Nhật Bản – Từ chiến tranh đến hòa bình
Aug25

Nhật Bản – Từ chiến tranh đến hòa bình

Trường Sơn chuyển ngữ, CTV Phía Trước Shinzo Abe, Project-Syndicate Bài phát biểu của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe trong ngày kỷ niệm 70 năm kết thúc Thế chiến Thứ hai Tokyo – Nhân dịp kỷ niệm 70 năm kết thúc chiến tranh, chúng ta hãy cùng bình tâm suy ngẫm về con đường đã dẫn chúng ta đến chiến tranh, hành trình tái thiết mà chúng ta theo đuổi sau khi chiến tranh kết thúc cũng như về chính thời đại của thế kỷ XX. Chúng ta phải rút ra được, từ kinh nghiệm xương máu của lịch sử, sự khôn ngoan để dẫn dắt tương lai. Hơn một trăm năm trước đây, hệ thống rộng lớn các nước thuộc địa, với mẫu quốc chủ yếu là các cường quốc phương Tây, đã trải dài trên khắp thế giới. Với ưu thế áp đảo về kỹ thuật, làn sóng xâm lăng của chủ nghĩa thực dân phương Tây đã tràn đến châu Á trong thế kỷ XIX. Chắc chắn rằng hệ quả của một thời đại hỗn mang như vậy đã dẫn Nhật Bản đến con đường hiện đại hóa. Nước Nhật đã thành lập được chính phủ hợp hiến sớm hơn bất cứ quốc gia nào khác ở châu Á, và duy trì nền độc lập như vậy trong suốt thời gian dài. Chiến tranh Nga–Nhật đã trở thành nguồn khích lệ lớn giữa sự cai trị của chủ nghĩa thực dân trải dài từ châu Á đến châu Phi. Sau Thế chiến Thứ nhất, phong trào tự quyết đã được thúc đẩy mạnh mẽ và hãm lại đà tiến của chủ nghĩa thực dân. Đó là một cuộc chiến tranh khủng khiếp đã lấy đi sinh mạng của hơn mười triệu người. Với một khát khao hòa bình mạnh mẽ, các nước đã cùng thành lập Hội Quốc liên và tuyên bố Hiệp ước cùng Từ bỏ Chiến tranh. Giữa cộng đồng quốc tế đã xuất hiện một chuyển động mới với tinh thần bài trừ chiến tranh. Lúc đầu, Nhật Bản đã giữ được mình tránh khỏi ảnh hưởng của thời đại đầy bất trắc ấy. Nhưng cuộc Đại Suy thoái Kinh tế xảy ra ở các nước phương Tây và họ phải tiến hành những yêu sách kinh tế liên quan đến tài sản các nước thuộc địa, nền kinh tế Nhật Bản theo đó phải chịu một cú sốc lớn. Trong hoàn cảnh như vậy, ý thức về sự cô lập mà nước Nhật phải chịu đựng ngày càng gia tăng. Người Nhật đã cố gắng vượt qua mọi bế tắc ngoại...

Read More
19/08/1991: Đảo chính tại Liên Xô
Aug21

19/08/1991: Đảo chính tại Liên Xô

Nguyễn Huy Hoàng biên dịch & hiệu đính Trích từ Nghiên cứu Quốc tế Vào ngày này năm 1991, Tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachev bị đặt dưới sự quản thúc tại gia trong một cuộc đảo chính do các thành viên cấp cao trong chính phủ cùng lực lượng quân đội và cảnh sát tiến hành. Kể từ khi trở thành Tổng Bí thư Đảng Cộng sản năm 1985 và Tổng thống Liên Xô năm 1988, Gorbachev đã theo đuổi nhiều cải cách toàn diện trong hệ thống Xô viết. Kết hợp perestroika (cải tổ) nền kinh tế – trong đó chú trọng hơn vào các chính sách thị trường tự do – và glasnost (cởi mở hay công khai hóa) trong ngoại giao, ông đã cải thiện đáng kể quan hệ với nhiều nền dân chủ phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ. Nhưng trong khi đó, trong nội bộ Liên Xô, Gorbachev phải đối mặt với nhiều chỉ trích mạnh mẽ, trong đó có các chính trị gia thủ cựu theo đường lối cứng rắn và các quan chức quân sự, những người cho rằng Gorbachev đang đưa Liên Xô đến bờ vực sụp đổ và đánh mất quyền lực của đất nước. Mặt khác, những nhà cải cách thậm chí còn cấp tiến hơn – đặc biệt là Boris Yeltsin, tổng thống của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa quyền lực nhất là Nga – cũng chê trách rằng Gorbachev hành động không đủ nhanh. Cuộc đảo chính tháng 8 năm 1991 được tiến hành bởi những người có đường lối cứng rắn trong chính quyền Gorbachev, cũng như các lãnh đạo quân đội Liên Xô và Ủy ban An ninh Quốc gia (KGB), hay cảnh sát mật. Trong căn nhà nghỉ dưỡng của mình ở Crimea, Gorbachev bị quản thúc và ép phải tuyên bố từ chức, nhưng ông đã từ chối. Tuyên bố rằng Gorbachev bị bệnh, các lãnh đạo cuộc đảo chính, đứng đầu là cựu Phó Chủ tịch Gennady Yanayev, ban bố tình trạng khẩn cấp và cố gắng kiểm soát chính phủ. Sau đó Yeltsin và những người ủng hộ ông trong Quốc hội đã can thiệp, kêu gọi người dân Nga tấn công và phản đối cuộc đảo chính. Khi quân đội cố gắng bắt giữ Yeltsin, họ đã vấp phải sự phản kháng của người dân có và không có vũ trang đang phong tỏa các con đường dẫn tới Quốc hội. Yeltsin leo lên một chiếc xe tăng và nói qua loa phóng thanh, đề nghị quân đội không quay lưng chống lại người dân và lên...

Read More
Những khoảnh khắc quan trọng trong mối quan hệ Hoa Kỳ – Cuba
Aug03

Những khoảnh khắc quan trọng trong mối quan hệ Hoa Kỳ – Cuba

Lê Duy Nam chuyển ngữ, CTV Phía Trước José Santigo, World Economic Forum Vào ngày 17 tháng Mười hai năm 2014, chính quyền Obama tuyên bố sẽ giảm cấm vận đối với hòn đảo ở Caribe – đặt nền móng cho mối quan hệ ngoại giao bình thường hóa giữa hai nước. Điều này được xác nhận trong Hội nghị Thượng Đỉnh châu Mỹ, được tổ chức tại Panama vào tháng Tư năm 2015, nơi Tổng thống Barack Obama và Raúl Castro bắt tay nhau, đánh dấu cuộc gặp gỡ chính thức đầu tiên giữa lãnh đạo hai nhà nước. Bộ trưởng Bộ Tài chính Cuba, Lina Pedraza Rodríguez, đề cập lại việc bình thường hóa quan hệ trong khi tham dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Mỹ Latin tại Mexico trong tháng Năm. Vào ngày 20 tháng Bảy, Cuba và Hoa Kỳ đã phục hồi quan hệ ngoại giao sau 54 năm bằng việc tái mở cửa đại sứ quán – tín hiệu cho sự sẵn sàng hợp tác sau mối quan hệ đầy căng thẳng và sóng gió. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều rào cản cần phải được dẹp bỏ để hai nước tiến đến mối quan hệ bình thường hóa trọn vẹn hơn. Quốc hội sẽ phải dỡ bỏ cấm vận thương mại để cho phép xuất khẩu, nhập khẩu và đầu tư xuyên qua Dải Florida, và những khác biệt giữa hai chính phủ cho thấy rõ rằng sẽ còn một quảng đường dài phía trước sau hàng thập kỷ mất niềm tin. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao John Kerry phát biểu tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ khi ông đứng ngay cạnh người đồng nghiệp tại Cuba, Bruno Rodríguez: “Cột mốc này không đánh dấu sự kết thúc đối với những khác biệt hiện vẫn chia cách hai chính phủ chúng ta”, ông Kerry phát biểu. “Nhưng nó phản ánh hiện thực đó là Chiến tranh Lạnh đã kết thúc lâu rồi và những lợi ích của hai quốc gia sẽ nhiều hơn bởi sự hợp tác chứ không phải sự ghẻ lạnh.” Với kỷ nguyên mới, hợp tác và hữu nghị, chúng tôi đã tổng hợp những khoảnh khắc quan trọng liên quan tới cấm vận kinh tế Cuba: 1960 – Sau khi Fidel Castro lên nắm quyền vào năm 1959 và quốc hữu hóa tất cả các doanh nghiệp Hoa Kỳ trên quốc đảo này, Tổng thống Dwight Eisenhower đã cấm vận hầu như tất cả các thương mại giữa Hoa Kỳ và Cuba, đóng băng mọi tài sản của Cuba tại Hoa Kỳ. Tất cả các quan hệ ngoại...

Read More
‘Ngày 8 tháng 5 là ngày giải phóng’ (II)
May14

‘Ngày 8 tháng 5 là ngày giải phóng’ (II)

TS Đỗ Kim Thêm dịch, CTV Phía Trước Richard von Weizsäcker, Spiegel Online LND: Ngày 30 tháng 4 năm 1945 là ngày Hitler tự sát, ngày 8 tháng 5 năm 1945 là ngày Đức Quốc Xã đầu hàng vô điều kiện và thế chiến thứ hai chấm dứt. Một trang lịch sử của châu Âu lật qua và một giai đoạn mới để tái thiết hậu chiến khởi đầu. Ngày 8 tháng 5 năm 1985, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày thay đổi chế độ, Richard von Weizsäcker, Tổng thống nước Đức, đã đọc một bài diễn văn quan trọng tại Quốc Hội với chủ đề “Ngày 8 tháng 5 là ngày giải phóng”. Luận điểm chính của ông trong bài diễn văn này là ngày 8 tháng 5 không phải là một ngày để ăn mừng mà đánh dấu một sự sai lầm nghiêm trọng trong lịch sử của Đức. Ông kêu gọi tất cả mọi người phải có can đảm nhìn vào sự thật của lịch sử bằng một nhãn quan mới, thành tâm tuởng niệm cho tất cả mọi người đã nằm xuống do chế độ vô nhân đạo gây ra. Ông ca ngợi những nỗ lực tái thiết hậu chiến của toàn dân và nêu cao vai trò của nữ giới trong chiến tranh và xây dựng. Ông nhắc đến những tấm gương về tinh thần hoà giải dân tộc của Đức với những kẻ cựu thù. Đối với thế hệ hậu chiến, dù không có ký ức cá nhân và chịu trách nhiệm của các thế hệ cha ông, nhưng ông kêu gọi họ phải luôn tỉnh thức về các ký ức lịch sử và không để bị lôi cuốn vào những hận thù và chống đối nhau mà cố găng liên tục học hỏi để tìm cách chung sống với nhau trong tình hiếu hoà.     Richard Karl Freiherr von Weizsäcker (15.4.1920 – 31.01.2015) là Tổng Thống của nước Đức trong hai nhiệm kỳ 1984 – 1994. Với tài năng lãnh đạo, tinh thần trí thức dấn thân và đức độ liêm khiết, ông là một nhà chính trị mẫu mực của Đức được dân chúng và chính giới nể trọng. Ngày 8 tháng 5 năm 2015 là ngày đánh dấu bài diễn văn này đã được 30 năm mà vẫn còn được xem là có ý nghiã sâu xa về các vấn đề như tội ác, hận thù, ký ức, hoà giải và xây dựng của nước Đức mà Việt Nam có thể so sánh, dù bối cảnh dị biệt. Sau 40 năm xây dựng, nước Đức thua trận trở thành một...

Read More
‘Ngày 8 tháng 5 là ngày giải phóng’ (I)
May08

‘Ngày 8 tháng 5 là ngày giải phóng’ (I)

TS Đỗ Kim Thêm dịch, CTV Phía Trước Richard von Weizsäcker, Spiegel Online LND: Ngày 30 tháng 4 năm 1945 là ngày Hitler tự sát, ngày 8 tháng 5 năm 1945 là ngày Đức Quốc Xã đầu hàng vô điều kiện và thế chiến thứ hai chấm dứt. Một trang lịch sử của châu Âu lật qua và một giai đoạn mới để tái thiết hậu chiến khởi đầu. Ngày 8 tháng 5 năm 1985, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày thay đổi chế độ, Richard von Weizsäcker, Tổng thống nước Đức, đã đọc một bài diễn văn quan trọng tại Quốc Hội với chủ đề “Ngày 8 tháng 5 là ngày giải phóng”. Luận điểm chính của ông trong bài diễn văn này là ngày 8 tháng 5 không phải là một ngày để ăn mừng mà đánh dấu một sự sai lầm nghiêm trọng trong lịch sử của Đức. Ông kêu gọi tất cả mọi người phải có can đảm nhìn vào sự thật của lịch sử bằng một nhãn quan mới, thành tâm tuởng niệm cho tất cả mọi người đã nằm xuống do chế độ vô nhân đạo gây ra. Ông ca ngợi những nỗ lực tái thiết hậu chiến của toàn dân và nêu cao vai trò của nữ giới trong chiến tranh và xây dựng. Ông nhắc đến những tấm gương về tinh thần hoà giải dân tộc của Đức với những kẻ cựu thù. Đối với thế hệ hậu chiến, dù không có ký ức cá nhân và chịu trách nhiệm của các thế hệ cha ông, nhưng ông kêu gọi họ phải luôn tỉnh thức về các ký ức lịch sử và không để bị lôi cuốn vào những hận thù và chống đối nhau mà cố găng liên tục học hỏi để tìm cách chung sống với nhau trong tình hiếu hoà.     Richard Karl Freiherr von Weizsäcker (15.4.1920 – 31.01.2015) là Tổng Thống của nước Đức trong hai nhiệm kỳ 1984 – 1994. Với tài năng lãnh đạo, tinh thần trí thức dấn thân và đức độ liêm khiết, ông là một nhà chính trị mẫu mực của Đức được dân chúng và chính giới nể trọng. Ngày 8 tháng 5 năm 2015 là ngày đánh dấu bài diễn văn này đã được 30 năm mà vẫn còn được xem là có ý nghiã sâu xa về các vấn đề như tội ác, hận thù, ký ức, hoà giải và xây dựng của nước Đức mà Việt Nam có thể so sánh, dù bối cảnh dị biệt. Sau 40 năm xây dựng, nước Đức thua trận trở thành một...

Read More
Địa chính trị trong chiến tranh Việt Nam
Apr27

Địa chính trị trong chiến tranh Việt Nam

Lê Duy Nam, CTV Phía Trước chuyển ngữ Francis P. Semba, The Diplomat Vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi những đoàn lính của miền Bắc Việt Nam chiếm giữ Sài Gòn, những chiếc máy bay trực thăng cũng đang đưa những người Mỹ cuối cùng trở về nước từ nóc tòa nhà đại sứ quán của họ – một thất bại không thể quên được của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh tại Đông Nam Á với hơn 58.000 lính Mỹ hi sinh. Trong khoảng thời gian từ 1963 tới 1975, James Burnham thường dành chuyên mục thường kỳ 2 tuần một lần của tạp chí National Review cho một phân tích địa chính trị của cuộc chiến trong một bối cảnh của một cuộc chiến lớn hơn giữa phương Tây và liên bang Xô-viết. Giờ đây, sau 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam, nhìn lại những bài viết đó chúng ta lại nhìn thấy những điều thú vị, có lẽ vì hơn hẳn các nhà quan sát cuộc chiến đương thời, Burnham thường đưa ra nhiều nhận định chính xác về cuộc chiến.  Sinh ra tại Chicago vào năm 1905, Burnham, con trai của một doanh nhân đường sắt, đã vào học tại trường Princeton và Oxford trong những năm 1920, sau đó giảng dạy tại đại học New York từ những năm 1930 (khi đó ông rất ngưỡng mộ học thuyết Marx) cho tới tận những năm đầu 1950, và sau đó lại làm chuyên gia phân tích cho OSS (Văn phòng chiến lược, tiền thân của CIA) trong Chiến tranh Thế giới thứ 2 và làm cố vấn cho CIA trong những năm đầu của cuộc chiến tranh lạnh. Ông đã viết 12 cuốn sách, và phụ trách chuyên mục và làm biên tập viên cho National Review cho tới tận khi mất sức vì một cơn đột quỵ vào năm 1978. Ông mất vào năm 1987, hưởng thọ 82 tuổi. Trong cuốn sách nổi tiếng nhất của ông – The Managerial Revolution, The Struggle for the World, The Coming Defeat of Communism, Containment or Liberation?, và Suicide of the West – Burnham đã mô tả một cuộc chiến giành vị trí lãnh đạo thế giới một mất một còn giữa Hoa Kỳ và Xô-viết, hệt như hai cuộc chiến tranh thế giới trong thế kỷ 20. Và thực ra ngay câu đầu tiên của cuốn The Struggle for the World, ông đã gọi cuộc chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Xô-viết là “chiến tranh thế giới thứ 3”. Câu nói này sau đó trở thành tựa đề của cột National Review...

Read More
40 năm sau: Chủ nghĩa cộng sản nhường chỗ cho tư bản đỏ
Apr25

40 năm sau: Chủ nghĩa cộng sản nhường chỗ cho tư bản đỏ

Nguyễn Tiến Trung lược dịch Nick Davies, The Guardian LND: Một người đã gửi cho đường link của báo The Guardian. Phóng viên Nick Davies đã vẽ ra một bức chân dung khá hoàn hảo về tình trạng Việt Nam 40 năm sau chiến tranh. Tôi chỉ lược thuật một số ý hay, tin chắc rằng sẽ sớm có bản dịch tiếng Việt để tất cả mọi người đều đọc được. *** Người Mỹ đã nói dối về cuộc chiến Việt Nam, nhưng hiện tại, chính những người lãnh đạo Việt Nam là những người dối trá nhất. Năm 2006, Việt Nam gia nhập WTO. 30 năm sau chiến thắng của người cộng sản, Việt Nam hiện tại đã hoàn toàn trở thành một thành viên của nền kinh tế tư bản toàn cầu. Việt Nam có một hệ thống vụng về để kiểm duyệt quan chức, triệu tập mọi tổng biên tập hàng tuần, thứ ba ở Hà Nội và thứ năm ở Sài Gòn, để cho họ biết được phép nói gì và phải giấu gì. Năm 2008, do cố gắng đưa ra bằng chứng về sự liên hệ giữa một trùm xã hội đen (Năm Cam) và những quan chức cao cấp, ông Nguyễn Công Khế – tổng biên tập báo Thanh Niên lúc đó – đã bị sa thải. Tháng 11 năm ngoái, ông Khế đã cho đăng bài trên New York Times để kêu gọi lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam chấp nhận báo chí tự do. Và ông nhấn mạnh những người lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam đã phản bội lại chính cam kết và lý tưởng cộng sản của mình. Hiện tại ở Việt Nam, tham nhũng lan tràn và bất bình đẳng sâu sắc. Ông Khế nói từ 50 đến 70 phần trăm ngân sách quốc gia chảy vào túi quan tham. Năm 2014, tổ chức Minh bạch Quốc tế xếp Việt Nam là quốc gia tham nhũng tệ hơn 118 quốc gia với điểm số vỏn vẹn là 31 trên 100. Ông Khế cho rằng: “Chúng tôi đã đánh đổi hàng triệu sinh mạng cho độc lập và công bằng. Khi tôi ở trong tù, tôi đã hình dung đất nước sẽ không còn tham nhũng sau chiến tranh, nhưng điều đó đã không xảy ra. Sự phát triển của quốc gia cần tiếp tục, vì vậy chúng tôi không chống lại những ai làm giàu chính đáng. Nhưng chúng tôi không thể cho phép những người kiếm tiền bất chính có thể tiếp tục làm cho người nghèo ngày càng nghèo hơn”. Từ 2004 đến 2010,...

Read More
Hoài niệm và phản tỉnh về ngày 30 tháng 4 năm 1975 để giải ảo ngụy sử, hoà giải dân tộc và xây dựng đất nước (cuối)
Apr22

Hoài niệm và phản tỉnh về ngày 30 tháng 4 năm 1975 để giải ảo ngụy sử, hoà giải dân tộc và xây dựng đất nước (cuối)

TS Đỗ Kim Thêm, CTV Phía Trước Tóm lược: Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày toàn thắng của Đảng Cộng sản Việt Nam và là ngày đại bại của toàn dân tộc Việt Nam. Chúng ta có các lý do chính đáng để không tham gia mừng lễ kỷ niệm chiến thắng, nhưng cần giúp đỡ nhau để có ý thức phản tỉnh về ý nghĩa tưởng niệm, hoà giải và trách nhiệm đối với những hậu quả của ngày này. Hiện tình Việt Nam là đang bị nguy cơ hơn bao giờ hết; vì về mặt nội trị có quá nhiều bất ổn mà vẹn toàn lãnh thổ, tham nhũng và nợ công là chính; về mặt đối ngoại có quá nhiều tổn thương, vì lãnh đạo đặt quyền lợi Trung Quốc và quyền lợi riêng lên trên quyền lợi của dân tộc là chính. Hoa Kỳ sẽ không là một lá chắn an toàn cho Việt Nam vì Hoa Kỳ không có phép lạ để biến đổi nội tình và ngoại cảnh cho Việt Nam. Hoa Kỳ cũng đủ thông minh để không bao giờ chống Trung Quốc thay cho Việt Nam. Mọi vấn đề hiện nay của Việt Nam có thể sẽ được giải quyết được một phần nào khi có sức mạnh dân tộc mà sự hiểu biết của toàn dân, đồng thuận chính trị, và quyết tâm chuyển hướng là chính và đường lối thực tiễn là thay đổi hiến pháp dân chủ, nâng cao đạo đức và giáo dục, tăng trưởng kinh tế, tôn trọng trí thức và pháp luật, thực thi nhân quyền và dân quyền và bảo vệ thiên nhiên. Ngày 30 tháng 4 năm 2015 đánh dấu một ngày khởi đầu cho trang sử Việt, mà một thế hệ hậu chiến trưởng thành và sẽ đảm nhận trách nhiệm chính trị cho đất nước. Thế hệ hậu chiến không cần có một lý tưởng cầu toàn để canh tân đất nước hay các biện pháp xé rào để cứu Đảng, mà cần nhất là có một ý thức bừng tỉnh về sự tồn vong của dân tộc. Xem Phần I & Phần II *** Thế hệ hậu chiến và tương lai Ngày 30 tháng 4 năm 2015 đánh dấu một ngày khởi đầu cho thế hệ hậu chiến trưởng thành. Họ có trách nhiệm chính trị cho đất nước trong thời kỳ mới. Nhưng họ phải nghĩ gì và làm gì để canh tân đất nước và tìm lại độc lập cho dân tộc? Nghĩ gì? Thách thức vô cùng to lớn khi thế hệ hậu chiến cần...

Read More
%d bloggers like this: