Richard Nixon, Henry Kissinger và sự sụp đổ của Miền Nam (cuối)
Apr29

Richard Nixon, Henry Kissinger và sự sụp đổ của Miền Nam (cuối)

TS Đỗ Kim Thêm, CTV Phía Trước Vấn đề “Mỹ không thể bỏ Việt Nam” đó là một niềm tin son sắt của chính giới và người dân miền Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975. Hơn nữa, Việt Nam Cộng hòa (VNCH) với 1 triệu 1 quân nhân, một không lực đứng hàng thứ tư trên thế giới, kiểm soát trên 50% dân chúng và 75% lãnh thổ, không ai tin là có thể đầu hàng. Cuối cùng, chuyện không muốn đã đến khi Đồng Minh tháo chạy. Cho đến nay, vẫn còn có câu hỏi đặt ra là tại sao VNCH sụp đổ, vì trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, đã chưa có một trường hợp nào tương tự như vây đã xảy ra và các lý giải vẫn chưa thoả đáng. Lý do thật dễ hiểu: Việt Nam không còn các sử gia chân chính; nhiều cán bộ sử học của phe thắng cuộc đang tiếp tục làm nhiệm vụ tuyên truyền; các sử gia khả tín của phe thua cuộc không còn cơ hội lên tiếng; sử gia ngoại quốc cũng chẳng soi sáng được nội tình nhiều hơn vì là người ngoại cuộc. Thế hệ tham chiến không thể kể hết tiếng lòng của nạn nhân chiến cuộc; các tự sự qua ký ức cá nhân và ký ức tập thể mờ nhạt qua bụi thời gian. Vì không có một chương trình giáo dục khách quan cho thế hệ hậu chiến, nên các mờ ảo của lịch sử cận đại còn đó. Tổng Thống Richard Nixon và Cố vấn Henny Kissinger là hai chính khách trực tiếp can dự vào sự sụp đổ của VNCH. Richard Nixon đã thú nhận những sai lầm qua danh tác “No More Vietnam“. Henry Kissinger, vốn là nhà sử học và có nhiều trước tác liên quan; nhưng gần đây ông cũng cho là chưa có một tác phẩm nào về chiến tranh Việt Nam là khách quan và thuyết phục. Trước đống tro tàn của lịch sử, một câu hỏi được đặt lại là Richard Nixon và Henry Kissinger đã làm gì trong tiến trình Việt Nam Hoá chiến tranh và ai thắng ai thua trong sự sup đổ của VNCH; đó là nội dung của vấn đề ở đây và bài viết này là một thử nghiệm khiêm tốn. Xem thêm: Phần I Phần II Quốc hội và Watergate Sau khi người lính cuối cùng rời khỏi Việt Nam và Hà Nội trao trả 580 tù binh thì chính giới Hoa Kỳ không còn lý do để ủng hộ cho VNCH. Dù...

Read More
Richard Nixon, Henry Kissinger và sự sụp đổ của Miền Nam (II)
Apr27

Richard Nixon, Henry Kissinger và sự sụp đổ của Miền Nam (II)

TS Đỗ Kim Thêm, CTV Phía Trước Vấn đề “Mỹ không thể bỏ Việt Nam” đó là một niềm tin son sắt của chính giới và người dân miền Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975. Hơn nữa, Việt Nam Cộng hòa (VNCH) với 1 triệu 1 quân nhân, một không lực đứng hàng thứ tư trên thế giới, kiểm soát trên 50% dân chúng và 75% lãnh thổ, không ai tin là có thể đầu hàng. Cuối cùng, chuyện không muốn đã đến khi Đồng Minh tháo chạy. Cho đến nay, vẫn còn có câu hỏi đặt ra là tại sao VNCH sụp đổ, vì trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, đã chưa có một trường hợp nào tương tự như vây đã xảy ra và các lý giải vẫn chưa thoả đáng. Lý do thật dễ hiểu: Việt Nam không còn các sử gia chân chính; nhiều cán bộ sử học của phe thắng cuộc đang tiếp tục làm nhiệm vụ tuyên truyền; các sử gia khả tín của phe thua cuộc không còn cơ hội lên tiếng; sử gia ngoại quốc cũng chẳng soi sáng được nội tình nhiều hơn vì là người ngoại cuộc. Thế hệ tham chiến không thể kể hết tiếng lòng của nạn nhân chiến cuộc; các tự sự qua ký ức cá nhân và ký ức tập thể mờ nhạt qua bụi thời gian. Vì không có một chương trình giáo dục khách quan cho thế hệ hậu chiến, nên các mờ ảo của lịch sử cận đại còn đó. Tổng Thống Richard Nixon và Cố vấn Henny Kissinger là hai chính khách trực tiếp can dự vào sự sụp đổ của VNCH. Richard Nixon đã thú nhận những sai lầm qua danh tác “No More Vietnam“. Henry Kissinger, vốn là nhà sử học và có nhiều trước tác liên quan; nhưng gần đây ông cũng cho là chưa có một tác phẩm nào về chiến tranh Việt Nam là khách quan và thuyết phục. Trước đống tro tàn của lịch sử, một câu hỏi được đặt lại là Richard Nixon và Henry Kissinger đã làm gì trong tiến trình Việt Nam Hoá chiến tranh và ai thắng ai thua trong sự sup đổ của VNCH; đó là nội dung của vấn đề ở đây và bài viết này là một thử nghiệm khiêm tốn. Xem thêm: Phần I Tấn công Campuchia Thủ tướng Lon Nol đảo chính Hoàng thân Norodom Sihanouk vào ngày 18 tháng 3 năm 1970. Đến nay vẫn chưa xác định được là có CIA nhúng tay trong vụ này không. Hoa Kỳ thấy...

Read More
Richard Nixon, Henry Kissinger và sự sụp đổ của Miền Nam (I)
Apr26

Richard Nixon, Henry Kissinger và sự sụp đổ của Miền Nam (I)

TS Đỗ Kim Thêm, CTV Phía Trước Vấn đề “Mỹ không thể bỏ Việt Nam” đó là một niềm tin son sắt của chính giới và người dân miền Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975. Hơn nữa, Việt Nam Cộng hòa (VNCH) với 1 triệu 1 quân nhân, một không lực đứng hàng thứ tư trên thế giới, kiểm soát trên 50% dân chúng và 75% lãnh thổ, không ai tin là có thể đầu hàng. Cuối cùng, chuyện không muốn đã đến khi Đồng Minh tháo chạy. Cho đến nay, vẫn còn có câu hỏi đặt ra là tại sao VNCH sụp đổ, vì trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, đã chưa có một trường hợp nào tương tự như vây đã xảy ra và các lý giải vẫn chưa thoả đáng. Lý do thật dễ hiểu: Việt Nam không còn các sử gia chân chính; nhiều cán bộ sử học của phe thắng cuộc đang tiếp tục làm nhiệm vụ tuyên truyền; các sử gia khả tín của phe thua cuộc không còn cơ hội lên tiếng; sử gia ngoại quốc cũng chẳng soi sáng được nội tình nhiều hơn vì là người ngoại cuộc. Thế hệ tham chiến không thể kể hết tiếng lòng của nạn nhân chiến cuộc; các tự sự qua ký ức cá nhân và ký ức tập thể mờ nhạt qua bụi thời gian. Vì không có một chương trình giáo dục khách quan cho thế hệ hậu chiến, nên các mờ ảo của lịch sử cận đại còn đó. Tổng Thống Richard Nixon và Cố vấn Henny Kissinger là hai chính khách trực tiếp can dự vào sự sụp đổ của VNCH. Richard Nixon đã thú nhận những sai lầm qua danh tác “No More Vietnam“. Henry Kissinger, vốn là nhà sử học và có nhiều trước tác liên quan; nhưng gần đây ông cũng cho là chưa có một tác phẩm nào về chiến tranh Việt Nam là khách quan và thuyết phục. Trước đống tro tàn của lịch sử, một câu hỏi được đặt lại là Richard Nixon và Henry Kissinger đã làm gì trong tiến trình Việt Nam Hoá chiến tranh và ai thắng ai thua trong sự sup đổ của VNCH; đó là nội dung của vấn đề ở đây và bài viết này là một thử nghiệm khiêm tốn. Nhậm chức Tổng Thống và bổ nhiệm Cố vấn Sau bao năm thăng trầm trong chính trường, Nixon thắng cử và trở thành Tổng Thống thứ 37 của Hoa Kỳ. Ông là một luật sư có tài hùng biện, văn tài diễn đạt...

Read More
“Chính trị luận” của Aristotle và sự phê phán các mô hình xã hội
Apr02

“Chính trị luận” của Aristotle và sự phê phán các mô hình xã hội

Hà Thủy Nguyên Trích từ Book Hunter I – Góc nhìn chính trị của Aristotle “Chính trị luận” của Aristotle là một tác phẩm kinh điển mang tính chất đột phá trong lịch sử triết học và chính trị học không phải ở mức độ liệt kê quy mô mà ở tầm nhìn. Trước Aristotle, chính trị chỉ đơn thuần được xem như mối quan hệ giữa người cai trị và người bị trị trong một quốc gia. Thậm chí với Plato, người thầy của Aristotle, chính trị vẫn là một thứ mơ hồ được đóng khung trong mô hình nhà nước lý tưởng. Aristotle thì khác, ông là một triết gia hiếm hoi trong lịch sử thế giới thành công trong vai trò chính trị – là người thầy, cố vấn cho vị hoàng đế vĩ đại nhất Hy Lạp cổ đại: Alexadre Đại Đế. Bởi thế, ông nhìn chính trị với con mắt của người trong cuộc và thấy rằng chính trị là một lĩnh vực tổng thể: “Cũng giống như trong các ngành khác của khoa học, chính trị cũng vậy, một hợp chất luôn luôn có thể được phân giải ra thành những phần tử đơn giản hay nhỏ nhất của tổng thể. Do đó, chúng ta phải xem xét các phần tử cấu thành nhà nước, hầu có thể thấy được các luật lệ khác nhau của các loại chính quyền khác nhau như thế nào, và có thể rút ra được một kết luận khoa học nào chăng về mỗi loại chính quyền”. Trước khi là một triết gia, một nhà chính trị, Aristotle đã từng theo học học viện của Plato, và chịu ảnh hưởng trước tác cuối cùng của thày mình là “Luật pháp”. Nhưng sau khi Plato qua đời, Aristotle không phục người kế nhiệm học viện, nên đã rời bỏ Athens, du hành đây đó, thử nghiệm áp dụng tri thức bản thân trong suốt 12 năm. Sau đó, ông và người bạn thân là Xenocrates cùng với một số triết gia khác đã thành lập một Học viện chính trị tại đô thành Troad của vị vua độc tài Hermias. Ông trở thành bạn thân của Hermias và được vua gả cháu gái. Tại đâu, ông hiểu rõ hơn về chế độ quân chủ và hiểu thêm được các nguyên tắc thương mại, ngân hàng từ đô thành này. Một thời gian sau, Aristotle được vua Philip của xứ Macedonia mời đến Pella để dạy học cho hoàng tử Alexandre. Những tài liệu còn sót lại cho biết, Aristotle đã gửi cho Alexandre hai bản luận cương về...

Read More
Athens cổ đại
Mar24

Athens cổ đại

An Võ tóm lược, CTV Phía Trước Đặc điểm tự nhiên Kết cấu xây dựng hệ thống cấp nước cho thành phố Athen cổ đại chịu ảnh hưởng của một số yếu tố tự nhiên như địa hình, khí hậu. Ví dụ như do nẳm ở địa hình cao nguyên, Athens không có nhiều vùng đất bằng phẳng. Athens có thời tiêt mát mẻ nhưng hanh khô và lượng mưa hàng năm thấp, nước thường ở tình trạng khan hiếm, đặc biệt khi mật độ dân số thành thị tăng nhanh. Hệ thống cung cấp nước Hệ thống cấp nước cho Athens bao gồm nhiều cầu dẫn nước dưới lòng đất và trên bề mặt, giếng, bể chứa và các dòng suối. Giếng được đào và sử dụng phổ biến thời Hy Lạp cổ do vùng đất này không nhiều sông, hay kênh rạch. Giếng thường được đào ở sườn dốc. Bể chứa nước có nhiều kích cỡ khác nhau, có thể từ 10–130 m3 được đặt ở các hộ gia đình và nơi công cộng. Có nhiều loại bể chứa: bể lấy nước uống, bể lấy nước tắm giặt…. Bể có thể được đặt trên hoặc ngay dưới mặt đất. Bể trên mặt đất thường nhỏ, hẹp và có hình chữ nhật, được đậy bằng một cái nắp nhỏ để tránh nhiễm bẩn do bụi đất. Bể dưới mặt đất thường được làm từ đất sét và đá. Những bể chứa này thường có hình thù như quả chuông hay quả lê. Cầu dẫn nước: Do nhu cầu dùng nước của người dân Athens thời Hadrian, La Mã, nhiều cầu dẫn nước nổi trên mặt đất và trong lòng đất được xây dựng để lấy nước từ nguồn nước xa hơn về thành. Nước theo đường dẫn này sẽ chảy về các đài phun nước công cộng trong thành phố. Hệ thống xả thải Nước mưa, nước đã qua sử dụng ở các hộ gia đình hay khu vực công cộng, đều được thoát qua hệ thống xả thải. Hệ thống này không tách riêng hai loại nước thải trên. Nước thải được dẫn qua những kênh mở từ trong thành ra ngoài. Hộ gia đình nào cũng có một nhà vệ sinh và một ống thoát nước nhỏ. Nhà vệ sinh nơi công cộng như nhà hát, phòng tắm hơi được đặt gần hệ thống xả thải. Hệ thống thông nhà vệ sinh với đường dẫn nước thải chỉ bắt đầu được xây dựng vào năm 100 TCN. ________ Tham khảo: http://www.ancient.eu/aqueduct/ http://chain.eu/?m3=12807 Share on Facebook Scridb filterLike this:Like...

Read More
1956- 2016: kỷ niệm 60 năm Giai phẩm, Nhân văn
Mar23

1956- 2016: kỷ niệm 60 năm Giai phẩm, Nhân văn

Đặng Tiến, diễn đàn Orléans, ngày 24-3-2007 Hiệu đính 07- 3- 2016 Trích từ Book Hunter LTS. Rất nhiều sách báo đã viết về vụ đàn áp những văn nghệ sĩ chủ trương tạp chí “Nhân văn” và các “Giai phẩm” văn thơ ở Miền Bắc Việt Nam năm 1956, tới nay là đúng 60 năm. Góc cạnh chủ yếu trong phần lớn các bài viết là sự đàn áp trí thức trong một chế độ toàn trị. Điều này không sai, và bài viết mà chúng tôi đăng lại mới đây của nhà văn Lê Hoài Nguyên, tên thật là Thái Kế Toại, nguyên Đại tá công an, công tác tại A25 (chuyên theo dõi văn nghệ sĩ và văn hóa), nhấn mạnh tới khía cạnh  “NVGP trước hết là một trào lưu tư tưởng, một cuộc cách mạng văn học đòi hỏi dân chủ hóa ở miền Bắc Việt Nam năm 1954-1960” góp thêm những chứng từ trong chiều hướng đó của một người trong bộ máy. Tuy nhiên, có phải đó là khía cạnh duy nhất (hay duy nhất đáng lưu ý) về vụ án văn học – chính trị này? Kinh nghiệm cho thấy ta luôn luôn cần cảnh giác với những thông điệp mà Đảng Công sản muốn đưa ra, nói một chuyện nhưng đằng sau lại ẩn giấu nhiều chuyện khác, thường là quan trọng hơn. Bài viết dưới đây của Đặng Tiến phân tích vụ án dưới một “góc nhìn khác” (mượn chữ của nhà báo Trương Duy Nhất), gợi cho người đọc những câu hỏi lý thú liên quan tới cuộc tranh giành quyền lực ở chóp bu ĐCSVN, những câu hỏi không phải không liên quan tới tình hình đất nước hiện nay. Bài viết đã được đăng trên mạng Talawas năm 2007, tác giả hiệu đính lại và gửi Diễn Đàn nhân kỉ niệm 60 năm vụ án. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc. *** Giai phẩm và Nhân văn là tên hai ấn phẩm khác nhau. Giai phẩm là một tuyển tập thơ văn, phát hành đầu năm 1956 tại Hà Nội, ra được năm kỳ; Nhân văn là một tờ báo không định kỳ, xuất bản cuối 1956, ra được 5 số. Nhiều người có tên trong tuyển tập trước hợp tác với tờ báo sau. Nhưng cụm từ “Nhân văn Giai phẩm” ta thường nghe, tự thân nó là một thành ngữ vô nghĩa. Báo Nhân Văn và Giai phẩm 1956 Đảng quyền Hà Nội, cuối năm 1956 đã gôm hai tên lại với nhau thành một bản án văn học và chính trị. Thời đó “bọn“, “phần tử ” Nhân văn-Giai phẩm là một lời buộc tội nặng nề. Nhưng đồng thời ở miền...

Read More
Tổng quan về nền giáo dục Athens cổ đại
Mar22

Tổng quan về nền giáo dục Athens cổ đại

Trường Sơn, CTV Phía Trước Ngày 13 tháng 3 năm 2016 Giới thiệu chung Athens là trung tâm giáo dục, học thuật và văn hóa của Hy Lạp cổ đại, cái nôi của nền văn minh và thế giới tinh thần phương Tây. Mục đích chính của nền giáo dục Athens cổ đại là làm cho công dân được lớn lên trong nghệ thuật và mọi thành tựu tri thức, cũng như giúp họ luôn sẵn sàng cho thời bình và thời chiến. Trọng tâm thứ nhất của nền giáo dục sơ khai nhưng ưu việt này là bồi đắp song song phẩm chất đạo đức và khả năng thể chất của những học sinh. Tinh thần của nền giáo dục Athens có thể được tóm tắt trong một phương châm đã trở thành nền tảng của hầu hết nền giáo dục trên hành tinh này: Một trí tuệ lành mạnh trong một cơ thể tráng kiện[1]. Còn trọng tâm thứ hai là xây dựng ý thức về nền dân chủ và ý thức công dân song song với giáo dục con người. Các bậc giáo dục Tiểu học Giáo dục trí tuệ Ngay từ lúc 6 tuổi, trẻ em Athen đã được dạy tại nhà, có những đứa trẻ sớm làm học trò của những bậc thầy sư phạm. Bọn trẻ được dạy những điều căn bản về đạo đức, đến năm 7 tuổi thì chính thức bước vào chương trình giáo dục tiểu học. Bây giờ, những đứa trẻ được dạy cách đọc và viết, cũng như cách đếm và vẽ, cùng những bài học về âm nhạc và thể dục. Những bài học vỡ lòng từ cách đây hơn hai thiên niên kỷ đã được thiết kế rất bài bản, khởi đầu với bài học về chữ cái, rồi âm tiết, sau đó là kiến thức về từ vựng từ và cấu thức câu. Kỹ năng đọc và viết được dạy cùng một lúc. Khi những trẻ đã có thể đọc toàn bộ một quyển sách, chúng phải thường xuyên đọc thơ và học thuộc lòng. Những bài thơ quan trọng nhất với người Athens chính là những trích đoạn trong hai trường ca bất tử mà Homer để lại cho họ – Illiad và Odyssey. Điều quan trọng nhất là một nền giáo dục tiểu học tiến bộ như vậy lại dành cho tất cả cư dân của thành Athens, nghĩa là kể cả người nghèo. Tuy nhiên, trẻ em trong những gia đình thuộc thượng tầng xã hội sẽ được đào tạo chính quy và bài bản hơn, bởi phụ huynh của chúng luôn...

Read More
Tóm lược về chính trị Hy Lạp
Mar21

Tóm lược về chính trị Hy Lạp

Hương Ly tóm lược Chính trị Hy Lạp cổ đại Vào thời kì cùng với Aristotle (thế kỉ thứ tư TCN) có hàng trăm nền dân chủ Hy Lạp. Hy Lạp thời gian đó không phải là thực thể chính trị đơn nhất mà là một tập hợp hơn 1500 poleis tách biệt hay “những thành phố” rải rác quanh vùng Địa Trung Hải và Biển Đen. Những thành phố không phải là nền dân chủ hay chính trị đầu sỏ – nơi quyền lực rơi vào tay số ít những người giàu – hay chế độ quân chủ, còn gọi là “chính thể chuyên chế” nơi mà vua chúa có quyền lực độc nhất đã chiếm quyền lực bằng sự ép buộc thay vì thừa kế. Trong các nền dân chủ thì nền dân chủ lâu đời nhất, vững chắc nhất, trường tồn nhất, và cũng là căn bản nhất là nền dân chủ Athens. Những poleis nhỏ hơn có thể bị thống trị bởi các nước láng giềng lớn hơn, nhưng cuộc chinh phục hoặc sự cai trị trực tiếp của một thành bang khác xuất hiện khá hiếm. Thay vào đó, một nhóm poleis lập thành một liên minh. Sau đó trong thời kỳ cổ điển, các liên minh sẽ trở nên ít hơn và lớn hơn, được thống trị bởi một thành phố (đặc biệt là Athen, Sparta và Thebes), và thường các poleis sẽ bị ép buộc phải tham gia do bị đe dọa chiến tranh (hoặc như là một phần của một hiệp ước hòa bình). Ngay cả sau khi Philippos II của Macedonia ‘chinh phục’ phần trung tâm của Hy Lạp cổ đại, ông đã không cố gắng để sáp nhập vùng lãnh thổ ấy, hoặc thống nhất thành một tỉnh mới, nhưng chỉ đơn giản là bắt buộc các poleis tham gia Liên minh Corinth của riêng mình. Nền dân chủ Hy Lạp cổ đại Từ Hy Lạp cổ demokratia rất mơ hồ. Nó mang nghĩa đen là quyền lực con người. Nhưng những người nào sở hữu quyền lực? Liệu đó có phải là tất cả mọi người – đa số dân – hay chỉ một vài người, những công dân có đủ tư cách? Từ demos cũng có thể mang nghĩa đó. Có một giả thuyết rằng từ demokratia được đặt ra bởi những kẻ thù của nền dân chủ, những người giàu có và thuộc dòng dõi thượng lưu không thích thắng cử nhờ những tầng lớp thấp kém hơn. Nếu giả thuyết này đúng, thì dân chủ có ý nghĩa như “luật quần chúng” hay “chế độ độc tài của giai cấp vô sản”....

Read More
%d bloggers like this: