Nhà phê bình Thụy Khuê: “Viết lịch sử là đi tìm sự thực”
Feb11

Nhà phê bình Thụy Khuê: “Viết lịch sử là đi tìm sự thực”

Hà Thủy Nguyên thực hiện Nhà phê bình văn học Thụy Khuê vừa cho ra mắt Tiểu luận nghiên cứu “Khảo sát công trạng của những người Pháp giúp vua Gia Long”. Tiểu luận nghiên cứu này giúp chúng ta thấy những góc nhìn và dữ liệu lịch sử về giai đoạn chuyển giao quan trọng của lịch sử Việt Nam này. Sau đây là bài phỏng vấn nhà phê bình Thụy Khuê xoay quanh tác phẩm mới của bà và các vấn đề của lịch sử. HTN: Là một người sống ở nước ngoài tự học, tự nghiên cứu văn học Việt Nam, bà đã trở thành một nhà nghiên cứu, phê bình văn học có uy tín không chỉ với hải ngoại mà cả trong nước. Bà có thể chia sẻ với bạn đọc Văn Việt con đường đi tới thành công hiếm có như thế đối với một cây bút hải ngoại? Thụy Khuê: Tôi ở trong hoàn cảnh khá đặc biệt, năm 1962, khi đi du học, học về toán, rồi bỏ dở, lập gia đình, ở nhà trông con trong một thời gian dài, không để ý đến sách vở nói chung và văn học nói riêng. Bài đầu tiên đăng trên báo Tự Do, ở Bỉ, tháng 4/1985, là một đoản văn tựa đề Đường về Hà Nội, kể lại chuyến tôi về thăm quê mùa thu 1984, sau 30 năm xa cách. Chuyến đi và bài viết này khởi đầu cho ngõ quặt của một đời người. Lúc đó tôi 40 tuổi. Sau khi tiếp tục viết vài truyện ngắn và những bài phiếm luận được độc giả yêu thích, đôi khi có điểm sách, rất nhanh, tôi thấy phải chọn: hoặc tiếp tục sáng tác, hoặc chuyển sang phê bình, không thể làm cả hai, vì hai ngành đòi hỏi hai cách đọc và học khác nhau. Tôi chọn phê bình, vì nghĩ rằng: nước mình có quá ít người viết phê bình giá trị, còn sáng tác mình có nhiều nhà văn lớn. Khi đã quyết định, tôi bắt tay vào việc học ngay, vì có một khoảng trống gần 40 năm để lấp, bởi những người làm nghề này ở bên Pháp, ngoài tài năng, họ còn được rèn luyện kiến thức từ thủa ấu thời: chọn ban cổ điển, đậu cử nhân, tiến sĩ văn chương, là giáo sư đại học, v.v. Năm 1986, ở tuổi 42, tôi chỉ là một kẻ “vô học”, cho nên việc tự học không dễ dàng, bởi vì, tôi học trường Việt, vốn văn hóa Việt trình độ phổ thông, nhưng tiếng...

Read More
Cuộc xung đột Đại VIệt – Champa trong tiến trình lịch sử Việt Nam
Oct05

Cuộc xung đột Đại VIệt – Champa trong tiến trình lịch sử Việt Nam

Sự xung đột của hai nhà nước phong kiến Đại Việt và Champa là không thể tránh khỏi, bởi trong tư duy của giới lãnh đạo phong kiến thì tư tưởng bành trướng luôn đóng vai trò chỉ đạo, tùy thuộc vào sự hưng vong, sức mạnh của mỗi vương quốc qua các giai đoạn mà ưu thế giữa hai bên có sự thay đổi. Trên lãnh thổ Việt Nam của chúng ta đã từng chứng kiến sự ra đời và phát triển của ba vương quốc. Đó là vương quốc Văn Lang ở phía Bắc ra đời vào khoảng thế kỷ VII trước công nguyên, vương quốc Champa ở miền Trung ra đời vào khoảng thế kỷ II sau công nguyên và vương quốc Phù Nam ra đời ở phía Nam vào khoảng thế kỷ I sau công nguyên. Sự hưng thịnh của các vương quốc này mỗi thời kỳ một khác, ví như trong khi Âu Lạc đang chìm trong Bắc thuộc thì ở phía Nam vương quốc Phù Nam phát triển rất rực rỡ, đã áp đặt sự cai trị ở rất nhiều nơi trong đó có một phần đất Champa và Chân Lạp… Nhưng đến trước khi Âu Lạc giành được độc lập từ tay bọn đô hộ Trung Quốc thì Phù Nam đã suy yếu và diệt vong. Nhiều nhà nghiên cứu khi đánh giá việc đất nước thống nhất là sự xâm lược, thôn tính lãnh thổ, mạnh được yếu thua, cách ứng xử phong kiến mang nặng tính cục bộ mà cho rằng Đại Việt là của người Kinh (tức người Việt), Champa là của người Chiêm và đất Nam Bộ ngày nay thuộc quyền sở hữu của Chân Lạp (tức Campuchia sau này), cách nhìn này dễ gây ra tâm lí tỵ hiềm trong lòng dân tộc. Khi tìm hiểu về tình hình quản lý ở đồng bằng hay miền núi trước đây thì thấy rằng sự chặt chẽ hay lỏng lẻo có sự khác nhau ở từng vùng miền, nhưng lãnh thổ của quốc gia chung gắn bó với hai trung tâm chính trị của đất nước ở phía Bắc là Thăng Long (Hà Nội), phía Nam là Chà Bàn (thành Đồ Bàn, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định ngày nay). Giữa Đại Việt và Champa luôn luôn có sự tranh chấp. Sự tranh chấp đó là không thể tránh khỏi bởi tư duy bành trướng của giai cấp phong kiến hai nhà nước, luôn luôn xảy ra trình trạng xung đột tùy vào sự hưng vong của hai tập đoàn phong kiến ở hai miền, trong khi nhân dân...

Read More
Trung Quốc đã bại trận trong Đệ nhị Thế chiến
Sep22

Trung Quốc đã bại trận trong Đệ nhị Thế chiến

Trường Sơn chuyển ngữ, CTV Phía Trước Sergey Radchenko, Foreign Policy Ngày 3 tháng 9 năm 2015 Hãy quên đi cuộc diễu binh mừng chiến thắng của Bắc Kinh: vào năm 1945, Trung Quốc là kẻ bại trận. Ngày 3 tháng 9 vừa qua, chính phủ Trung Quốc đã tổ chức cuộc diễu binh lần thứ 15 kể từ khi nhà nước này được thành lập, cũng là lần đầu tiên để ăn mừng chiến thắng trước quân đội Nhật trong Thế chiến Thứ hai. Trong khi khẳng định cam kết “giữ gìn hòa bình thế giới”, theo như lời lẽ trong những tuyên bố chính thức của Bắc Kinh, cuộc diễu hành cũng cho thấy sức mạnh quân sự đã phát triển cao độ của Trung Quốc, với những vũ khí như tên lửa đạn đạo, xe tăng và máy bay chiến đấu. Mười hai ngàn quân đã diễu hành qua Thiên An Môn trước sự chứng kiến của giới quan chức cao cấp, gồm cả 30 nguyên thủ và lãnh đạo từ nhiều nước. Cuộc diễu hành giống như một nỗ lực phô diễn khí tài hơn là một biểu hiện thuần túy của sức mạnh: nó phản ánh một giả định để đưa Trung Quốc, đặc biệt là Đảng Cộng sản cầm quyền, vào trung tâm của cuộc đấu tranh chống phát xít và chủ nghĩa đế quốc toàn cầu. Cuộc diễu binh cũng cho thấy một động thái thay đổi lập trường. Đây là cuộc diễu hành quân sự đầu tiên được tổ chức vào một ngày không phải ngày 1 tháng 10, ngày kỷ niệm nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời trong năm 1949. Những cuộc diễu hành trong quá khứ phản ánh thời điểm Đảng Cộng sản Trung Quốc chiến thắng Quốc Dân Đảng sau cuộc nội chiến kéo dài bốn năm – kết thúc một “thế kỷ ô nhục” khởi sự từ những năm 1840 khi người Anh đánh bại Trung Quốc trong chiến tranh nha phiến. Năm 1949, như trong lời nói của cựu Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông, là năm người dân Trung Quốc đã “đứng dậy”. Tuy nhiên, có một thông điệp mới ở đây khẳng định rằng trong cuộc kháng chiến chống Nhật năm 1937–1945, Trung Quốc không chỉ đứng dậy, mà còn đứng dậy trong sự tự hào để sánh ngang với các siêu cường hàng đầu thế giới. Trung Quốc đã phải trả cái giá rất đắt để đánh bại một kẻ thù hùng mạnh – theo như thông điệp mới này – và thế giới nên biết ơn việc Trung...

Read More
Địa điểm khó tưởng tượng nhất của UNESCO: Thành cổ bỏ hoang của Việt Nam
Sep14

Địa điểm khó tưởng tượng nhất của UNESCO: Thành cổ bỏ hoang của Việt Nam

Phạm Nguyên Trường dịch Ron Emmons, theo CNN Việt Nam có ba thành cổ nằm trong danh sách di sản thế giới của UNESCO và cái gần đây nhất – và cũng là kỳ quặc nhất là thành nhà Hồ. Thành nhà Hồ, thủ đô của vương triều ngắn ngủi nhà Hồ, được xây bằng bốn bức tường bao quanh cánh đồng. Ngành du lịch đang phát triển có nghĩa là chấm dứt các hoạt động nông nghiệp và có thể ảnh hưởng tới đời sống của dân chúng trong vùng. Bạn có thể nghĩ rằng chính phủ cộng sản không muốn dây dưa với quá khứ đế quốc của mình, nhưng chế độ ở Việt Nam đã thấy giá trị trong việc kỷ niệm những hoàng đế đã thuộc về dĩ vãng và đưa những thành quách cổ xưa thành những điểm du lịch. Từ năm 1993, tám địa điểm ở Việt Nam – trong đó có ba thành cổ – đã được đưa vào danh sách di sản thế giới được UNESCO công nhận, bảy địa điểm nữa còn chờ phân loại chính thức Nhiều địa điểm trong số này có giá trị lớn về tự nhiên hay lịch sử, ví dụ như Vịnh Hạ Long và quần thể di tích ở Huế. Nhưng thành cổ vừa được UNESCO công nhận (năm 2011) là thành nhà Hồ hầu như chưa có mấy người biết, nằm ở tỉnh Thanh Hóa lạc hậu và xa xôi, cách Hà Nội khoảng 150 km, về phía nam. Việc trao cho thành nhà Hồ vinh dự như vậy là chuyện lạ vì hai lý do. Thứ nhất, triều đại nhà Hồ chỉ kéo dài bảy năm (1400-1407),chỉ là một giọt nước trong đại dương của lịch sử đầy sóng gió của Việt Nam. Thứ hai, đây là thành cổ bỏ hoang. Đúng  là không có cung điện, không có đền thờ, không có di tích, chỉ có bốn bức tường xung là những mảnh ruộng. Nhưng, theo UNESCO, thành này là “ví dụ điển hình cho một phong cách mới của thành phố hoàng gia ở Đông Nam Á”. Bị ý niệm về việc khám phá thành phố thời Trung cổ ở vùng nông thôn Việt Nam lôi cuốn, tôi quyết định khám phá tòa thành cổ bỏ hoang này. Thành cổ còn lại gì Tòa thành cổ này – được xây dựng trong vòng ba tháng và không dùng vữa – là một kỳ công đầy ấn tượng của kỹ thuật thế kỷ XV. Tôi liên lạc với một người bạn, tên Xuân, sống ở Ninh Bình, cách tòa thành khoảng...

Read More
‘Ngày 8 tháng 5 là ngày giải phóng’ (III)
Sep04

‘Ngày 8 tháng 5 là ngày giải phóng’ (III)

TS Đỗ Kim Thêm dịch, CTV Phía Trước Richard von Weizsäcker, Spiegel Online LND: Ngày 30 tháng 4 năm 1945 là ngày Hitler tự sát, ngày 8 tháng 5 năm 1945 là ngày Đức Quốc Xã đầu hàng vô điều kiện và thế chiến thứ hai chấm dứt. Một trang lịch sử của châu Âu lật qua và một giai đoạn mới để tái thiết hậu chiến khởi đầu. Ngày 8 tháng 5 năm 1985, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày thay đổi chế độ, Richard von Weizsäcker, Tổng thống nước Đức, đã đọc một bài diễn văn quan trọng tại Quốc Hội với chủ đề “Ngày 8 tháng 5 là ngày giải phóng”. Luận điểm chính của ông trong bài diễn văn này là ngày 8 tháng 5 không phải là một ngày để ăn mừng mà đánh dấu một sự sai lầm nghiêm trọng trong lịch sử của Đức. Ông kêu gọi tất cả mọi người phải có can đảm nhìn vào sự thật của lịch sử bằng một nhãn quan mới, thành tâm tuởng niệm cho tất cả mọi người đã nằm xuống do chế độ vô nhân đạo gây ra. Ông ca ngợi những nỗ lực tái thiết hậu chiến của toàn dân và nêu cao vai trò của nữ giới trong chiến tranh và xây dựng. Ông nhắc đến những tấm gương về tinh thần hoà giải dân tộc của Đức với những kẻ cựu thù. Đối với thế hệ hậu chiến, dù không có ký ức cá nhân và chịu trách nhiệm của các thế hệ cha ông, nhưng ông kêu gọi họ phải luôn tỉnh thức về các ký ức lịch sử và không để bị lôi cuốn vào những hận thù và chống đối nhau mà cố găng liên tục học hỏi để tìm cách chung sống với nhau trong tình hiếu hoà.     Richard Karl Freiherr von Weizsäcker (15.4.1920 – 31.01.2015) là Tổng Thống của nước Đức trong hai nhiệm kỳ 1984 – 1994. Với tài năng lãnh đạo, tinh thần trí thức dấn thân và đức độ liêm khiết, ông là một nhà chính trị mẫu mực của Đức được dân chúng và chính giới nể trọng. Ngày 8 tháng 5 năm 2015 là ngày đánh dấu bài diễn văn này đã được 30 năm mà vẫn còn được xem là có ý nghiã sâu xa về các vấn đề như tội ác, hận thù, ký ức, hoà giải và xây dựng của nước Đức mà Việt Nam có thể so sánh, dù bối cảnh dị biệt. Sau 40 năm xây dựng, nước Đức thua trận trở thành một...

Read More
Nhật Bản – Từ chiến tranh đến hòa bình
Aug25

Nhật Bản – Từ chiến tranh đến hòa bình

Trường Sơn chuyển ngữ, CTV Phía Trước Shinzo Abe, Project-Syndicate Bài phát biểu của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe trong ngày kỷ niệm 70 năm kết thúc Thế chiến Thứ hai Tokyo – Nhân dịp kỷ niệm 70 năm kết thúc chiến tranh, chúng ta hãy cùng bình tâm suy ngẫm về con đường đã dẫn chúng ta đến chiến tranh, hành trình tái thiết mà chúng ta theo đuổi sau khi chiến tranh kết thúc cũng như về chính thời đại của thế kỷ XX. Chúng ta phải rút ra được, từ kinh nghiệm xương máu của lịch sử, sự khôn ngoan để dẫn dắt tương lai. Hơn một trăm năm trước đây, hệ thống rộng lớn các nước thuộc địa, với mẫu quốc chủ yếu là các cường quốc phương Tây, đã trải dài trên khắp thế giới. Với ưu thế áp đảo về kỹ thuật, làn sóng xâm lăng của chủ nghĩa thực dân phương Tây đã tràn đến châu Á trong thế kỷ XIX. Chắc chắn rằng hệ quả của một thời đại hỗn mang như vậy đã dẫn Nhật Bản đến con đường hiện đại hóa. Nước Nhật đã thành lập được chính phủ hợp hiến sớm hơn bất cứ quốc gia nào khác ở châu Á, và duy trì nền độc lập như vậy trong suốt thời gian dài. Chiến tranh Nga–Nhật đã trở thành nguồn khích lệ lớn giữa sự cai trị của chủ nghĩa thực dân trải dài từ châu Á đến châu Phi. Sau Thế chiến Thứ nhất, phong trào tự quyết đã được thúc đẩy mạnh mẽ và hãm lại đà tiến của chủ nghĩa thực dân. Đó là một cuộc chiến tranh khủng khiếp đã lấy đi sinh mạng của hơn mười triệu người. Với một khát khao hòa bình mạnh mẽ, các nước đã cùng thành lập Hội Quốc liên và tuyên bố Hiệp ước cùng Từ bỏ Chiến tranh. Giữa cộng đồng quốc tế đã xuất hiện một chuyển động mới với tinh thần bài trừ chiến tranh. Lúc đầu, Nhật Bản đã giữ được mình tránh khỏi ảnh hưởng của thời đại đầy bất trắc ấy. Nhưng cuộc Đại Suy thoái Kinh tế xảy ra ở các nước phương Tây và họ phải tiến hành những yêu sách kinh tế liên quan đến tài sản các nước thuộc địa, nền kinh tế Nhật Bản theo đó phải chịu một cú sốc lớn. Trong hoàn cảnh như vậy, ý thức về sự cô lập mà nước Nhật phải chịu đựng ngày càng gia tăng. Người Nhật đã cố gắng vượt qua mọi bế tắc ngoại...

Read More
19/08/1991: Đảo chính tại Liên Xô
Aug21

19/08/1991: Đảo chính tại Liên Xô

Nguyễn Huy Hoàng biên dịch & hiệu đính Trích từ Nghiên cứu Quốc tế Vào ngày này năm 1991, Tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachev bị đặt dưới sự quản thúc tại gia trong một cuộc đảo chính do các thành viên cấp cao trong chính phủ cùng lực lượng quân đội và cảnh sát tiến hành. Kể từ khi trở thành Tổng Bí thư Đảng Cộng sản năm 1985 và Tổng thống Liên Xô năm 1988, Gorbachev đã theo đuổi nhiều cải cách toàn diện trong hệ thống Xô viết. Kết hợp perestroika (cải tổ) nền kinh tế – trong đó chú trọng hơn vào các chính sách thị trường tự do – và glasnost (cởi mở hay công khai hóa) trong ngoại giao, ông đã cải thiện đáng kể quan hệ với nhiều nền dân chủ phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ. Nhưng trong khi đó, trong nội bộ Liên Xô, Gorbachev phải đối mặt với nhiều chỉ trích mạnh mẽ, trong đó có các chính trị gia thủ cựu theo đường lối cứng rắn và các quan chức quân sự, những người cho rằng Gorbachev đang đưa Liên Xô đến bờ vực sụp đổ và đánh mất quyền lực của đất nước. Mặt khác, những nhà cải cách thậm chí còn cấp tiến hơn – đặc biệt là Boris Yeltsin, tổng thống của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa quyền lực nhất là Nga – cũng chê trách rằng Gorbachev hành động không đủ nhanh. Cuộc đảo chính tháng 8 năm 1991 được tiến hành bởi những người có đường lối cứng rắn trong chính quyền Gorbachev, cũng như các lãnh đạo quân đội Liên Xô và Ủy ban An ninh Quốc gia (KGB), hay cảnh sát mật. Trong căn nhà nghỉ dưỡng của mình ở Crimea, Gorbachev bị quản thúc và ép phải tuyên bố từ chức, nhưng ông đã từ chối. Tuyên bố rằng Gorbachev bị bệnh, các lãnh đạo cuộc đảo chính, đứng đầu là cựu Phó Chủ tịch Gennady Yanayev, ban bố tình trạng khẩn cấp và cố gắng kiểm soát chính phủ. Sau đó Yeltsin và những người ủng hộ ông trong Quốc hội đã can thiệp, kêu gọi người dân Nga tấn công và phản đối cuộc đảo chính. Khi quân đội cố gắng bắt giữ Yeltsin, họ đã vấp phải sự phản kháng của người dân có và không có vũ trang đang phong tỏa các con đường dẫn tới Quốc hội. Yeltsin leo lên một chiếc xe tăng và nói qua loa phóng thanh, đề nghị quân đội không quay lưng chống lại người dân và lên...

Read More
Những khoảnh khắc quan trọng trong mối quan hệ Hoa Kỳ – Cuba
Aug03

Những khoảnh khắc quan trọng trong mối quan hệ Hoa Kỳ – Cuba

Lê Duy Nam chuyển ngữ, CTV Phía Trước José Santigo, World Economic Forum Vào ngày 17 tháng Mười hai năm 2014, chính quyền Obama tuyên bố sẽ giảm cấm vận đối với hòn đảo ở Caribe – đặt nền móng cho mối quan hệ ngoại giao bình thường hóa giữa hai nước. Điều này được xác nhận trong Hội nghị Thượng Đỉnh châu Mỹ, được tổ chức tại Panama vào tháng Tư năm 2015, nơi Tổng thống Barack Obama và Raúl Castro bắt tay nhau, đánh dấu cuộc gặp gỡ chính thức đầu tiên giữa lãnh đạo hai nhà nước. Bộ trưởng Bộ Tài chính Cuba, Lina Pedraza Rodríguez, đề cập lại việc bình thường hóa quan hệ trong khi tham dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Mỹ Latin tại Mexico trong tháng Năm. Vào ngày 20 tháng Bảy, Cuba và Hoa Kỳ đã phục hồi quan hệ ngoại giao sau 54 năm bằng việc tái mở cửa đại sứ quán – tín hiệu cho sự sẵn sàng hợp tác sau mối quan hệ đầy căng thẳng và sóng gió. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều rào cản cần phải được dẹp bỏ để hai nước tiến đến mối quan hệ bình thường hóa trọn vẹn hơn. Quốc hội sẽ phải dỡ bỏ cấm vận thương mại để cho phép xuất khẩu, nhập khẩu và đầu tư xuyên qua Dải Florida, và những khác biệt giữa hai chính phủ cho thấy rõ rằng sẽ còn một quảng đường dài phía trước sau hàng thập kỷ mất niềm tin. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao John Kerry phát biểu tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ khi ông đứng ngay cạnh người đồng nghiệp tại Cuba, Bruno Rodríguez: “Cột mốc này không đánh dấu sự kết thúc đối với những khác biệt hiện vẫn chia cách hai chính phủ chúng ta”, ông Kerry phát biểu. “Nhưng nó phản ánh hiện thực đó là Chiến tranh Lạnh đã kết thúc lâu rồi và những lợi ích của hai quốc gia sẽ nhiều hơn bởi sự hợp tác chứ không phải sự ghẻ lạnh.” Với kỷ nguyên mới, hợp tác và hữu nghị, chúng tôi đã tổng hợp những khoảnh khắc quan trọng liên quan tới cấm vận kinh tế Cuba: 1960 – Sau khi Fidel Castro lên nắm quyền vào năm 1959 và quốc hữu hóa tất cả các doanh nghiệp Hoa Kỳ trên quốc đảo này, Tổng thống Dwight Eisenhower đã cấm vận hầu như tất cả các thương mại giữa Hoa Kỳ và Cuba, đóng băng mọi tài sản của Cuba tại Hoa Kỳ. Tất cả các quan hệ ngoại...

Read More
%d bloggers like this: