: Liệu thảm họa đó có phải là hệ quả của những đặc điểm bất thường mà chúng ta may mắn không gặp phải? Hay chúng ta cũng dễ bị tổn thương như thế? Nếu vậy thì chúng ta có thể làm gì để tránh khỏi một vận mệnh tương tự? Logic này cũng áp dụng được với các quốc gia. Vào những ngày cuối tuần 16-17/07, người Venezuela được phép sang biên giới Colombia tối đa 12 tiếng. Sự kiện này khiến người ta nhớ về sự sụp đổ của Bức tường Berlin. Hơn 135.000 người đã tận dụng cơ hội này để sang Colombia mua nhu yếu phẩm. Họ phải đi hàng trăm cây số và chỉ đổi được tiền theo tỉ giá chỉ bằng 1% tỉ giá chính thức để mua thực phẩm và thuốc men. Tuy vậy, họ vẫn cảm thấy xứng đáng trong bối cảnh nạn đói, thiếu hụt và tuyệt vọng tại quê nhà. Truyền thông quốc tế đã và đang đưa tin về sự sụp đổ của nền kinh tế, hệ thống y tế, an ninh cá nhân, cũng như hiến pháp và nhân quyền của Venezuela. Tất cả những điều này diễn ra tại quốc gia có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới chỉ hai năm sau khi đợt tăng giá dầu dài nhất trong lịch sử kết thúc. Tại sao? Tình trạng này có thể diễn ra ở nơi khác không? Những đặc điểm của bất kì tình huống nào cũng luôn đặc thù, và vì thế không thể áp dụng rập khuôn. Nhưng điều này mang đến cho chúng ta một cảm giác an tâm sai lầm. Nếu xem xét một cách thấu đáo, Venezuela có thể mang lại những bài học kinh nghiệm quý giá đối với các nước khác. Cuộc khủng hoảng tại Venezuela không phải do xui rủi. Trái lại, chính vận may mới là sợi dây thừng siết cổ một quốc gia. Khủng hoảng là hệ quả không thể tránh khỏi từ các chính sách của chính phủ. Trong trường hợp của Venezuela, những chính sách đó bao gồm sung công ép buộc, kiểm soát giá cả và tỉ giá, vay mượn quá mức thời đất nước còn ổn định, các quy định chống doanh nghiệp,...

Read More
Đâu là những quyền con người quan trọng nhất?
Aug23

Đâu là những quyền con người quan trọng nhất?

Hương Ly chuyể ngữ, CTV Phía Trước Emma Luxton, WEF Theo khảo sát mới đây của YouGov, quyền con người quan trọng nhất mà bạn nghĩ hóa ra lại phụ thuộc phần lớn vào nơi mà bạn sinh sống. Tổ chức bỏ phiếu này đã khảo sát người dân từ bảy hạt của châu Âu và Hoa Kỳ về 30 quyền con người được công bố bởi Liên Hiệp Quốc, Hội đồng châu Âu và Tuyên ngôn Nhân quyền Hoa Kỳ. Chúng cũng bao gồm các quyền có đặc điểm nổi bật có thể thấy ở các cuộc tranh luận gần đây trên truyền thông. Những người khảo sát được yêu cầu chọn 10 trong 30 quyền mà họ cho là quan trọng nhất. Những biểu đồ này từ i100 cho thấy phần trăm số người được khảo sát từ mỗi quốc gia bầu cho mỗi quyền. Sự tự do bầu cử đã được xếp như quyền con người quan trọng nhất trong năm trên tám quốc gia. Hoa Kỳ xem vấn đề tự do ngôn luận như là quyền quan trọng nhất của con người, xếp thứ ba là quyền tự do bầu cử. Tự do ngôn luận cũng được coi trọng ở Đức, nơi mà công dân của họ cũng thấy rằng việc này là quan trọng nhất. Trong tám quốc gia, hơn 50% người được khảo sát chọn tự do ngôn luận như là một trong những quyền con người quan trọng nhất – đó là quyền duy nhất nhận được 50% hoặc nhiều hơn từ tất cả các quốc gia. Quyền xét xử công bằng cũng được cho là một trong top 5 quyền quan trọng nhất bởi người dân đến từ nửa số quốc gia. Ở Anh thì quyền này được coi là quan trọng thứ hai, và được xếp thứ tư ở Hoa Kỳ, Đức và Thụy Điển. Quyền được tự do giáo dục và chăm sóc sức khỏe với chi phí thấp được cho là ưu tiên với hầu hết các nước. Tuy nhiên, Pháp và Hoa Kỳ đánh giá những quyền này thấp hơn so với các nước khác. Sự khác biệt trong lịch sử và văn hóa, đặc biệt với sự quan tâm về điều khoản dịch vụ công cộng có thể giải thích sự khác nhau giữa Hoa Kỳ và phần đông các nước châu Âu. Mĩ cũng khác các nước châu Âu về tự do tôn giáo, với số phiếu chọn quyền này ở Mĩ là 53%, nhưng đây vẫn là con số ít hơn 30% so với người dân ở hầu hết các quốc gia khác. Quyền...

Read More
Vai trò của kinh doanh trong việc bảo vệ nhân quyền ở ASEAN
Aug11

Vai trò của kinh doanh trong việc bảo vệ nhân quyền ở ASEAN

CTV Phía Trước chuyển ngữ Salil Shetty, Tổng Thư ký Amnesty International Nguồn: WEF Nếu ASEAN là một quốc gia độc lập, nó có thể đại diện cho nền kinh tế lớn thứ bảy trên thế giới. Tính tới năm 2050, các nhà tư vấn quản lý McKinsey đã dự đoán nền kinh tế của Đông Nam Á sẽ chiếm vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng GDP. Nếu các con số được điều chỉnh theo sức mua tương đương, họ đã đạt được vị trí đó rồi. Kể từ năm 2000, không một nơi nào ngoài Trung Quốc và Án Độ cho thấy sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ hơn khu vực này. Cùng lúc đó, tuy nhiên, nhân quyền tại khu vực Đông Nam Á lại là một điểm yếu. Trải khắp trên toàn khu vực, quyền tự do biểu đạt, tự do tụ tập đang bị xâm phạm một cách rõ rệt. Bởi giới chức trách đã gỡ bỏ sự lưu thông của tư bản, họ quay sang thiết lập kiểm soát lên sự lưu thông của quan điểm và ý tưởng – cả trực tuyến và ngoại tuyến. Và có thời điểm, khi phần đông thế giới đã hủy bỏ án tử hình, khu vực này vấn khiến người ta phải lo lắng về việc tiếp tục duy trì hình phát độc ác này. Qua nhiều thập kỷ, một cuộc tranh luận đã nổ ra trong khu vực cho rằng nhân quyền đại diện cho một truyền thống Tây phương cụ thể mà chẳng hề liên quan gì nhiều tới châu Á. Một số tiếng nói có sức ảnh hưởng đã bày tỏ quan điểm bảo vệ nhân quyền sẽ khiến cho tham vọng kinh tế của họ bị trì trệ. Tuy nhiên, cùng là một người châu Á, tôi phản đối luận điểm này. Amartya Sen, người đã nhận giải Nobel về kinh tế, đã nhận thấy rằng các nghiên cứu thực chứng “không đưa ra được bằng chứng cụ thể để hỗ trợ cho quan điểm cho rằng có một mâu thuẫn giữa nhân quyền và tăng trưởng kinh tế.” Thực vậy, bằng cách giới hạn và xâm phạm nhân quyền, các quốc gia sẽ phải đối mặt với rủi ro hạn chế khả năng của họ trong việc duy trì tham vọng kinh tế và cuối cùng sẽ bị tụt hậu. Tại Việt Nam, những người dân thường đã xuống đường biểu tình đòi giải trình trách nhiệm sau sự cố cá chết hàng loạt tại miền Trung. Phản hồi của Đảng Cộng sản cầm quyền, nực cười thay lại...

Read More
Ổn định xã hội và ổn định chính trị là gì?
Aug09

Ổn định xã hội và ổn định chính trị là gì?

Ổn định xã hội là gì? Ổn định xã hội là một quan điểm xã hội học cho rằng một nhóm luôn luôn tìm cách duy trì cân bằng bằng cách loại bỏ những ý tưởng và cá nhân không đồng ý với quan điểm phổ biến. Điều này giúp giữ cho xã hội được cân bằng và thúc đẩy sự chung sống hài hòa. Sự thiếu ổn định xã hội gây cách mạng và tình trạng bất ổn trong nhóm xã hội. Ổn định xã hội tập trung vào việc làm cách nào để tất cả các bộ phận khác nhau của xã hội tương hợp với nhau. Đó là một lối tư duy phấn đấu cho tính mềm mỏng trong mọi tương tác ở một nhóm xã hội, mà ưu tiên và khen thưởng các hành vi mà nhóm đó muốn khuyến khích và tìm cách để công khai kìm chế các hoạt động mà họ không mong muốn. Lý thuyết xã hội học này cũng được gọi là trạng thái cân bằng xã hội vì nó dựa trên ý tưởng cho rằng tất cả các tầng lớp xã hội muốn sống trong sự hài hòa và lọai bỏ những suy nghĩ và hành động mà trái ngược với kỳ vọng đó. Nguyên tắc này phổ biến trong các xã hội giáo điều, trong các nhóm và giới tôn giáo độc quyền. Nó phản đối ý kiến bên ngoài và thay vào đó cố gắng nhấn mạnh hợp tác với các thành viên khác của xã hội để duy trì một mạng lưới ổn định. Ổn định xã hội thường phải trải qua những thay đổi nhỏ theo thời gian. Khi các phương thức truyền thông và các công nghệ mới nổi lên, các nền văn hóa du nhập các khía cạnh phù hợp với tư tưởng của họ và làm cho cuộc sống của họ dễ dàng hơn. Điều này, đến lượi nó, sẽ gây ra những điều chỉnh đối với những gì đã được chấp nhận như là một phần của sự ổn định xã hội về lâu về dài. Ổn định chính trị là gì? Ổn định chính trị là độ bền vững và tính toàn vẹn của một chế độ chính quyền hiện hành. Điều này được xác định dựa trên lượng bạo lực và khủng bố diễn ra trong cả nước và bởi các công dân liên quan đến nhà nước. Một xã hội ổn định là một xã hội trong đó người dân hài lòng với đảng cầm quyền và hệ thống điều hành và không quan tâm đến ý tưởng...

Read More
Liệu ASEAN có thể cạnh tranh với những siêu cường kinh tế thế giới?
Jul29

Liệu ASEAN có thể cạnh tranh với những siêu cường kinh tế thế giới?

CTV Phía Trước chuyển ngữ Christopher Fossick, WEF Với sự thành lập chính thức của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015, ngày càng có nhiều những kỳ vọng rằng khối thương mại 10 nước Đông Nam Á này sẽ cho thấy được sức mạnh kinh tế của họ đối với thế giới. Với sự thay đổi trong tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc và Ấn Độ, nhiều nhà phê bình kinh tế và chính trị sẽ để ý tới sự phát triển của ASEAN khi mà cả thế giới tiếp tục đổ dồn sự chú ý vào châu Á. Đối với những ai đang làm kinh tế tại Đông Nam Á, những con số ấn tượng về sự phát triển của khu vực này không còn gì là xa lạ nữa. Nền kinh tế của khu vực này được dự đoán tăng trưởng 5% mỗi năm cho tới 2020, cao hơn tăng trưởng của thế giới là 3.52% mỗi năm. Dân số đô thị tại đây tăng với tốc độ 2.2% mỗi năm, trong khi dân số thuộc tầng lớp trung lưu được dự đoán sẽ tằng khoảng 70 triệu người, đạt 194 triệu người vào năm 2020. Và với hơn 600 triệu người, ASEAN có lực lượng lao động lớn thứ ba trên thế giới, chỉ đứng sau Trung Quốc và Ấn Độ. Nhưng đằng sau những con số lớn này, điều gì sẽ khiến ASEAN trở thành một lực lượng kinh tế đáng gờm? Đa phần thành công của nó sẽ phụ thuộc vào cách các quốc gia tại khu vực này tích lũy tư bản dự trên cơ hội to lớn tới từ các công nghệ mới nổi lên. Trọng tâm của điều này chính là thứ mà giáo sư Klaus Schwab đã gọi bằng thuật ngữ: Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư (Fourth Industrial Revolution.) Trong lĩnh vực bất động sản, chúng ta kỳ vọng những thay đổi sẽ tích cực và có tính chuyển đổi. Nghiên cứu của chúng tôi đã đưa đến kết luận rằng công nghệ sẽ cho phép nhiều quốc gia thành viên của ASEAN vượt lên khỏi những rào cản cơ sở hạ tầng và giới hạn phát triển để chuyển đổi cách thức mà công dân của họ làm việc, sống và vui chơi. Cách làm việc mới Khi nói về công việc, nhu cầu về văn phòng sẽ thay đổi bởi sự tăng trưởng mạnh trong việc thuê nhân công ở xa làm từ các thị trường đã phát triển, quy trình làm việc linh động hơn, và các không gian...

Read More
Điều gì đã phá hủy nền kinh tế Venezuela: Chính phủ kềnh càng và chủ nghĩa bài Mỹ
Jul27

Điều gì đã phá hủy nền kinh tế Venezuela: Chính phủ kềnh càng và chủ nghĩa bài Mỹ

Đỗ Đăng Khoa chuyển ngữ, CTV Phía Trước Panos Mourdoukoutas, Forbes Làm thế nào một đất nước giàu tài nguyên thiên nhiên và vốn con người có thể đưa cả dân tộc nước xuống con đường nghèo đói? Điều gì đã dẫn đến kết quả này? Việc này phải kể đến tổng thể một danh sách dài các chính sách thất bại của chính phủ vốn có từ nhiều thập kỷ qua, thậm chí trước thời chủ nghĩa xã hội Bolivar. Có một làn sóng quốc hữu hóa vào cuối thập niên 1970 và các kế hoạch phát triển mang tầm vốc quốc gia, ví dụ, nước này đã đặt các nguồn lực quan trọng của đất nước vào trong tay các quan chức chính phủ chứ không phải là những nhà quản lý chuyên nghiệp. “Một ngành kinh doanh sôi động cuối cùng không còn hoạt động hiệu quả do bị chính phu can thiệp nhiều lần hoặc quốc hữu hóa, và các đề án phát triển to lớn vốn tiêu xài phung phí tiền thuế của nhân dân,” Mark Mobius viết trên trang Emerging Markets. “Phần lớn các hoạt động này diễn ra dưới thời Tổng thống Carlos Andres Perez, đặc biệt trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông vào năm 1974. Tổng thống Perez đã tiến hành quốc hữu hóa nhiều ngành trong đó bao gồm các ngành công nghiệp dầu mỏ, công nghiệp sắt, mở rộng sang ngành công nghiệp thép, xây dựng dịch vụ khách sạn do nhà nước sở hữu, đóng tàu, và lên đến đỉnh điểm là sự ra đời của ngành công nghiệp nhôm.” Sau đó chính phủ kiểm soát giá cả và đưa ra chính sách trợ cấp dưới thời Tổng thống Caldera và các cố vấn kỳ lạ của ông, khiến dầu thô rẻ hơn so với dầu đã được chế biến. Việc này dẫn đến thâm hụt ngân sách và nợ chính phủ bắt đầu tăng vọt. Nhưng danh sách này còn nhiều hơn nữa. Chính phủ cũng kiểm soát thị trường tiền tệ, giúp cho các doanh nghiệp nước ngoài được nhiều lợi thế hơn so với các doanh nghiệp trong nước. Nước này còn có các phiên bản hiện đại của chủ nghĩa xã hội Bolivar, vốn mượn từ chủ nghĩa xã hội Castro của Cuba, và chủ nghĩa bài Mỹ từ Che Guevara và Salvatore Allende, để thêm vào nền kinh tế tai ương của Venezuela. Trong thực tế, việc bài Mỹ đã trở thành lý do dẫn đến rất nhiều thất bại trong chính sách kinh tế của Venezuela. Và bây giờ thì đến...

Read More
Tại sao chúng ta cần nói về quyền của bé gái ở Đông Á
Jul22

Tại sao chúng ta cần nói về quyền của bé gái ở Đông Á

Hà Trang chuyển ngữ, CTV Phía Trước Anne-Birgitte Albrectsen, WEF Châu Á là một châu lục không bao giờ ngủ. Các nền kinh tế nơi đây đã lớn mạnh và chuyển mình ở một tốc độ khó tin, tái định hình không gian xã hội và diện mạo theo những cách mà chúng ta chỉ dám tưởng tượng vào ba thập niên trước đây. Đặc biệt, các quốc gia ASEAN đang trải nghiệm một thay đổi lớn, cả khối ASEAN hợp lại đã trở thành nên kinh tế lớn thứ 7 thế giới vào năm 2011. Giờ đây, khi các nền kinh tế này hội nhập với nhau ngày càng mạnh mẽ thì càng mang tới sự niềm tin vào sự tăng trưởng và thay đổi xã hội còn lớn hơn nữa. Có vẻ đã tới lúc đưa ra câu hỏi khu vực này sẽ sẽ trỗi dậy như thế nào vào giai đoạn tiếp theo trong tương lai. Xét ở nhiều phương diện, điều này sẽ vẫn sẽ chỉ dừng lại ở những cuộc thảo luận xung quanh kinh tế, nhưng đối với tôi, vị trí kinh tế và xã hội của các bé gái đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong việc đảm bảo một tương lai thịnh vượng và bền vững trong khu vực. Cuộc đối thoại về quyền của các bé gái nghe có vẻ như không liên quan lắm trong bối cảnh này. Tuy nhiên, việc các bé gái được trao quyền để có thể học tập, trở thành lãnh đạo, đưa ra quyết định và phát triển sẽ là yếu tố trọng yếu giúp ASEAN tiếp tục thành công của mình. Cơ hội đã lớn, thách thức còn lớn hơn Sự tăng trưởng kinh tế đi đôi với sự phát triển năng động của xã hội đã tạo ra những cơ hội lớn, bao gồm cả cơ hội cho phụ nữ và trẻ em gái. Trên toàn châu Á, cùng với sự chuyển biến về kinh tế, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động. Ai cũng biết rằng khi có càng nhiều phụ nữ được đi làm, nền kinh tế sẽ tăng trưởng càng mạnh hơn. Ở châu Á, tiềm năng này chưa được tận dụng triệt để: người ta ước tính rằng châu Á thâm hụt 40 tỷ USD hàng năm do khoảng cách giới giữa nam và nữ trong giáo dục và việc làm gây ra. Khả năng phụ nữ được tuyển dụng ít hơn đàn ông khoảng 70%. Các nước ASEAN, cũng như các nước khác trên thế giới đang phải đối mặt...

Read More
Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của chúng ta
Jul21

Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của chúng ta

Phạm Nguyên Trường dịch Sean B. Carroll, Project-Syndicate Xin hình dung câu chuyện sau đây. Đấy là năm 1966. Bạn đang đứng trong một văn phòng chính phủ ở Washington, DC, và đang quan sát một quan chức vận đồng phục nói với một người mặc trang phục doanh nhân: “Nhiệm vụ của ông là tiêu diệt kẻ thù đã giết chết nhiều người hơn cả hai cuộc thế chiến cộng lại. Ông sẽ có một ngân khoản không lớn, một nhóm nhỏ nhân viên, và nếu ông thất bại, Bộ trưởng sẽ từ chối, sẽ nói, chẳng biết gì về công ciệc của ông”. Nghe như một cảnh trong phim Hollywood vậy. Và, đúng thế, là cảnh mở đầu của bộ phim Mission: Impossible (Nhiệm vụ bất khả), một bộ phim truyền hình được chiếu trong năm đó. Nhưng đã xảy ra đúng như thế, nếu không nói là chính xác những từ đó. Vị quan chức là tướng quân ý James Watt; còn người nhận nhiệm vụ là nhà khoa học Donald Henderson thuộc trung tâm Trung tâm các Bệnh truyền nhiễm(CDC), và kẻ thù là bệnh đậu mùa. Nhiệm vụ chắc chắn dường như là bất khả. Lúc đó, mỗi năm, bệnh đậu mùa giết chết hai triệu người, và làm cho 15 triệu khác mắc bệnh. Nhưng, tương tự như trong phim, Henderson và nhóm của ông ở Tổ chức Y tế Thế giới đã chấp nhận thách tức. Chỉ trong vòng hơn một thập kỷ, bệnh đậu mùa đã – và, cho đến nay là bệnh lây nhiễm duy nhất – bị xóa bỏ hoàn toàn. Chìa khóa dẫn tới thành công to lớn này không phải là – như người ta có thể nghĩ – bước đột phá lớn về y tế (vaccine đậu mùa đã có từ thế kỷ XVIII). Đấy là công tác ngoại giao, thái độ uyển chuyển và hợp tác. Ngay từ đầu, WHO đã không tin vào chiến dịch tiêm chủng. Nhiều người, trong đó có tổng giám đốc WHO, cho rằng, để chấm dứt bệnh đậu mùa, tất cả 1,1 tỷ người ở 31 nước bị ảnh hưởng, trong đó có cả những người sống trong những làng bản xa xôi, đều phải được tiêm phòng – đúng là một cơn ác mộng về mặt hậu cần. Đó là lý do vì sao các đại biểu của WHO lại tranh cãi trong nhiều ngày trước khi đồng ý, mỗi năm chỉ cung cấp 2,4 triệu USD cho nỗ lực này – quá ít, không đủ trang trải các chi phí vaccine chủng ngừa không được hiến tặng,...

Read More
%d bloggers like this: