Mượn tiểu thuyết “Hồ Quý Ly” để lạm bàn về thất bại mang tính hệ thống
Aug12

Mượn tiểu thuyết “Hồ Quý Ly” để lạm bàn về thất bại mang tính hệ thống

Nguyễn Phương Mạnh Trích từ Book Hunter Giới thiệu về tiểu thuyết “Hồ Quý Ly” Tiểu thuyết lịch sử “Hồ Quý Ly” của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh làm sống lại thời kì nhà Trần suy tàn – một thời kì sóng gió, đầy bi thương của dân tộc Việt Nam. Cuốn sách có nhiều điểm đặc sắc như hình ảnh danh lam thắng cảnh Đại Việt, chân dung trai tài gái sắc của đất nước, chất thơ trong ngôn từ…. Trong những điểm trên, một điểm đã đưa tiểu thuyết “Hồ Quý Ly” vượt ra khỏi lối viết “cuộc chiến giữa người tốt – kẻ xấu” thông thường và vươn lên trở thành tác phẩm truyện lịch sử xuất sắc là sự thất bại mang tính hệ thống của vương triều Trần. Định nghĩa thất bại mang tính hệ thống Để hiểu được vì sao sự thất bại của triều Trần trong tiểu thuyết “Hồ Quý Ly” lại là sự thất bại mang tính hệ thống, trước hết chúng ta phải hiểu được thất bại mang tính hệ thống (systemic failure) là gì. Thất bại là biểu hiện không quá hiếm gặp ở các thiết bị, cơ quan xung quanh ta, ví dụ như máy tính bị treo, điện thoại bị hỏng, dạ dày bị đau, mô bên trong mũi tiết dịch gây sổ mũi… Chúng ta thường không coi đây là thất bại mang tính hệ thống, mà chỉ là thất bại của một đơn vị. Thất bại mang tính hệ thống là một dạng thất bại đặc biệt: từng phần tử của một hệ thống vẫn hoạt động như theo thiết kế hoặc như theo kiểu mẫu trong quá khứ, nhưng sự tương tác giữa chúng lại khiến cho toàn bộ hệ thống thất bại. Dạng thất bại này hiếm gặp hơn, khó khắc phục hơn, và khi xảy ra lại tạo nên hậu quả khó lường hơn. Thất bại mang tính hệ thống được thấy trong tiểu thuyết “Hồ Quý Ly” thuộc dạng thất bại do tích tụ áp lực ngầm lên hệ thống trong thời gian dài, làm yếu đi các mắt xích, tha hóa các phần tử, làm căng thẳng các mối liên kết. Khi áp lực ngầm được tích tụ đủ, chỉ cần một biến cố nhỏ cũng làm nên ảnh hưởng lớn, chấn động các quá trình diễn ra trong hệ thống đó, từ đó tạo nên thất bại mang tính hệ thống. Chi tiết về quá trình thất bại này có thể xem ở phần phụ lục. Vì sao câu chuyện được đề cập trong tiểu thuyết “Hồ Quý Ly”...

Read More
Nguồn gốc Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa Hoa Kỳ
Aug01

Nguồn gốc Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa Hoa Kỳ

Nguyễn Thị Kim Phụng biên dịch | Lê Hồng Hiệp biên tập, trích từ NCQT Melanie Mayne, TodayIfindout Dù rằng hiện tại Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa Mỹ có vẻ như cực kỳ đối lập, nhưng nguồn gốc của hai đảng này thì không như vậy. Thực chất, cả hai đều bắt nguồn từ một đảng duy nhất, Đảng Dân chủ- Cộng hòa (Democratic-Republican Party), thành lập năm 1791 bởi James Madison và Thomas Jefferson. Mục đích của Đảng Dân chủ- Cộng hòa khi ấy là nhằm đối lập với Đảng Liên bang (Federalist Party) trong những cuộc bầu cử sau đó. Đảng Dân chủ- Cộng hòa ủng hộ quyền của các tiểu bang, và việc diễn giải chặt chẽ Hiến pháp theo đúng nghĩa đen. Họ cũng ưu tiên hỗ trợ tài chính và pháp lý cho nền nông nghiệp dựa trên hộ gia đình. Vì sợ Mỹ sẽ giống với chế độ quân chủ nước Anh, Đảng Dân chủ- Cộng hòa chống lại giới tinh hoa. Họ xem thường và sợ hãi những người thuộc Đảng Liên bang, những quý tộc cực kỳ giàu có, những người muốn tạo ra một ngân hàng liên bang, và đề cao sức mạnh của chính quyền liên bang chứ không phải là chính quyền tiểu bang. Đảng Dân chủ-Cộng hòa đã cố gắng ngăn chặn chính quyền Mỹ trở nên tương tự chế độ quân chủ. Chính nhờ nỗi sợ chế độ quân chủ phổ biến trong giới công nhân và nông dân, uy tín của đảng này ngày một tăng trong suốt những năm 1790. Chiến thắng của Thomas Jefferson trong cuộc bầu cử năm 1801 đã đưa Đảng Dân chủ- Cộng hòa lên nắm quyền. Đến sau Chiến tranh Mỹ – Anh (1812), Đảng Liên bang mất dần sự ủng hộ và đi tới chỗ giải tán, khiến Đảng Dân chủ- Cộng hòa không còn bị đảng nào đối lập. Sang giai đoạn 1815 – 1832, tổ chức của Đảng Dân chủ- Cộng hòa dần dần trở nên lỏng lẻo. Không còn áp lực cạnh tranh, họ cũng chẳng cần đến một mặt trận thống nhất. Các bang bắt đầu đề cử đại cử tri của địa phương mình, những người mang nặng lợi ích cá nhân. Điều này khiến nội bộ đảng bị chia thành nhiều phe phái. Cụ thể, sự chia rẽ này đã dẫn đến việc thành lập Đảng Dân chủ hiện đại, cùng với một đảng chính trị khác là Đảng Whig vào năm 1828. Đảng Dân chủ, lãnh đạo bởi Andrew Jackson và Martin Van Buren, bao gồm thành phần nông...

Read More
Richard Nixon, Henry Kissinger và sự sụp đổ của Miền Nam (cuối)
Apr29

Richard Nixon, Henry Kissinger và sự sụp đổ của Miền Nam (cuối)

TS Đỗ Kim Thêm, CTV Phía Trước Vấn đề “Mỹ không thể bỏ Việt Nam” đó là một niềm tin son sắt của chính giới và người dân miền Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975. Hơn nữa, Việt Nam Cộng hòa (VNCH) với 1 triệu 1 quân nhân, một không lực đứng hàng thứ tư trên thế giới, kiểm soát trên 50% dân chúng và 75% lãnh thổ, không ai tin là có thể đầu hàng. Cuối cùng, chuyện không muốn đã đến khi Đồng Minh tháo chạy. Cho đến nay, vẫn còn có câu hỏi đặt ra là tại sao VNCH sụp đổ, vì trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, đã chưa có một trường hợp nào tương tự như vây đã xảy ra và các lý giải vẫn chưa thoả đáng. Lý do thật dễ hiểu: Việt Nam không còn các sử gia chân chính; nhiều cán bộ sử học của phe thắng cuộc đang tiếp tục làm nhiệm vụ tuyên truyền; các sử gia khả tín của phe thua cuộc không còn cơ hội lên tiếng; sử gia ngoại quốc cũng chẳng soi sáng được nội tình nhiều hơn vì là người ngoại cuộc. Thế hệ tham chiến không thể kể hết tiếng lòng của nạn nhân chiến cuộc; các tự sự qua ký ức cá nhân và ký ức tập thể mờ nhạt qua bụi thời gian. Vì không có một chương trình giáo dục khách quan cho thế hệ hậu chiến, nên các mờ ảo của lịch sử cận đại còn đó. Tổng Thống Richard Nixon và Cố vấn Henny Kissinger là hai chính khách trực tiếp can dự vào sự sụp đổ của VNCH. Richard Nixon đã thú nhận những sai lầm qua danh tác “No More Vietnam“. Henry Kissinger, vốn là nhà sử học và có nhiều trước tác liên quan; nhưng gần đây ông cũng cho là chưa có một tác phẩm nào về chiến tranh Việt Nam là khách quan và thuyết phục. Trước đống tro tàn của lịch sử, một câu hỏi được đặt lại là Richard Nixon và Henry Kissinger đã làm gì trong tiến trình Việt Nam Hoá chiến tranh và ai thắng ai thua trong sự sup đổ của VNCH; đó là nội dung của vấn đề ở đây và bài viết này là một thử nghiệm khiêm tốn. Xem thêm: Phần I Phần II Quốc hội và Watergate Sau khi người lính cuối cùng rời khỏi Việt Nam và Hà Nội trao trả 580 tù binh thì chính giới Hoa Kỳ không còn lý do để ủng hộ cho VNCH. Dù...

Read More
Richard Nixon, Henry Kissinger và sự sụp đổ của Miền Nam (II)
Apr27

Richard Nixon, Henry Kissinger và sự sụp đổ của Miền Nam (II)

TS Đỗ Kim Thêm, CTV Phía Trước Vấn đề “Mỹ không thể bỏ Việt Nam” đó là một niềm tin son sắt của chính giới và người dân miền Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975. Hơn nữa, Việt Nam Cộng hòa (VNCH) với 1 triệu 1 quân nhân, một không lực đứng hàng thứ tư trên thế giới, kiểm soát trên 50% dân chúng và 75% lãnh thổ, không ai tin là có thể đầu hàng. Cuối cùng, chuyện không muốn đã đến khi Đồng Minh tháo chạy. Cho đến nay, vẫn còn có câu hỏi đặt ra là tại sao VNCH sụp đổ, vì trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, đã chưa có một trường hợp nào tương tự như vây đã xảy ra và các lý giải vẫn chưa thoả đáng. Lý do thật dễ hiểu: Việt Nam không còn các sử gia chân chính; nhiều cán bộ sử học của phe thắng cuộc đang tiếp tục làm nhiệm vụ tuyên truyền; các sử gia khả tín của phe thua cuộc không còn cơ hội lên tiếng; sử gia ngoại quốc cũng chẳng soi sáng được nội tình nhiều hơn vì là người ngoại cuộc. Thế hệ tham chiến không thể kể hết tiếng lòng của nạn nhân chiến cuộc; các tự sự qua ký ức cá nhân và ký ức tập thể mờ nhạt qua bụi thời gian. Vì không có một chương trình giáo dục khách quan cho thế hệ hậu chiến, nên các mờ ảo của lịch sử cận đại còn đó. Tổng Thống Richard Nixon và Cố vấn Henny Kissinger là hai chính khách trực tiếp can dự vào sự sụp đổ của VNCH. Richard Nixon đã thú nhận những sai lầm qua danh tác “No More Vietnam“. Henry Kissinger, vốn là nhà sử học và có nhiều trước tác liên quan; nhưng gần đây ông cũng cho là chưa có một tác phẩm nào về chiến tranh Việt Nam là khách quan và thuyết phục. Trước đống tro tàn của lịch sử, một câu hỏi được đặt lại là Richard Nixon và Henry Kissinger đã làm gì trong tiến trình Việt Nam Hoá chiến tranh và ai thắng ai thua trong sự sup đổ của VNCH; đó là nội dung của vấn đề ở đây và bài viết này là một thử nghiệm khiêm tốn. Xem thêm: Phần I Tấn công Campuchia Thủ tướng Lon Nol đảo chính Hoàng thân Norodom Sihanouk vào ngày 18 tháng 3 năm 1970. Đến nay vẫn chưa xác định được là có CIA nhúng tay trong vụ này không. Hoa Kỳ thấy...

Read More
Richard Nixon, Henry Kissinger và sự sụp đổ của Miền Nam (I)
Apr26

Richard Nixon, Henry Kissinger và sự sụp đổ của Miền Nam (I)

TS Đỗ Kim Thêm, CTV Phía Trước Vấn đề “Mỹ không thể bỏ Việt Nam” đó là một niềm tin son sắt của chính giới và người dân miền Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975. Hơn nữa, Việt Nam Cộng hòa (VNCH) với 1 triệu 1 quân nhân, một không lực đứng hàng thứ tư trên thế giới, kiểm soát trên 50% dân chúng và 75% lãnh thổ, không ai tin là có thể đầu hàng. Cuối cùng, chuyện không muốn đã đến khi Đồng Minh tháo chạy. Cho đến nay, vẫn còn có câu hỏi đặt ra là tại sao VNCH sụp đổ, vì trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, đã chưa có một trường hợp nào tương tự như vây đã xảy ra và các lý giải vẫn chưa thoả đáng. Lý do thật dễ hiểu: Việt Nam không còn các sử gia chân chính; nhiều cán bộ sử học của phe thắng cuộc đang tiếp tục làm nhiệm vụ tuyên truyền; các sử gia khả tín của phe thua cuộc không còn cơ hội lên tiếng; sử gia ngoại quốc cũng chẳng soi sáng được nội tình nhiều hơn vì là người ngoại cuộc. Thế hệ tham chiến không thể kể hết tiếng lòng của nạn nhân chiến cuộc; các tự sự qua ký ức cá nhân và ký ức tập thể mờ nhạt qua bụi thời gian. Vì không có một chương trình giáo dục khách quan cho thế hệ hậu chiến, nên các mờ ảo của lịch sử cận đại còn đó. Tổng Thống Richard Nixon và Cố vấn Henny Kissinger là hai chính khách trực tiếp can dự vào sự sụp đổ của VNCH. Richard Nixon đã thú nhận những sai lầm qua danh tác “No More Vietnam“. Henry Kissinger, vốn là nhà sử học và có nhiều trước tác liên quan; nhưng gần đây ông cũng cho là chưa có một tác phẩm nào về chiến tranh Việt Nam là khách quan và thuyết phục. Trước đống tro tàn của lịch sử, một câu hỏi được đặt lại là Richard Nixon và Henry Kissinger đã làm gì trong tiến trình Việt Nam Hoá chiến tranh và ai thắng ai thua trong sự sup đổ của VNCH; đó là nội dung của vấn đề ở đây và bài viết này là một thử nghiệm khiêm tốn. Nhậm chức Tổng Thống và bổ nhiệm Cố vấn Sau bao năm thăng trầm trong chính trường, Nixon thắng cử và trở thành Tổng Thống thứ 37 của Hoa Kỳ. Ông là một luật sư có tài hùng biện, văn tài diễn đạt...

Read More
“Chính trị luận” của Aristotle và sự phê phán các mô hình xã hội
Apr02

“Chính trị luận” của Aristotle và sự phê phán các mô hình xã hội

Hà Thủy Nguyên Trích từ Book Hunter I – Góc nhìn chính trị của Aristotle “Chính trị luận” của Aristotle là một tác phẩm kinh điển mang tính chất đột phá trong lịch sử triết học và chính trị học không phải ở mức độ liệt kê quy mô mà ở tầm nhìn. Trước Aristotle, chính trị chỉ đơn thuần được xem như mối quan hệ giữa người cai trị và người bị trị trong một quốc gia. Thậm chí với Plato, người thầy của Aristotle, chính trị vẫn là một thứ mơ hồ được đóng khung trong mô hình nhà nước lý tưởng. Aristotle thì khác, ông là một triết gia hiếm hoi trong lịch sử thế giới thành công trong vai trò chính trị – là người thầy, cố vấn cho vị hoàng đế vĩ đại nhất Hy Lạp cổ đại: Alexadre Đại Đế. Bởi thế, ông nhìn chính trị với con mắt của người trong cuộc và thấy rằng chính trị là một lĩnh vực tổng thể: “Cũng giống như trong các ngành khác của khoa học, chính trị cũng vậy, một hợp chất luôn luôn có thể được phân giải ra thành những phần tử đơn giản hay nhỏ nhất của tổng thể. Do đó, chúng ta phải xem xét các phần tử cấu thành nhà nước, hầu có thể thấy được các luật lệ khác nhau của các loại chính quyền khác nhau như thế nào, và có thể rút ra được một kết luận khoa học nào chăng về mỗi loại chính quyền”. Trước khi là một triết gia, một nhà chính trị, Aristotle đã từng theo học học viện của Plato, và chịu ảnh hưởng trước tác cuối cùng của thày mình là “Luật pháp”. Nhưng sau khi Plato qua đời, Aristotle không phục người kế nhiệm học viện, nên đã rời bỏ Athens, du hành đây đó, thử nghiệm áp dụng tri thức bản thân trong suốt 12 năm. Sau đó, ông và người bạn thân là Xenocrates cùng với một số triết gia khác đã thành lập một Học viện chính trị tại đô thành Troad của vị vua độc tài Hermias. Ông trở thành bạn thân của Hermias và được vua gả cháu gái. Tại đâu, ông hiểu rõ hơn về chế độ quân chủ và hiểu thêm được các nguyên tắc thương mại, ngân hàng từ đô thành này. Một thời gian sau, Aristotle được vua Philip của xứ Macedonia mời đến Pella để dạy học cho hoàng tử Alexandre. Những tài liệu còn sót lại cho biết, Aristotle đã gửi cho Alexandre hai bản luận cương về...

Read More
Athens cổ đại
Mar24

Athens cổ đại

An Võ tóm lược, CTV Phía Trước Đặc điểm tự nhiên Kết cấu xây dựng hệ thống cấp nước cho thành phố Athen cổ đại chịu ảnh hưởng của một số yếu tố tự nhiên như địa hình, khí hậu. Ví dụ như do nẳm ở địa hình cao nguyên, Athens không có nhiều vùng đất bằng phẳng. Athens có thời tiêt mát mẻ nhưng hanh khô và lượng mưa hàng năm thấp, nước thường ở tình trạng khan hiếm, đặc biệt khi mật độ dân số thành thị tăng nhanh. Hệ thống cung cấp nước Hệ thống cấp nước cho Athens bao gồm nhiều cầu dẫn nước dưới lòng đất và trên bề mặt, giếng, bể chứa và các dòng suối. Giếng được đào và sử dụng phổ biến thời Hy Lạp cổ do vùng đất này không nhiều sông, hay kênh rạch. Giếng thường được đào ở sườn dốc. Bể chứa nước có nhiều kích cỡ khác nhau, có thể từ 10–130 m3 được đặt ở các hộ gia đình và nơi công cộng. Có nhiều loại bể chứa: bể lấy nước uống, bể lấy nước tắm giặt…. Bể có thể được đặt trên hoặc ngay dưới mặt đất. Bể trên mặt đất thường nhỏ, hẹp và có hình chữ nhật, được đậy bằng một cái nắp nhỏ để tránh nhiễm bẩn do bụi đất. Bể dưới mặt đất thường được làm từ đất sét và đá. Những bể chứa này thường có hình thù như quả chuông hay quả lê. Cầu dẫn nước: Do nhu cầu dùng nước của người dân Athens thời Hadrian, La Mã, nhiều cầu dẫn nước nổi trên mặt đất và trong lòng đất được xây dựng để lấy nước từ nguồn nước xa hơn về thành. Nước theo đường dẫn này sẽ chảy về các đài phun nước công cộng trong thành phố. Hệ thống xả thải Nước mưa, nước đã qua sử dụng ở các hộ gia đình hay khu vực công cộng, đều được thoát qua hệ thống xả thải. Hệ thống này không tách riêng hai loại nước thải trên. Nước thải được dẫn qua những kênh mở từ trong thành ra ngoài. Hộ gia đình nào cũng có một nhà vệ sinh và một ống thoát nước nhỏ. Nhà vệ sinh nơi công cộng như nhà hát, phòng tắm hơi được đặt gần hệ thống xả thải. Hệ thống thông nhà vệ sinh với đường dẫn nước thải chỉ bắt đầu được xây dựng vào năm 100 TCN. ________ Tham khảo: http://www.ancient.eu/aqueduct/ http://chain.eu/?m3=12807 Share on Facebook Scridb filterLike this:Like...

Read More
1956- 2016: kỷ niệm 60 năm Giai phẩm, Nhân văn
Mar23

1956- 2016: kỷ niệm 60 năm Giai phẩm, Nhân văn

Đặng Tiến, diễn đàn Orléans, ngày 24-3-2007 Hiệu đính 07- 3- 2016 Trích từ Book Hunter LTS. Rất nhiều sách báo đã viết về vụ đàn áp những văn nghệ sĩ chủ trương tạp chí “Nhân văn” và các “Giai phẩm” văn thơ ở Miền Bắc Việt Nam năm 1956, tới nay là đúng 60 năm. Góc cạnh chủ yếu trong phần lớn các bài viết là sự đàn áp trí thức trong một chế độ toàn trị. Điều này không sai, và bài viết mà chúng tôi đăng lại mới đây của nhà văn Lê Hoài Nguyên, tên thật là Thái Kế Toại, nguyên Đại tá công an, công tác tại A25 (chuyên theo dõi văn nghệ sĩ và văn hóa), nhấn mạnh tới khía cạnh  “NVGP trước hết là một trào lưu tư tưởng, một cuộc cách mạng văn học đòi hỏi dân chủ hóa ở miền Bắc Việt Nam năm 1954-1960” góp thêm những chứng từ trong chiều hướng đó của một người trong bộ máy. Tuy nhiên, có phải đó là khía cạnh duy nhất (hay duy nhất đáng lưu ý) về vụ án văn học – chính trị này? Kinh nghiệm cho thấy ta luôn luôn cần cảnh giác với những thông điệp mà Đảng Công sản muốn đưa ra, nói một chuyện nhưng đằng sau lại ẩn giấu nhiều chuyện khác, thường là quan trọng hơn. Bài viết dưới đây của Đặng Tiến phân tích vụ án dưới một “góc nhìn khác” (mượn chữ của nhà báo Trương Duy Nhất), gợi cho người đọc những câu hỏi lý thú liên quan tới cuộc tranh giành quyền lực ở chóp bu ĐCSVN, những câu hỏi không phải không liên quan tới tình hình đất nước hiện nay. Bài viết đã được đăng trên mạng Talawas năm 2007, tác giả hiệu đính lại và gửi Diễn Đàn nhân kỉ niệm 60 năm vụ án. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc. *** Giai phẩm và Nhân văn là tên hai ấn phẩm khác nhau. Giai phẩm là một tuyển tập thơ văn, phát hành đầu năm 1956 tại Hà Nội, ra được năm kỳ; Nhân văn là một tờ báo không định kỳ, xuất bản cuối 1956, ra được 5 số. Nhiều người có tên trong tuyển tập trước hợp tác với tờ báo sau. Nhưng cụm từ “Nhân văn Giai phẩm” ta thường nghe, tự thân nó là một thành ngữ vô nghĩa. Báo Nhân Văn và Giai phẩm 1956 Đảng quyền Hà Nội, cuối năm 1956 đã gôm hai tên lại với nhau thành một bản án văn học và chính trị. Thời đó “bọn“, “phần tử ” Nhân văn-Giai phẩm là một lời buộc tội nặng nề. Nhưng đồng thời ở miền...

Read More
%d bloggers like this: