<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Thanh Niên Phía Trước &#187; Lịch sử</title>
	<atom:link href="http://phiatruoc.info/category/categories/lichsu/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://phiatruoc.info</link>
	<description>Ngòi bút của trí thức - Tinh thần của tuổi trẻ</description>
	<lastBuildDate>Tue, 18 Jun 2013 20:35:53 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	
		<item>
		<title>Một số tường trình về Đàng Trong khoảng cuối thập niên 1740</title>
		<link>http://phiatruoc.info/mot-so-tuong-trinh-ve-dang-trong-khoang-cuoi-thap-nien-1740/</link>
		<comments>http://phiatruoc.info/mot-so-tuong-trinh-ve-dang-trong-khoang-cuoi-thap-nien-1740/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 15 Jun 2013 04:51:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>tapchiphiatruoc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Lịch sử]]></category>
		<category><![CDATA[Ngô Bắc]]></category>
		<category><![CDATA[Đàng Ngoài - Đàng Trong]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phiatruoc.info/?p=11227</guid>
		<description><![CDATA[
Robert Kirsop
Ngô Bắc dịch và phụ chú, Gió-O
Lời người dịch: Hai bản văn về tình hình Đàng Trong vào khoảng cuối thập niên 1740 được dịch dưới đây là từ quyển sách nhan đề Oriental Repertory: Vựng Tập Phương Đông, của Công Ty Anh Quốc Về Đông Ấn Độ, xuất bản tại Luân Đôn từ năm 1793 đến 1797 tại ...]]></description>
	
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: right;"><span style="font-size: medium;"><strong>Robert Kirsop<br />
Ngô Bắc </strong><span style="font-size: small;"><em>dịch và phụ chú</em>, <a href="http://www.gio-o.com/NgoBac/NgoBacRKirsop1740.htm" target="_blank"><em>Gió-O</em></a></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><b><i>Lời người dịch: </i></b>Hai bản văn về tình hình Đàng Trong vào khoảng cuối thập niên 1740 được dịch dưới đây là từ quyển sách nhan đề <i>Oriental Repertory: Vựng Tập Phương Đông</i>, của Công Ty Anh Quốc Về Đông Ấn Độ, xuất bản tại Luân Đôn từ năm 1793 đến 1797 tại Luân Đôn, và được biên tập bởi ông Alxander Dalrymple (sinh ngày 24 Tháng Bảy, 1737 – mất ngày 19 Tháng Sáu, 1808).  Ông Dalrimple là người được bổ nhiệm làm nhà hệ thống thủy đạo học (hydrographer) đầu tiên của Hải Quân Hoàng Gia Anh Quốc vào năm 1795, phụ trách việc vẽ các họa đồ đi biển.<span id="more-11227"></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> <a href="http://phiatruoc.info/mot-so-tuong-trinh-ve-dang-trong-khoang-cuoi-thap-nien-1740/ngobacorientalrepertor01/" rel="attachment wp-att-11228"><img class="alignleft size-full wp-image-11228" alt="NgoBacOrientalRepertor01" src="http://phiatruoc.info/wp-content/uploads/2013/06/NgoBacOrientalRepertor01.jpg" width="440" height="474" /></a>      <i>Oriental Repertory</i>, như tên gọi, là sưu tập gồm bốn số (từ số I đến số IV) đầy đủ và đều đã được xuất bản trong thời gian từ 1791 đến 1797, dưới sự biên tập của Alxander Dalrymple, kẻ từ quê quán tại Edinburgh lên London vào năm 1752 và được chỉ định làm người soạn thảo văn thư  (writer) trong Công Ty Đông Ấn thuộc Anh, với nhiệm sổ đầu tiên là Madras, Ấn Độ.  Trong khi phục vụ tại Công Ty này, ông quan tâm đến các khả năng mậu dịch với vùng Đông Ấn Độ và Trung Hoa, và sau đó đã thương thào một hiệp ước với lãnh chúa đảo Sulu và đã thăm viếng Quảng Châu khi mới 22 tuổi.  Năm 1765, ông quay trở về London và được tuyển chọn thành một hội viên của Hiệp Hội Hoàng Gia (Royal Society).  Người ta tin rằng ông Dalrymple đã là kẻ chuyển giao tin tức cho Francis Beaufort để cải tiến và chế tạo ra máy đo sức gió khi hải hành mang tên Beaufort mà ngày nay vẫn còn được sử dụng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Ngay khi đương thời, <i>Oriental Repertory</i> được nhìn nhận là “sưu tập quý báu các dữ kiện về thương mại, lịch sử, các phong tục, và lịch sử thiên nhiên của vùng Đông Ấn Độ và Trung Hoa…”  “Công Ty Đông Ấn Độ đã tài trợ việc ấn hành các tập tài liệu với việc nhận mua 100 ấn bản trong 250 ấn bản in ra …”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Về bài viết của Robert Kirsop được dịch dưới đây, chủ biên Dalrymple đã cho biết, trong Lời Giới Thiệu đề ngày 5 Tháng Mười Hai, 1791, cho Số II của Quyển <i>Oriental Repertory</i>, nơi các trang 3 và 4, như sau:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       <i>“Bài Tường Trình về Đàng Trong của ông Kirsop, ngoài chân giá trị của nó, có lợi thế là một mắt xích trong Sợi Dây liên kết, của Sự Quen Thuộc của Âu Châu với Xứ Sở đó: Các Chú Thích một phần là từ Một Bản Thảo tiếng Tây Ban Nha, nằm trong tay ông Kirsop; và một phần từ một Bản Thảo tiếng Anh, mà theo tôi hiểu đã được viết bởi Bác Sĩ Duff, kẻ đã làm một Ông Quan (Mandareen) tại Đàng Trong”. </i></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><i>       </i>Thời điểm của bài viết này nằm trong thời trị vì của Nguyễn Phúc Khoát, tức Vũ Vương, hay Chúa Vũ, kéo dài từ 1714 đến 1765 tại Đàng Trong.  Đàng Ngoài khi đó dưới quyền Chúa Trịnh Doanh (1740-1767) và Vua Lê Hiển Tông (1740-1786).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Bản dịch này dịch thẳng từ nguyên bản ấn hành trong các năm đầu của thập niên 1790, với Anh ngữ có cách viết ít nhiều khác với ngày nay, như mẫu tự <i>s</i> vẫn còn được viết bằng mâu tự <i>f </i>(ví dụ, person vẫn viết là perfon), phần văn phạm vẫn chưa chuẩn, câu văn đôi khi trục trặc, nhưng không quá khó để hiểu được ý nghĩa một cách gần như chính xác, các từ hầu như được viết Hoa một cách tùy hứng, không theo quy tắc gì cả, hay có lẫn lộn cả các dấu hiệu thay cho từ ngữ trong bản văn, như hình cái mỏ neo thay cho các từ thả neo.  Người dịch cố giữ càng nhiều càng tốt các sự bất quy tắc này trong bản dịch để độc giả có thể hình dung phần nào nguyên bản Anh ngữ cách đây hơn 200 năm, ngoài bản chụp lại một trang từ nguyên bản..</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Trong sô I của <i>Vựng Tập</i> <i>Đông Phương</i> này, cũng có đăng tải các phần giới thiệu về phái bộ Bowyear của Công Ty Đông Ấn thuộc Anh sang Đàng Trong trong các năm 1695-7 cùng phần nhật ký của ông Bowyear, nơi các trang 65 đến 94.  Chủ biên Dalrymple đã nói về tập <i>Voyage to Cochin-China</i> của phái bộ Bowyear trong lời giới thiệu đề ngày 9 Tháng Tư, 1791 cho số I này như sau:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       <i>“ Tập Voyage to Cochin-China, được trich xuất bởi chính tôi tại Madras, nhiều năm trước đây; tôi đã kiểm chứng nó với một Bản Thảo hiện vẫn giữ tại Nhà Đông Ấn (East India House), mà ông Thomas Wilkes đã cứu vớt, cùng với nhiều tài liệu kỳ lạ khác, ra khỏi sự hỗn độn và lãng quên, trong đống  các Tài Liệu Cũ của Công Ty Đông Ấn bị  vứt bỏ.”</i></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Bản dịch tập tài liệu này của Bowyear sẽ được ấn hành trên Gió O khi thuận tiện.     </span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"><span style="font-size: medium;">*****</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       COCHIN-CHINA (ĐÀNG TRONG), được gọi bởi người Trung Hoa và Dân Bản Xứ, là AYNAM (AN NAM), bao gồm cả CHAMPA (xứ CHÀM), và Tỉnh Miền Nam, giờ đây lệ thuộc nó, nằm ở Vĩ tuyến từ 10<sup>0</sup>50’ Bắc đến 17<sup>0</sup>40’ Bắc.  Hải cảng Mậu Dịch duy nhất là Faifoe (Hội An), ở Bắc vĩ tuyến 16<sup>0</sup> <sup>a</sup>, tọa lạc cách Biển khoảng 10 dặm, trên một Con Sông, có thể hải hành, trước đây dành cho các Thuyền Buồm lớn nhât, giờ đây chỉ dành cho các tàu có trọng tải khoảng 80 Tấn; Các Thuyền Buồm đậu cách xa Thị Trấn khoảng một hải lý, tại một Con Sông khác, có thông thương với con sông trước, nơi mà các chiếc Tàu có trọng tải 180 hay 200 Tấn có thể tiến vào dễ dàng.  Đàng trước các Con Sông này, cách (Đất Liền (the Main) (là vùng đất thấp) khoảng 3 hải lý, có Quần Đảo Champello (Cù Lao Chàm), tại Bắc Vĩ Tuyến 16<sup>0</sup> 8’; bên trong Đảo lớn nhất, bạn có chỗ [trong nguyên bản có hình vẽ cái mỏ neo tàu ở đây, người dịch phỏng đoán hình mỏ neo này để thay cho từ ngữ thả neo.  Hình vẽ mỏ neo này sẽ còn xuất hiện nhiều lần sau này trong nguyên bản, chú của người dịch] thả neo tốt, khoảng 1 hay 2 dậm từ <i>bờ biển</i> [<i>shoar</i> trong nguyên bản, tiêng cổ trong Anh ngữ để chỉ bờ biền, chú của người dịch] khi địa thế chuyển từ hướng Đông Bắc (NE) sang Đông Bắc Đông (ENE), là nơi bạn phải (hình mỏ neo: thả neo), cho đến khi được phép mua bán, và nếu tàu của bạn đủ nhỏ, để tiến vào Con Sông.  Theo hướng Tây Bắc của Champello là một vùng đất rất cao, trên Đất Liền, xuất hiện như một Hòn Đảo, quanh nó, là Vịnh Đà Nẵng (Bay of Touron), có khả năng tiếp nhận Các Tàu lớn nhất, nơi Tàu <i>Macao</i> thả neo, hay bất kỳ Thuyền Buồm lớn nào, kéo theo quá nhiều nước tràn vào Sông Hội An; nhưng việc này rất bất tiện; Các Thuyền thường cần đến một tuần để thực hiện một Chuyến Đi, bằng tàu, từ Hội An ra. <sup>b</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Khi bạn đến nơi, Các Quan Chức lên trên tàu, “cho đến khi bạn có được Dấu Đóng Ấn Tín Của Vị Chúa, và lệ phí nhập nội của bạn được thỏa thuận, tùy theo kích thước chiếc Tàu của bạn, hay theo Hàng Hóa trên tàu; là việc họ sẽ cần đến một Bản Kiểm Mục (Account).  Có một nhân viên tại Faifoe, thuộc một văn phòng tương tự như văn phòng của <i>Shabander </i>[nhiều phần sai chính tả, có lẽ là <i>Shebander</i>, hay <i>Shebunder</i>, chỉ người chủ hải cảng, hay kẻ cai quản một hải cảng tại các đảo Đông Ấn Độ (East Indes), chú của người dịch], sẽ trợ giúp bạn, trong việc nhập nội; là người cần để đưa tặng quà biếu cuối cùng; mặc dù tôi tin rằng bạn sẽ không thể hoàn tất việc này, cho tới khi bạn có mặt tại chỗ nơi nó được giao dịch, luôn luôn ở <i>Whey: Huế</i> [?], nơi vị Chúa ngự trị, cách Hội An hai ngày đường; bởi đó là nơi tốt nhất để đẩy nhanh càng sớm càng tốt, nơi bạn sẽ hành động với nhiều sự chắc chắn hơn và không sợ bị lừa gạt bởi bất kỳ Viên Chức cấp thấp nào, có thể giả bộ như ông ta có đủ thẩm quyền để phục vụ bạn. <sup>c</sup>  Tại Triều Đình, Viên Quan Lại duy nhất, có thẩm quyền giải quyết cho bạn là <i>Ung chee mo: Ông Cơ Mật</i> [?]; người mà vị Chúa tín nhiệm, và tham khảo trong mọi trường hợp cụ thể, liên quan đến Thương Mại, và là người mà bạn nhất thiết phải kết làm bạn; Ông ta là một Nhân Vật rất vĩ đại, và mới nhậm chức trong năm 1750.  Những gì thương thảo về Mậu Dịch với vị Chúa, sẽ được giao dịch bởi viên Thái Giám thứ nhì, người Thâu Ngân Viên của Chúa không có Dinh Phủ riêng, kẻ mà một số quà tặng nhỏ sẽ cần biếu: Tàu <i>Macao Ship</i> có trọng tải khoảng 500 tấn, đóng hàng năm 3000 <i>Quan</i> [tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch] (ngoài các tặng phẩm biếu các Quan Chức của vị Chúa) và có mọi sắc thuế được giải trừ, theo luật lệ của Xứ Sở, là 12 Phần Trăm [trong nguyên bản có hình trông giống như chữ <i>P</i> hoa viết tay trước từ <i>Cent</i>, chú của người dịch] trên mọi hàng hóa nhập cảng; nhưng tỷ lệ đó luôn luôn được miễn giảm và tình tròn thành một tổng số tiền, được thỏa thuận vào lần nhập nội đầu tiên của bạn; <sup>d</sup> và, trong khi đang ở đó, bạn có thể đồng ý tùy ý muốn của bạn để có một chiếc Tàu, với bất kỳ Trọng Tải (Burthen) nào, sẽ lại đến vào năm khác: người Trung Hoa luôn luôn có một sổ thông hành cho mỗi Thuyền Buồm của họ, và trả từ 1 đến 2000 <i>Quan </i>mỗi năm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Khó khăn nhất ở đây, (khi có thể bạn không quen thuộc với Ngôn Ngữ của họ) là việc giao dịch mọi Công Việc của bạn xuyên qua một Nhà Ngữ Học [Linguist trong nguyên bản, ở đây có nghĩa thông dịch viên, chú của người dịch], kẻ lúc nào cũng ở bên bạn, và sống trong nhà bạn; họ thường được trả 2 hay 300 <i>Quan</i> mỗi mùa, <sup>e</sup> ngoài phụ bổng, sẽ khó để gạt bỏ khoản này; Chỉ có ba nhà ngữ học chuyên môn, <sup>f</sup> Miguel, Gregorio, và Thomas; Miguel phục vụ tiếng Pháp, và đồng nghiêp, thồng minh và có khả năng nhất, là, và với Thomas, khi còn trẻ được mang đi bởi Đức Ông Friel đến Pondicherry, và ở đó đã trở thành tín đồ Thiên Chúa và được dậy dỗ để nói tiếng Bồ Đào Nha; Gregorio phục vụ cho người Macao.  Nếu ba người này đang bận việc, còn có hai người nữa có thể thay phiên nhau phục vụ cho bạn, Manico, và Ông (Monsieur) Paulo; họ đều nói tiếng Bồ Đào Nha, ngoài Paulo là kẻ thông thạo tiếng Pháp; nếu vào lúc bạn đến Hội An, bạn sẽ bị thua thiệt rất nhiều vì thiếu một người thông dịch, cho đến khi bạn tới Triều Đình, nhiều phần bạn sẽ tìm được một vài người có thể làm việc trong 2 hay 3 ngày tại Trụ Sở Bồ Đào Nha (Portuguese house), cơ quan mà thường quanh năm có nhân viên tại Hội An; nếu không, khi đó điều đáng làm là nạp đơn lên Quan Cai Quản (Governing Mandarine), nơi để gửi đơn xin một trong các nhà ngữ học nêu trên từ Triều Đình.  Việc đó rất hay và cụ thể, nhằm giữ ông ta trong tầm chú ý của bạn, bởi trên đó sự thành công lớn lao của bạn tùy thuộc vào; nhưng bất kỳ người nào nhắm đển việc có được một công cuộc Mậu Dịch dễ dàng và thành công thuận thảo, với Đàng Trong, phải bắt đầu càng sớm càng tốt học hỏi ngôn ngữ của họ, điều có thể dễ dàng đạt được; mặc dù Hán tự có được dùng, để diễn đạt các sự việc và ý nghĩa nổi tiếng, song tiếng nói thì hoàn toàn khác biệt, và thuộc một loại diễn đạt giản dị và dễ dàng hơn nhiều.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Người Trung Hoa chiếm thị phần lớn nhất trong Mậu Dịch của Đàng Trong, (chở đến đó <i>Kẽm</i> <sup>g </sup>[<i>Toothenague</i>  trong nguyên bản, tiếng Anh cổ, ngày nay được viết là <i>tutenag</i>, chú của người dịch], hàng hóa Trung Hoa, Trà, và số lượng lớn các Loại Củ Rễ và Cây Thuốc) và một ít hàng được chở tới, từ bất kỳ nơi nào của Ấn Độ, khiến rất khó tiên liệu về những Hàng Hóa nào có thể đáp ứng cho Hải Cảng đó; Thiếc sẽ bán được, 22 đến 25 Quan /Tạ, không thể nào bị lỗ khi tính theo Dollars; Kẽm được mua trọn gói bởi vị Chúa, với giá 13 và 14 Quan/Tạ; và Các Thử Nghiệm có thể được thực hiện về mặt hàng Gỗ Đàn Hương (Sandal Wood) và Hạt Tiêu;  một ít hàng dao kéo sẽ bán được; sẽ không cần số Vốn lớn lao để mua được một Chuyến Hàng Đường Mía, cho một chiếc Tàu nhỏ, sẽ là món hàng thích đáng nhất, ưu tiên gửi đi; doanh lợi của các Số Tiền Thu về sè trả lời, nếu bạn chỉ có chính mình trong số Vốn bỏ ra ở đó.  Một loại Đồng tiền (Cash: hiện kim), được chế tạo bằng Kẽm, là Tiền Tệ duy nhất của Xứ Sở, 600 Đồng bằng một <i>Quan</i>, có giá trị gần sát nhất với hai Rupees, <sup>h</sup> và được chia thành 10 <i>Mace</i> [?, nhiều phần đây là cách viết sai của danh từ Hán Việt, có âm đọc là <i>Mạch</i>, đơn vị tiền tệ chính thức dưới <i>Quan</i> nhưng trên <i>Đồng</i>, tuy nhiên dân chúng thường gọi bằng tiếng Việt là <i>Tiền</i>, chú của người dịch] hay <i>Tean</i> (? <i>Tiền</i>), trị giá mỗi <i>Tiền</i> là 60 <i>Đồng</i>; tất cả được xâu thành chuỗi với nhau, và được phân cách bằng một nút thắt, ở mỗi <i>Mạch</i> (hay <i>Tiền</i>): Những đồng tiên bạn nhận được từ vị Chúa thì luôn luôn nguyên chất và mới, <sup>i</sup> và có thể lại dùng để thanh toán, mà không có bất kỳ sự nghi ngờ nào về sự thiếu hụt; nhưng trong các giao dịch của bạn với bất kỳ người nào khác, bạn phải chịu nhận các Đồng tiền cũ và pha tạp [kim loại khác], rất khó khăn để chi tiêu lần nữa, ngoài việc bị mất mát khoảng 4 hay 5 phần Trăm.  Vị Chúa tinh lọc và đúc tất cả số Bạc của ông thành Các <i>Nén</i> nặng 10 <i>Lạng</i> (Tale), mà ông đôi khi dùng để trả lương cho Các Binh Sĩ của ông, với giá 20 <i>Quan</i> mỗi <i>nén,</i> nhưng chúng không bao giờ cao hơn giá đương hành, được bán với giá 16 hay 17 <i>Quan</i>; Bạc rất ít khi được sử dụng ngoài việc trang điểm cho Vũ Khí của họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Các số đo về <i>Trọng Lượng</i> thì giống y như bên Trung Hoa, và họ dùng <i>Dodgins</i> [trong nguyên bản, không thấy có trong các tự điển Anh ngữ ngày nay, phỏng đoán là các loại rổ, thúng, sọt v.v…được dùng để đong và cân, với sự ước định một trọng lượng thảo thuận nào đó cho mỗi rổ, sọt, thúng, chú của người dịch] theo cùng cách thức; duy chỉ với Đường Mía là họ định chúng nhiều hơn phân nửa so với bất kỳ Sản Vật nào khác; như thế bạn có 150 <i>Cân Trung Hoa</i> [<i>China Cattys</i>: Đơn vị đo trọng lượng tại Đông Nam Á, bằng 1 cân rưỡi của Anh hay khoảng 600 grams, chú của người dịch] thông thường, hay 200 cân Anh (lbs) cho mỗi 100 Cân hay 1 Tạ (Pecul) Đường; dù thế phần lớn người Trung Hoa cân nặng thêm 10 Cân, khiến cho một Tạ Đường Mía bằng 160 Cân Trung Hoa thông thường. <sup>j</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Sản Phẩm tốt nhất mà Xứ Sở sản xuất, cho một Chuyến Hàng, là Đường: Kẹo Đường (Sugar Candy) tốt nhất thường được bán từ 5 Quan 2 Tiền (5<sup>Q</sup>2<sup>M</sup>) đên 4 Quan 5 Tiền (4<sup>Q</sup>5<sup>M</sup>) mỗi Tạ; <sup>k  </sup>Đường Bột Trắng Mịn, từ 4 Quan đên 3 Quan 5 Tiền, loại trung bình, giống như đường của Manila, vào khoảng 3 Quan, và Đường Bột Màu Nâu, từ 2 Quan 6 Tiền đến 2 Quan.  Giá được hạ xuống để bán trong các Tháng Sáu, Bẩy, và Tám; nhưng khối lượng lớn nhất [là] trong nửa tháng cuối của Tháng Bẩy, <sup>l</sup> khi người Trung Hoa bận rộn mua nhẵn hết đường để chở về Trung Hoa; Đại Lý Bồ Đào Nha (Portuguese Factor), có phép đặt tại đó, thường mua trong nửa tháng cuối của Tháng Tám và Tháng Chín, sau khi Tàu của họ [người Trung Hoa] và mọi Thuyền Buồm đã rời khỏi, rẻ hơn một cách đáng kể so với các giá nêu trên; Các Phụ Nữ đôi khi sẽ ngồi trên đường phố với các Mẫu Đường nhỏ, nhưng các kẻ thường đến nhà của các người đàn bà đó là các người mua với khối lượng lớn, và sau khi giá cả được thỏa thuận, theo Mẫu Đường này, họ sẽ mang tất cả số đường đến Sân của bạn; và ở đó, trước khi được cân, từng rổ (thúng, sọt) được dò bởi một cây soi thon, nhọn một đầu, theo đó bạn có thể dễ dàng phát hiện bất kỳ sự gian trá nào; nó luôn luôn đựng trong các chiếc rổ vô cùng bất tiện nặng 4 hay 500 Weight [? không rõ trọng lượng của đơn vị này, có thể là <i>cân Anh</i> (<i>pound</i>), chú của người dịch] mỗi rổ, <sup>m </sup> và mỗi Parcel (Mảnh, Khu, Kiện) (có thể từ 5 đến 15 Rổ) thuộc loại đường khác; vì lý do đó thường bắt đầu đổ tất cả số Đường của bạn ra, và trộn thật đều với nhau để đạt tới độ gần đống nhất về phẩm chất, và với phí tổn riêng của bạn, đổ lại vào các Rổ nhỏ hơn. <sup>n</sup> Họ có đầy hàng <i>Lụa</i>, <sup>o</sup> mà họ sản xuất lấy trong phần lớn các gia đình, chỉ dành cho y phục của chính họ; dù thế, nếu họ, cách nào khác có nhu cầu về loại Sản Phẩm đó, sẽ mau chóng nâng nó lên mức hoàn hảo tuyệt vời y như tại <i>Trung Hoa</i>.  <i>Người Bồ Đào Nha</i> đã khiến họ làm ra một số lụa có Sọc Màu Nâu chán ngắt, nhằm đáp ứng cho việc chở đến <i>Macao</i>, và xuất cảng lại sang nhiều nơi của <i>Ấn Độ</i>.  Xứ sở sản xuất số <i>Quặng Sắt (Iron-Ore)</i> vô cùng phong phú, mà họ chỉ tinh chế nhừng gì phục vụ cho chính họ; <sup>p</sup> và giống như <i>Vàng (Gold)</i>, chính yếu qua tay của vị Chúa,  và được đúc thành các Thanh (Barrs), hay Thỏi (hay Nén: Ingots) nhỏ, từng 10 Lạng (Tales) một; mà với triện đóng của vị Chúa, luôn luôn được chuyển sang <i>Trung Hoa</i> với độ ròng 94 (94 Touch), nhưng các thỏi như thế không có [độ ròng như thế], thì không đáng tin cậy; trước đây được bán với giá từ 150 đến 190 <i>Quan</i> mỗi <i>Thanh</i>; nhưng kể từ khi Đồng tiền bằng Kẽm được sử dụng quá nhiều, đã lên giá từ 200 đến 225 <i>Quan</i>.  Họ có một loại rất tốt <i>Gỗ Aagala-Wood </i>[?], nhưng sự xuất cảng bị cấm đoán. <sup>q</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Những quà tặng <sup>r</sup> có thể được chấp nhận nhiều nhất là Các Tấm Vải Khổ Lớn hạng tốt, Các Đồng Hồ Treo Tường Và Đồng Hồ Đeo Tay kỳ lạ; bất kỳ Vũ Khí kỳ lạ nào; một Dụng Cụ Theo Dõi Thời Tiết [như Phong Vũ Biểu]; Các Dụng Cụ để Quan Sát Thiên Văn, Kính Thiên Văn nhỏ, Khăn dài, loại Tốt, Vải bóng như gợn sóng hay vải trắng hạng tốt (vải nhiễu) [<i>Morees or Cambrick</i>: hai từ ngữ này không có trong các từ điển Anh ngữ ngày nay, người dịch phỏng đoán là <i>Moirés or Cambric</i> và dịch theo sự ức đoán này, tức vải nhiễu], một Thanh Kiếm nhỏ đẹp đẽ, Các Con Chó thuộc giống tốt, Các Chiếc Gậy (hay Roi), phần lớn các thứ này là do chính vị Chúa khuyên cáo mang đến cho ông.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Thành phố nơi vị Chúa cư ngụ, được gọi, bởi người <i>Trung Hoa</i> và <i>Dân Bản Xứ</i>, là <i>Whey [Huế],</i> Bắc vĩ tuyến 16<sup>0</sup>48’, cách biển khoảng 25 dậm, trên một con sông, nơi cửa sông ở hướng Tây Bắc nghiêng sang Tây (NWbW) đối với Cù Lao Chàm (Champello), và tọa lạc tại Bắc Vĩ Tuyến 16<sup>0</sup>55’nơi họ có một Hoạt Động Mậu Dịch lớn lao, từ <i>Kancao</i> [nhiều phần là <i>Cancao</i>, tức Hà tiên, chú của người dịch], và mọi nơi trên bở biển của chính họ, bởi Các Tàu trọng tải 50 hay 60 Tấn, có thể dễ dàng ngược dòng lên đến <i>Thành Phố</i>, nhưng <i>Cồn Cát</i> thì gây trở ngại, vào lúc nước thấp chỉ sâu có 4 bộ Anh; <i>Thành Phố</i> thì rất rộng mở, đông dân cư và các nhà cửa thì rải rác [<i>stragling</i> trong nguyên bản, Anh ngữ ngày nay viết là <i>straggling</i>, chú của người dịch]; nhiều <i>phụ lưu</i> của <i>Con Sông</i>, hội tụ nhau ở đây, khiến cho nó rất thú vị; và sự chuyên chở, từ nơi này đến nơi kia, phần lớn trên sông; vì lý do này, mọi Gia Đình khá giả đều có một <i>Chiếc Thuyền có mui che</i> rộng rãi, và có các chiếc thuyền khác được cho thuê, có thể được gọi đò tại bất kỳ nơi nào: Các <i>Đường Phố</i>, gần <i>Hoàng Cung</i>, thì ngay ngắn, dài, và rất rộng: <i>Hoàng Cung</i> có hình Vuông chính xác, vào khoảng 500 bước, có tường thành và bao quanh bởi Các Khẩu Súng, không có các bức tường che chắn, rất lộn xộn và được gắn một cách cẩu thả; hầu như chỉ để bày hàng; Bên Hông cạnh <i>Con Sông</i> có 3 <i>Cổng</i> tráng lệ, trước đó là một <i>Cung Điện</i> nhỏ trên <i>Con Sông</i>, được dựng trên các cọc với nhiều gian buồng ngăn nắp, và không xa được rào lại bằng các hàng cọc [pallisadoes, Anh ngữ ngày nay viết là palisade(s), chú của người dịch], chừa lại bên trong chỗ đủ cho các Chiếc Thuyền câu cá, làm trò giải trí cho Chúa và Các Phi Tần của ông.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       <i>Thị Trấn Hội An</i> thì lớn hơn một con đường hẹp rất dài một chút, chỉ đủ chỗ cho một dẫy Nhà, trên phía cạnh <i>Con Sông</i>, các ngôi nhà tốt nhất, được xây với mục đích cho <i>Các Nhà Mậu Dịch Trung Hoa</i> thuê mướn, ở bên phía đối diện, sẽ mang về từ 200 đến 500 <i>Quan</i> mỗi Mùa; <sup>s </sup>có các căn nhà khác nhỏ hơn, nhưng cũng đủ rộng rãi, có thể thuê được với giá 8 hay 12 <i>Quan</i> mỗi <i>Tháng</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">      Hình Thức Chính Quyền, gần giống như tại Trung Hoa, cũng như về ngạch trật. và phẩm chất của <i>Các Quan Lại (Mandarines)</i>, nhiều người trong họ thuộc dòng giống <i>Trung Hoa</i>, đã tỵ nạn ở đó, vào lúc có cuộc <i>Chinh Phục Của Dân Mông Cổ (Tartar Conquest);</i> người dân Đàng Trong có búi tóc được cột lại, vẫn giữ lại nguyên y phục và dần ăn mặc như người Trung Hoa đã mặc, trước khi họ gặp phải sự ghét bỏ đó.  Họ có một sự Kiêu Hãnh lớn lao, mặc dù đủ lịch sự, dùng nhiều nghi lễ trong cách cư xử của họ, và tính trọng Hình Thức trong cách ăn mặc của họ; hơi hám lợi, nhưng không phải là các kẻ lừa đảo; cũng lịch sự không kém các người <i>Trung Hoa</i>, có ý kiến thiện cảm hơn về <i>Các Người Ngoại Quốc</i>, các kẻ mà Các Quan Lại giỏi giang nhất sè tiếp đón, và chiêu đãi rất tử tế, trong các Cuộc Thăm Viếng của họ. <sup>t </sup> <i>Các Phụ Nữ</i> có rất nhiều tự do, rất siêng năng, và không lấy làm ngại ngùng [<i>seruple</i> trong nguyên bản, người dịch phỏng đoán do sắp chữ sai, nhiều phần là <i>scruple</i>] trong việc nói chuyện và thương thảo với Các Người Ngoại quốc; và công việc nhà của bạn sẽ không bao giờ được quản lý một cách đúng đắn, cho tới khi được đặt dưới sự chăm sóc của một người trong họ, kẻ, giữa các Dịch Vụ cần thiết khác, sẽ rất trung thành, trong công việc tẻ nhạt đếm tiền <i>Đồng</i> của bạn, nhưng bạn đừng bao giờ lấy một người mà không được giới thiệu một cách kỹ lưỡng. <sup>u</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Xứ Sở gần Biển, phần lớn có địa thế thấp, rất phì nhiêu và được dẫn nước đầy đủ bởi <i>Các Con Sông</i>: nhưng hơi xa hơn vào phía trong, địa thế thì cao và nhiều núi đồi; do đó họ có nhiều <i>Gỗ Cây</i> và <i>Ván</i>, đặc biệt gỗ <i>Tindolo</i>; <sup>v  </sup>mà với sự phong phú của Xứ Sở, lôi cuốn người <i>Trung Hoa</i> đến đóng nhiều <i>Thuyền Buồm</i> của họ tại đó; Gạo, và đủ mọi loại Rau, họ có thừa thãi, và các Thực Phẩm thông thường khác: Có nhiều <i>Voi</i> tại Xứ Sở, nhưng ít con được nuôi giữ, chỉ dành cho sự sử dụng của vị Chúa * <sup>w</sup> [chỗ này bị mờ, không rõ trong nguyên bản] mà Chúa ra lệnh huấn luyện chúng thường xuyên, và giữ đúng theo nhiều mệnh lệnh, * <sup>w</sup> [chỗ bị mờ, không rõ trong nguyên bản]     gần Hoàng Cung của Chúa, cũng có rất nhiều Con Ngựa nhỏ nhanh nhẹn, được nuôi dưỡng rất nhiều khắp Nước.</span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"><span style="font-size: medium;">*****</span></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><span style="font-size: medium;"><b>CÁC CÁCH THỨC HÀNH ĐỘNG CỦA NGƯỜI PHÁP, VÀ MỘT SỐ LÝ DO CHO SỰ THẤT BẠI CỦA HỌ TẠI ĐÀNG TRONG, TRONG NĂM 1749</b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Họ, với nhiều xác xuất nhất, được khuyến khích bởi <i>Các Giáo Sĩ Truyền Đạo (Missionarys)</i>, và Ông (Mons.) <i>Friel</i> (người đã ở đó ít năm trước đây, trên đường từ Trung Hoa đến <i>Bờ Biển Coromandel: Coast of Coromandel </i>[thuộc Đông Nam Ấn Độ, chú của người dịch]) đến nơi, và ít nhất có đặc quyền của một đại lý để ở lại đó; Ông <i>Le Poivre</i>, kẻ đã ở đó trước đây, được phái đến với Tư cách <i>Ủy Viên</i>: <i>Commissaire</i> của <i>Quốc Vương Pháp</i>, và ông <i>Laurens</i> là <i>Viên Chức Phụ Trách Thương Mại (Supercargoe)</i> của chiếc Tàu, và được chỉ định lưu trú ở đó.  Khi tới nơi <i>Le Poivre</i> đã vội vã đến Triều Đình trong cung cách oai vệ với các cận vệ và đoàn tùy tùng và đã thực hiện ở đó một sự xuất hiện rất huy hoàng: Ông có một <i>Lá Thư</i>, từ <i>Quốc Vương nước Pháp</i>, khẩn nài <i>Tình Hữu Nghị c</i>ủa Vị Chúa Đàng Trong, và ông đã dâng lên vị Chúa Bức Hình Quốc Vương nước Pháp trên quốc huy, một cặp <i>ngựa nhỏ đáng thương</i>, một cặp <i>Gương soi khổ lớn</i>, một <i>Kính Thiên Văn</i>, và nhiều <i>vật tầm thường</i> khác.  <i>Tiền Dự Trữ</i> của họ chính yếu là <i>Đô La (Dollars)</i> mà họ có thể bán khi mới đến cho người <i>Bồ Đào Nha</i>, nhưng nhằm nâng cao giá hơn, họ xin Đóng Ấn Của Vị Chúa trên đó, để lưu hành như Tiền tệ của Xứ Sở, với tỷ giá bằng 1 <i>Quan</i> 2 <i>Tiền</i> và một vài <i>Đồng</i> lẻ, và vị Chúa, tự bản thân không đổi đồng nào ở tỷ giá đó, dễ dàng chấp thuận nó, dù cao hơn thực giá khoảng 8 phần trăm; người dân trong nước khám phá ra điều này, né tránh buôn bán với họ, và với toàn thể Chuyến Hàng của họ, họ đã không thể mua được nhiều hơn khoảng 1000 Tạ <i>Đường Mía</i>; và mang phần lớn tiền Đô La đi với họ.  Thực sự nhờ các Tặng Phẩm của họ với vị Chúa, và sự ân cần thường xuyên đối với ông, vị Chúa đã miễn cho họ <i>Mọi Lệ Phí Hải Cảng</i>, và luôn luôn đối xử với họ cực kỳ lịch sự.  Vì tính dễ dài này của Chúa Vương, đã dẫn dắt <i>Le Poivre</i> đên việc coi nhẹ và bất chấp các Quan Thượng Thư của vị Chúa, đã khơi động sự bực bội của họ, cũng như một sự chú ý đến những gì có thể là chủ đích của một Giống Dân đã mang lại một nỗi ngờ vực, qua dáng vẻ cao ngạo của họ, hẳn phải có một vài điều gì khác để nhắm đến, hơn là chỉ có việc mua và bán? <sup>x</sup>  Họ trước tiên khởi sự với việc mua chuộc nhà Ngữ Học [thông dịch viên], bởi họ nhận thấy ông <i>Le Poivre</i> lúc nào cũng mơn trớn anh ta, gần như thể làm anh ta trở thành Tình Nhân của ông, và bằng phương pháp này đã sớm khám phá ra toàn thể các ý đồ của ông ta trước khi ông ta đã nghĩ rằng đây là lúc để thực hiện chúng; tôi không thể giả vờ để phô bày công khai một cách đặc biệt rằng chúng [các ý đồ] là gì, mặc dù tôi chắc chắn rằng sự khám phá đã tạo ra một sự ngạc nhiên khác thường trong <i>Các Quan Lại,</i> và làm họ sững sờ với <i>Các Ý Tưởng kinh khiếp về Các Khẩu Đại Pháo, các bức tường cao, và Các Ranh Giới giới hạn</i> ngân cấm họ, và được sở hữu bởi <i>Các Người Ngoại Quốc</i> tại trung tâm của <i>Xứ Sở </i>chính họ: Nhà Ngữ Học thường được giới thiệu một cách riêng tư với vị Chúa, và trở nên được lòng rất nhiều với <i>Các Quan Lại,</i> trong khi Các Bí Mật của Le Poivre được tiếp tục đổ dồn về anh ta [nhà ngữ học]: Họ vần cư xử bình thường với nhau; Le Poivre tiếp tục vui vẻ, luôn luôn ra sức tuyên truyền họ về tính vĩ đại của Quốc Vương ông ta, và những kết quả sẽ mang lại cho vị <i>Chúa Đàng Trong</i> để có một Người Bạn như thế; thái độ này, vị Chúa nghĩ là giả tạo, càng làm tăng thêm sự bất mãn của Ngài, và sau cùng Chúa trở nên mệt mỏi, và muốn họ ra đi; và khi đó, <i>Le Poivre</i>, bị thất vọng một cách lớn lao, tìm cách ép buộc trên một số đề nghị đáng tởm, nhằm giúp Người Dân Nước ông được chiếm ngụ một mảnh Đất nhỏ, và vị Chúa đã lạnh lùng giáng xuống ông ta một sự từ khước: Tôi không rõ là liệu ông <i>Laurens</i> đã bị bác bỏ Phép để cư trú trong nước hay không, hay liệu ông ta đã khước từ Giấy Phép, như không cần thiết, sau nhiều sự thất vọng khác cụ thể hơn: họ [người Pháp] đã không khám phá sự đánh lừa của <i>Nhà Ngữ Học</i>, cho đên gần lúc ra đi, và khi họ nhận thấy, rằng anh ta đã chơi khăm và lừa dối họ, trong hầu hết mọi việc đã được úy thác cho anh ta; vào lúc khởi hành, họ mời anh ta lên tàu, với một số lý do giả vờ cần giải quyết Các Bản Kiểm Mục, và bằng vũ lực, bắt anh ta mang đi; trước thời điểm này, họ đã khởi sự hành động trong một cung cách rất cứng rắn và cáu kỉnh với người Dân Bản Xứ; nhưng Hành Động cuối cùng này (như thể họ không thèm quan tâm đến những phiền nhiễu có thể khiến các Kẻ Lân Cận họ dính líu vào) khiến cho cả Nước trong cơn náo động; và các lực lượng đã được phái đến mọi vùng, để chặn Con Tàu lại, nếu nó có ghé vào bất kỳ nơi nào trên các Bờ Biển của họ:  Trước thời điểm này, <i>người Đàng Trong</i> chưa hề biết đến sự khác biệt giữa <i>Các Người Âu Châu</i>; Trong lá thư của Vua [nước Pháp], họ được cảnh giác rằng không nên có bất kỳ sự buôn bán nào với <i>Anh Quốc</i> hay <i>Hòa Lan</i>, <sup>y </sup> điều này đã góp phần mang lại cho vị Chúa một sự nghi ngờ về sự thành thật của họ, ngoài việc đên nơi với sự giới thiệu của Ông <i>Friel</i>, kẻ trước đây đã có hành vi rất xấu; bởi khi ông ta ở đó, vị Chúa, muốn khuyến khích ông ta quay trở lại để mua bán, điều mà ông ta tự cam kết sẽ làm, đã hứa cung cấp cho ông ta số Vàng trị giá 150 Quan, một Thỏi (Nén), đã cho ông ta các Khoản Hoa Hồng trên nhiều Món Hàng Quý Hiếm Âu Châu, và đủ số <i>Vàng</i> để mua chúng; cũng thế, theo lời thỉnh cầu của chính ông ta, đã gửi hai <i>Thiếu Niên</i> đi với ông, để học tập Các Ngôn Ngữ Âu Châu; ba năm sau đó, các Chàng Trai này bị bỏ lại, không tiền bạc, trên đường đến Macao; và vị Chúa đã không nghe thấy gì nữa về <i>Friel</i>, hay về tiền bạc của mình, cho đến khi sau này vị chúa buộc các Giáo Sĩ Truyền Đạo phải trả lại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Chiếc Tàu <i>Macao</i> đến nơi trong Tháng Ba 1750, vào khoảng hai Tháng sau khi <i>người Pháp</i> đã rời khỏi, khi đó mọi Thư Từ, và bất cứ thư gì gửi đến cho Các Giáo Sĩ Truyền Đạo, đều bị tịch thu, và đã có các sự giải thích khác nhau về họ bởi <i>người Bồ Đào Nha</i>, những người mà họ đã giam giữ vì mục đích đó, nhưng không bị khám phá là có gây tổn hại hay đụng chạm với Chính Quyền; dù thế, để giải quyết mọi sự ngờ vực, họ nghĩ họ không có thể làm gì ít hơn là việc tống xuất tất cả Các Giáo Sĩ Thiên Chúa Giáo ra khỏi Xứ Sở <sup>z</sup> ;  và theo đó họ đều bị đặt dưới sự Canh Giữ, cho đến Tháng Tám tới, họ đã đi đến Macao bằng Tàu <i>Bồ Đào Nha</i>, ngoại trừ một người Đức, người dậy môn Vật Lý [Physick (sic) trong nguyên bản], được giữ để phục vụ gia đình của Chúa; phần lớn các Nhà Thờ của họ bị san thành Bình Địa, và Các Sách Vở Giấy Tờ của họ đều bị tiêu hủy, <i>Các Giáo Sĩ người Pháp</i> thì nổi bất với sự canh gác của các Binh Sĩ, đi kèm họ tới Hội An, trong khi số còn lại, tự do đi xuông đó cùng với vị Thuyền trưởng <i>Bồ Đào Nha</i>./-           </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">_____</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: medium;">CHÚ THÍCH</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">a) Có một phần bị mờ xóa, khiến cho ta không rõ là Vĩ tuyến có chính xác là tròn 16<sup>0</sup> hay không, nhưng điều này cũng không quan trọng mấy, bởi Các Vĩ Tuyến cũng đã không chính xác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">b) Một MS [nhiều phần là chữ viết tắt của từ Manuscript: bản thảo, chú của người dịch] bằng Anh ngữ, có nói “Tại Đà Nẵng (Touron) bạn ‘thả neo’ (hình mỏ neo) gần một Thị Trấn hướng Tây Nam (SW), nơi có một Con Sông, lưu thông, bằng một Kinh Đào (được nạo vét hàng năm cho Các Đoàn Triều Cống của Chúa thông qua) với Sông Hội An (River of Faifoe); và xuyên qua đó Thuyền của bạn có thể đi qua”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">c) Bản Thảo Anh ngữ. “Không quá quan trọng là liệu bạn có thể yết kiến Chúa Vương hay không, nếu bạn có thể tiến hành được công việc của mình mà không cần đến nó; bởi nó sẽ gây tốn phí lớn lao cho bạn bằng các quà biếu để có một cuộc yết kiến với Chúa Vương; Bạn phải nạp đơn trước tiên lên quan <i>Ung Kay An</i> [?], người phụ trách điều khiển mọi việc thương mại, Văn Phòng ông ta tương tự như văn phòng của một <i>Shabander</i>, và cuộc hội kiến của bạn với Chúa Vương sẽ vô ích, nếu bạn trước tiên không tìm cách lấy lòng ông ta bằng các món quà hậu hĩ.  Người Pháp [nói về ông <i>Le Poivre</i>, xem ở phần sau, chú của người dịch], trong năm 1749, đã làm mọi việc với sự trịch thượng, xem thường ông Quan này, bởi vì họ đã có các cuộc hội kiến với Chúa Vương; vị Chúa, nghĩ mình đứng trên việc giải quyết các sự vụ về Mậu Dịch, đã chuyển mọi việc về cho vị Quan này, và Ông ta đã tận dụng cơ hội tạo ra sự Thất Bại của người Pháp; và chính bởi sự xúc xiểm của ông ta mà tất cả các Nhà Truyền Giáo đã bị ngăn cấm trong năm đó.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">d) Một Bản Thảo tiếng Tây Ban Nha, trong bản viết của ông Kirsop, ghi “khoản tiền, theo tin tức mà tôi nhận được, sẽ là 2000 <i>Coans (Quan)</i>, có thể hơn kém một chút, cho một chiếc tàu như chiếc của <i>Gaspar </i>{có trọng tải khoảng 200 Tẩn} với một Chuyến Hàng trị giá 60 hay 70,000 đô la [Tây Ban Nha, khi đó chưa có đô la Mỹ, chú của người dịch] .”  Bản Thảo Tiếng Anh ghi “Các Thuế Quan trên mọi vật nhập cảng là 12 Phần Trăm, nhưng bạn phải lập một tờ Báo Cáo về những Hàng Hóa bạn  đã có, và đồng ý để trả một Tổng Số nào đó, mọi lần khi chiếc Tàu đến đó, người Bô Đào Nha đóng tiền hàng năm cho các chiếc Tàu của họ 300 <i>Quan</i> [tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch] [q? 3000?, chú trong nguyên bản] và người Trung Hoa đóng khoảng 1500 hay 2000 tùy theo kích thước các Thuyền Buồm của họ, tổng số nạp thì luôn luôn được xác định cụ thể trong Dấu Ấn Tín đóng cho bạn”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">e) Bản Thảo tiếng Anh ghi “tiền trả thông thường là 100 Quan hay hơn tùy theo Lô Hàng của bạn, và bạn phải chấp nhận, mặc dù mặc nhiên, các  “ngoại bổng” ngẫu thu.   Bản Thảo Tiếng Tây Ban Nha ghi, “200 hay 250 <i>Coans</i>, nhưng sẽ là một lợi điểm lớn lao để mang theo một người <i>Lai Giông (Mestizo) </i>nói được tiếng <i>Amoy</i> [phát âm theo thổ ngữ <i>Min Nan (Mân Nam)</i> chỉ Hạ Môn, thuộc tỉnh Phúc Kiến,  đối diện với đảo Đài Loan, chú của người dịch], bởi hầu hết các Quan Lại và Các Thương Gia hiểu được tiếng đó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">f) Bản Thảo tiếng Anh ghi “ người có khả năng duy nhất, Gregorie, đang phục vụ cho người Bồ Đào Nha, người này sẽ làm công việc cho bạn và bạn có thể tín thác công việc của bạn cho ông ta; nhưng ông ta là kẻ Sắc Bén duy nhất, có thể, và sẽ, dối gạt bạn mà bạn không biết; Thomas, một người trẻ tuổi, kẻ đã từng ở trên Bờ Biển Coromandel với ông Frial, anh ta thì biếng nhác và mê uống rượu, nhưng có thể dễ điều khiển, và sắc bén, cùng có nhiều sự bảo đảm; Maniko, kẻ duy nhất xứng đáng tuyển dụng khi hai người kia không cung ứng, họ đều nói tiếng Bồ Đào Nha.  Và còn một người nữa, Ông Paul, nói tiếng Pháp.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">g) Bản Thảo tiếng Anh ghi “ Không có gì tốt hơn, hay hiếm có bất kỳ vật gì khác sẽ tốt như thế, để chở tới Đàng Trong <i>Kẽm (Toothenague)</i>, thứ đồ mà vị Chúa Vương luôn luôn thu mua toàn bộ cho chính ông, thường với giá 14 <i>Quan</i> mỗi <i>Tạ</i> (pecul).  Bạn sẽ nhận thấy trong số kẽm bạn bán cho vị Chúa Vương, bạn sẽ mất đi 3 Phần Trăm trọng lượng.  Nếu một chiếc Tàu đi từ Ấn Độ vào nửa sau của Tháng Tư, sẽ an toàn nhất để chở Kẽm, nếu có thể mua được giá rẻ, rằng bạn có thể có tiền riêng của mình để mua nó, bởi bạn sè có lợi để nhận được Tiền Mới từ vị Chúa: Nhưng nếu Vàng có giá cao, bạn sẽ không mất gì bằng việc mang theo Đô La, và bán chúng khi bạn cập bến <i>Bồ Đào Nha</i> hay <i>Trung Hoa</i>; những người, không có khả năng đầu từ sớ tiền thu từ <i>Kẽm</i> bằng [việc thu mua] <i>Đường Mía</i>, đôi khi bị bắt buộc phải mang theo <i>Vàng</i>, với một sự bất lợi lớn lao: phần lớn nhất trong số dự trữ của bạn phải là đồng <i>Đô La</i>, hay <i>Kẽm</i>, bởi các Hàng Hóa khác sẽ không nên trông mong ở lần bán đầu tiên, cho đến khi chúng được thử nghiệm; ngoại trừ một ít Dao Kéo (Cutlery), các Dao Bấm và Kéo loại rẻ tiền, thứ mà tôi chắc sẽ bán chạy; một ít sấp vải nhỏ nhiều loại khác nhau, có thể mang để thử bán, và một Thanh Kiếm, hay hai, của vị Chúa Tể”.  Bản Thảo tiếng Tây Ban Nha ghi, “sẽ không bị thua lỗ trên Tiền Vỏ Ốc (Cowries), phẩm son (Cochineal), chất Sulfure, Balate [?] (hay Ốc Sên Biển) và Blue Dye (Tinta Azul: thuốc nhuộm màu xanh da trời) nhưng chỉ nên chở đến vào khoảng 5 hay 6000 Đô La cho chuyến Du Hành đầu tiên”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">h) Bản Thảo tiếng Tây Ban Nha ghi “7 Riales (7/8 một Đô La) là tỷ suất, hơn kém đôi chút, mà đồng Đô La có thể được bán”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">i) Bản Thảo tiếng Anh ghi “ và [có giá trị] nhiều hơn 8 Phần Trăm, so với tiền cũ, phần mà bạn chắc chắn sẽ nhận được, nếu bạn trao đổi với bất kỳ người nào khác ngoài vị Chúa Vương.   </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">j) Bản Thảo tiếng Anh ghi “Các Số Đo Trọng Lượng, tại Đàng Trong, theo sự ấn định của Xứ Sở, giống như bên Trung Hoa; chỉ có <i>Dodgins[rổ, sọt, thúng, đấu, hôc…]</i> được dành riêng để đong Đường, mà bạn có thể làm lớn đến mức bạn ưa thích; Người Dân hay biết điều đó, sẽ tính Giá của họ tùy theo kích thước khi đó.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">k) Bản Thảo tiếng Tây Ban Nha ghi “3.6 đến 4 <i>Coans (Quan)</i> mỗi <i>Tạ Trung Hoa</i>”.  Bản thảo tiếng Anh ghi, “Kẹo Đường nói chung được mua trong khoảng từ 4 <i>Quan</i> 5 <i>Mạch (Tiền)</i> đến 5 <i>Quan</i> mỗi <i>Tạ</i> nặng 150 <i>Cân (cattys) Trung Hoa</i>, và Đường Cát trăng từ 3.4 đên 4 <i>Quan</i>, Đường Nâu Hạng Trung từ 2 <i>Quan</i> trở lên mỗi <i>Tạ</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">l) Bản Thảo tiếng Anh ghi, “Sẽ cần, vào nửa sau của Tháng Bảy,  muộn nhất, để thu gom Tiền của bạn, cho mọi thứ mà vị Chúa Vương đã mua của bạn, v.v…[<i>&amp;c</i>. trong nguyên bản, một lối viết tắt khác của <i>et cetera (etc </i>hay<i> &amp;c)</i>, chú của người dịch], tại Triều Đình, và gửi tiền xuống Faifoe, và tự thân bạn đi xuông đó, bởi đó là lúc <i>Đường </i>được mang ra để xuất cảng ra khỏi Xứ Sở; và Tháng Tám là Tháng duy nhất mà bạn có thể mua Đường Mía, nhiều và rẻ; và có thể mua Chuyến Hàng của bạn nhanh theo nhịp bạn có thể cân và đóng gói đường”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">m) Bản Thảo tiêng Anh ghi, “Theo tập quán, tính Các Thúng (hay Rổ, Sọt …) (Baskets), là 20 <i>Cân (Tàu)</i>, trừ khi bạn nghĩ chúng cân nặng hơn”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">n) Bản Thảo tiếng Anh ghi, “bạn có thể đóng gói nó lại vào các Thúng hay Sọt có kích cỡ mà bạn muốn, và toàn thể lệ phí đóng gói lại, chuyên chở v.v… không nhiều hơn 50 <i>Đồng (Cash)</i> mỗi <i>Tạ</i>”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">o) Bản Thảo tiếng Tây Ban Nha ghi, “Trong năm 1750, Lụa Sống được bán với giá 200 <i>Coans</i> mỗi <i>Tạ </i>Trung Hoa: Lụa Dệt (Wrought Silk) rẻ y như tại Trung Hoa”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">p) Bản Thảo tiếng Tây Ban Nha ghi, “Sắt thì phong phú, nhưng sự xuất cảng thì bị ngăn cấm, y như tại Trung Hoa”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">q) Bản Thảo tiếng Tây Ban Nha ghi, “họ có (<i>Mantas de Algodon, Mantequillas p* Cobijas</i> [?]), Khăn trải giường bằng bông vải [Cotton Coverlits trong nguyên bản, Coverlits là tiếng Anh cổ, ngày nay thường viết là Coverlet hay coverlid, chú của người dịch], và nhỏ hơn làm Áo Choàng, loại tốt nhất giá 2 <i>Coans</i>”.  [Chú thích này nhiều phần đặt sai chỗ, vì không liên quan đến phần văn bản trong bài nói về sản phẩm của Gỗ, chú của người dịch]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">r) Bản Thảo tiêng Anh ghi, “Các Quà Biếu, mà tôi nghĩ sẽ được chấp nhận bởi vị Chúa Vương, là, một tấm Vải Màu Đỏ Thắm (Scarlet Cloth), một tâm Vải Dài hạng tốt, một Thanh Kiếm nhỏ xinh xắn, viễn vọng kính, và các chiếc nhẫn có 9 viên đá: vị Chúa Vương muốn có một cỗ xe ngựa với bộ yên cương và tất cả phụ tùng để đóng ngựa; Vị Chúa Vương cũng muốn có mộtChiếc Áo Giáp bằng các mảnh kim loại đan vào nhau (Coat of Mail); hai hay ba Con Chó, đặc biệt Các Con Chó Nước [Water-Dog, chó có thể bơi giỏi, chú của người dịch], và một con có thể sai vặt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Các Quà Biếu phải được trao cho <i>Ung Kay an</i> [?], và cho viên <i>Thái Giám Thứ Nhì</i> (Second Eunuch), có thể là một tấm vải màu xanh da trời, một tâm Nhiễu [Morees trong nguyên bản, không có trong tự điển tiếng Anh, người dịch đoán là ghi sai chính tả từ tiếng Pháp danh từ Moiré, để chỉ vải có vân như sóng nước như vải nhiễu của ta, chú của người dịch] loại tốt, hay một Hộp Các Kẹp [ nhíp nhổ tóc, nhổ râu …] và một vài chiếc nhẫn; một Lọ Nước có mùi hăng xinh xắn, chứa chất tẩy rửa vết nhơ (Spirits of Hartshorn); sẽ cần thiết để trao một ít quá biếu cho quan <i>Shabander</i> tại Faifoe (Hội An), nhưng hãy cẩn thận đừng bao giờ để Lòng Quảng Đại của bạn xuất hiện trừ với những người mà bạn có công việc phải giao dịch, bới có vài vị Quan Lại, các kẻ sẽ tìm cách làm quen với bạn một cách rất lịch sự, và sau đó liên tục quấy rầy bạn đòi quá biếu, các kẻ không có thẩm quyền gì để phục vụ bạn”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">s) Bản Thảo tiêng Anh ghi, “Các Ngôi Nhà ở Faifoe (Hội An) sẽ phải có giá thuê, đủ tiện nghi, giữa khoảng 30 đến 100 <i>Quan</i> cho một Mùa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">t) Bản Thảo tiếng Anh ghi, “Giữ một cái Kiệu, với hai Phu Khiêng Kiệu, và luôn luôn có Các Đầy Tớ, để đi ra ngoài với Bạn, và cư xử với mọi người với Sự Trầm Tĩnh lớn lao.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">u) Bản Thảo tiếng Anh ghi, “Nếu bạn lấy một Hầu Thiêp (Mistress), tốt hơn cô ta là một Quả Phụ của một người đàn ông Trung Hoa, và phải chắc chắn để đón nhận cô ta từ Cha Mẹ cô ấy, hay từ Các Bè Bạn; cần giữ sự bình tĩnh lớn lao với Nhà Ngữ Học (Thông Dịch Viên) của bạn, và khiến ông ta tin tưởng rằng bạn đặt một sự tín nhiệm to lớn nơi ông ta, mặc dù bạn phải đừng bao giờ tin cậy ông ta; hãy học một số từ của ngôn ngữ càng sớm càng tốt, mà Bạn, cùng với Nữ Quản Gia của bạn, có thể thực hiện một số công việc lặt vặt, không phải lúc nào cũng làm phiền Nhà ngữ Học của bạn”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">v) Được gọi như thế tại Phi Luật Tân, một Loại Gỗ giống như gỗ Mahogany (gỗ dái ngựa), song các vân gỗ gần nhau hơn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">w) Bản Thảo bị tẩy xóa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">x) Một Ghi Chú ghi, “Các Ý Tưởng về Một Khu Định Cư, đáng sợ đối với người Đàng Trong”, và “các sự Hội Kiến thường xuyên, tốn kém, và gây ra một sự coi thường các Quan Thượng Thư (Ministers), các kẻ dựa trên đó âm mưu chống lại Ông”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">y) Một Bản Thảo <i>Mem ~.</i> [không hiểu nghĩa từ viết tắt này, sẽ tra cứu lại sau, chú của người dịch] của ông William Roberts ghi “Lewis thứ 15 có viết cho Người Anh Làm Vua, rằng người Anh và người Hòa Lan là các kẻ Chống Lại Đạo Thiênn Chúa (Infidels)”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">z) Điều được cho biết là họ đã được tái nhập cảnh rất sớm./-</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">_____</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Nguồn: <b>Robert Kirsop</b>, Phần 1: Some Account of COCHIN CHINA, by Mr. Robert Kirsop, who was there in the Year 1750, Phần 2: Proceedings of the French, and Some Reasons for their Miscariage, in COCHIN-CHINA, in 1749, trong Tuyển Tập <i>Oriental Repertory</i>, biên tập bởi Alexander Dalrymple, và được in bởi ông G. Biggs tại London, England, năm 1793,   các trang 241- 254. </span></p>
<p class="facebook"><a href="http://www.facebook.com/share.php?u=http://phiatruoc.info/mot-so-tuong-trinh-ve-dang-trong-khoang-cuoi-thap-nien-1740/" target="_blank"><img src="http://phiatruoc.info/wp-content/plugins/add-to-facebook-plugin/facebook_share_icon.gif" alt="Share on Facebook" title="Share on Facebook" /></a><a href="http://www.facebook.com/share.php?u=http://phiatruoc.info/mot-so-tuong-trinh-ve-dang-trong-khoang-cuoi-thap-nien-1740/" target="_blank" title="Share on Facebook">Share on Facebook</a></p>
<p><iframe src='http://www.facebook.com/plugins/like.php?href=http%3A%2F%2Fphiatruoc.info%2Fmot-so-tuong-trinh-ve-dang-trong-khoang-cuoi-thap-nien-1740%2F&amp;layout=button_count&amp;show_faces=true&amp;width=280&amp;action=recommend&amp;colorscheme=light&amp;height=30' scrolling='no' frameborder='0' style='border:none; overflow:hidden; height:30px' allowTransparency='true'></iframe>
<div class="bottomcontainerBox" style="background-color:#F0F4F9;">
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<iframe src="http://www.facebook.com/plugins/like.php?href=http%3A%2F%2Fphiatruoc.info%2Fmot-so-tuong-trinh-ve-dang-trong-khoang-cuoi-thap-nien-1740%2F&amp;layout=button_count&amp;show_faces=false&amp;width=85&amp;action=like&amp;font=verdana&amp;colorscheme=light&amp;height=21" scrolling="no" frameborder="0" allowTransparency="true" style="border:none; overflow:hidden; width:85px; height:21px;"></iframe></div>
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<g:plusone size="medium" href="http://phiatruoc.info/mot-so-tuong-trinh-ve-dang-trong-khoang-cuoi-thap-nien-1740/"></g:plusone>
			</div>
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<a href="http://twitter.com/share" class="twitter-share-button" data-url="http://phiatruoc.info/mot-so-tuong-trinh-ve-dang-trong-khoang-cuoi-thap-nien-1740/"  data-text="Một số tường trình về Đàng Trong khoảng cuối thập niên 1740" data-count="horizontal"></a>
			</div>
</p></div>
<div style="clear:both"></div>
<div style="padding-bottom:4px;"></div>
<p><i>Scridb filter</i><!-- Scridb filter--></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phiatruoc.info/mot-so-tuong-trinh-ve-dang-trong-khoang-cuoi-thap-nien-1740/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Những người Mỹ sau cùng rút ra khỏi Việt Nam</title>
		<link>http://phiatruoc.info/nhung-nguoi-my-sau-cung-rut-ra-khoi-viet-nam/</link>
		<comments>http://phiatruoc.info/nhung-nguoi-my-sau-cung-rut-ra-khoi-viet-nam/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 22 Apr 2013 23:26:44 +0000</pubDate>
		<dc:creator>tapchiphiatruoc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Chinh tri - Xã hội]]></category>
		<category><![CDATA[Lịch sử]]></category>
		<category><![CDATA[chiến tranh Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Ngô Bắc]]></category>
		<category><![CDATA[việt-mỹ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phiatruoc.info/?p=10895</guid>
		<description><![CDATA[
Bob Drury &#38; Tom Clavin
Ngô Bắc dịch và phụ chú &#8211; Trích từ Gió-O

Khi mọi việc đã xong xuôi, tôi không chắc là liệu tôi sẽ được một phần thưởng hay một cú đá đít thật mạnh. &#8212; Thiếu Tá Jim Kean, Thủy Quân Lục chiến Hoa Kỳ

Hồi kết cuộc trên Chiến hạm USS Okinawa &#8211; 08:45 sáng 30 tháng ...]]></description>
	
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: right;" align="center"><span style="font-size: medium;"><b>Bob Drury &amp; Tom Clavin<br />
</b><strong>Ngô Bắc </strong><span style="font-size: small;"><em>dịch và phụ chú &#8211; Trích từ <a href="http://www.gio-o.com/NgoBac/NgoBacBDruryTClavinSaigon1975A.htm" target="_blank">Gió-O</a></em></span></span></p>
<blockquote>
<p align="center"><span style="font-size: medium;">Khi mọi việc đã xong xuôi, tôi không chắc là liệu tôi sẽ được một phần thưởng hay một cú đá đít thật mạnh. &#8212; Thiếu Tá Jim Kean, Thủy Quân Lục chiến Hoa Kỳ</span></p>
</blockquote>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-size: medium;"><strong>Hồi kết cuộc trên Chiến hạm USS Okinawa &#8211; 08:45 sáng 30 tháng Tư năm 1975</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Bản thân Jim Kean lấy làm ngạc nhiên.  Ông đã không nghĩ rằng mình còn đủ năng lực để phá lên cười.  Song nơi đây ông đang cười toa toét như một con ma trơi khi ông đứng trên sàn con tàu tấn công thủy lục USS <i>Okinawa</i>.  Họ đã không thể vươn tới chiếc USS <i>Blue Ridge</i>, nơi mà Toán Swift 22 được chờ đợi đáp xuống – chiếc soái hạm của Đoàn Đặc Nhiệm 76 thì quá xa ngoài khơi và chiếc trực thăng đã không còn đủ nhiên liệu.  Và giờ đây Kean ngắm nhìn với một cái cười toét miệng khi mười lính bảo vệ an ninh Thủy Quân Lục Chiến quần áo tả tơi của ông bước ra khỏi chiếc trực thăng, lần lượt từng người lính, để rồi bị tước vũ khí bởi một đội Thủy Quân Lục Chiến Của Hạm Đội.<span id="more-10895"></span></span></p>
<div id="attachment_10896" class="wp-caption aligncenter" style="width: 631px"><a href="http://phiatruoc.info/nhung-nguoi-my-sau-cung-rut-ra-khoi-viet-nam/usembassy1975/" rel="attachment wp-att-10896"><img class="size-full wp-image-10896" alt="Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, 1975" src="http://phiatruoc.info/wp-content/uploads/2013/04/USEmbassy1975.jpg" width="621" height="673" /></a>
<p class="wp-caption-text">Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, 1975</p>
</div>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Kean đã sẵn trao khẩu súng trường M-16 loại phát cho Thủy Quân Lục Chiến của chính ông, một khẩu súng lục tự động 0.9 milimét mà ông đã nhặt được gần hồ tắm của tòa đại sứ, và khẩu súng Colt 45 Gold Cup cá nhân của ông.  Song một số lính Phòng Vệ An Ninh Thủy Quân Lục Chiến (PVANTQLC) của ông, miễn cưỡng giao nạp các súng ống của họ, đã không hoàn toàn sốt sắng như thế.  Kean nhận thức rằng Các Thủy Quân Lục Chiến Hạm Đội đã có lệnh của họ: mọi vũ khí mang theo bởi bất kỳ ai đặt chân lên một tàu Hoa Kỳ sẽ bị vứt sang một bên.  Song, ông đã nhận thấy quang cảnh thì kỳ quái.  Không kể các lựu đạn ném bằng tay, ông đếm được ba mươi sáu súng trường và súng lục đủ loại và kích thước khác nhau bị tịch thu từ các lính của ông và bị ném xuống Biển Nam Hải [sic], kể cả hai khẩu súng lục tự động do Tiệp Khắc chế tạo mà lính của ông đã nhặt được từ những nơi mà chỉ có Trời mới biết và ngay cả một khẩu súng .32 mạ chất chromium.  Có một lúc ông đã nghĩ mình có thể phải can thiệp, khi ông nhận thấy Steve Schuller cãi nhau dây dưa với một Thủy Quân Lục Chiến Hạm Đội.  Nhưng trước khi ông có thể ra tay, Schuller đã đổi thái độ, sải bước đến cạnh sườn của sàn bay, và quăng các vũ khí của chính mình từ trên mạn tàu.  Nếu chúng sẽ bị chìm xuống, anh ta sẽ tự mình làm việc đó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Đúng, Kean nghĩ lại, đúng là <i>quân cướp của Pancho Villa</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Tất cả lính PVANTQLC, hàng trăm dân tỵ nạn Nam Việt Nam, quân sự và dân sự, đứng xếp hàng làm thủ tục.  Hàng tá các chiếc trực thăng của Không Quân Hoàng Gia [Royal?] Nam Việt Nam tiếp tục lảng vảng trên đầu, nhất định sẽ bị ném xuống cùng nấm mồ trên biển như các khẩu súng của lính PVANTQLC, bất luận là chúng có tìm được khoảng trống trên sàn tàu để đáp xuống hay không.  Một số thủy quân lục chiến của Kean còn ở trên khoang tàu để ngắm nhìn hoạt cảnh, nhưng viên thiếu tá đã quá kiệt sức.  Ông đã làm xong thủ tục nhập cảnh trên tàu, tìm thấy một giường nơi boong tàu bên dưới, và chìm vào một giấc ngủ say trong sáu tiếng đồng hồ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Trước 3 giờ chiều một chút, một thủy thủ đã lay ông thức giấc.  Tướng Carey đã triệu hồi ông đến chiếc soái hạm USS Blue Ridge.  Khi chiếc trực thăng nhấc mình khỏi chiến hạm USS <i>Okinawa</i> cho một chuyến bay mười lăm phút, Kean thắc mắc khong rõ ông ta sẽ gặp rắc rối tới đâu về việc bố trí hơi gas làm chảy nước mắt trên mái nhà [tòa đại sứ].  <i>Ừ, mình đã có một binh nghiệp tốt kéo dài đến nay.  Có thể sẽ là một sự tổn thất sau cùng của cuộc chiến tranh Việt Nam</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Tài sản duy nhất của ông là một điếu xì gà đã hút một nửa, và khi Tướng Carey tra hỏi ông, Kean vẫn còn đang mặc chiếc áo đánh golf hiệu Arnold Palmer và quần tây màu xanh.  Viên thiếu tá thấy nhẹ khi Tướng Carey chúc mừng ông ta về công việc được thi hành tốt, và kế đó, Kean tiếp tục đến gặp “The Bulls: Những Con Bò Mộng” khác – tiểu đoàn trưởng và sĩ quan hành quân của lực lượng đổ bộ Thủy Quân Lục Chiến, cũng như trưởng toán đổ bộ của trung đoàn, Đại Tá Al Gray.  Chính trong phiên họp này ông ta hay biết rằng thi thể của Hạ Sĩ  (Corporal) Charles McMahon và Binh Nhất (Lance Corporal) Darwin Judge vẫn còn ở đâu đó trong Sàigòn và rằng Đại tá Gray đang cầm đầu một cuộc điều tra về việc không thu hồi được thi hài của họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Mẫu tin tức dữ tợn này đã khuấy động lại sự tức giận của ông về việc đã phải phân tán làm đôi toán biệt phái của ông ba ngày trước đó và gửi nhóm đó đến DAO [Văn Phòng Tùy Viên Quân Sự].  Nhưng ông đã không nói gì cả.  Còn gì để nói nữa.  Kean còn khám phá thêm rằng các đại tá Lục Quân Hoa Kỳ Madison và Summers, các kẻ cũng lên tàu USS <i>Blue Ridge</i>, đã tố cáo các Thủy Quân Lục Chiến tại tòa đại sứ hoảng loạn “và để lại đàng sau những người mà một cách nào khác có thể được cứu vớt”, kể cả các người Đại Hàn say rượu.  Kean bực mình về điều ông xem là một sự vu khống nhưng cân nhắc lời nói của ông một cách thận trọng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       “Chúng tôi có lẽ đã có thể di tản hết mọi người trong khuôn viên tòa đại sứ”, ông nói với Đại Tá Gray.  “Nhưng chúng tôi sẽ phải phớt lờ các mệnh lệnh của Tổng Thống để làm việc đó”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Trong khi đó, mặc dù lính PVANTQLC của ông không có các thủ tục hành chính nhiêu khê hay sự “bắn sẻ” liên binh chủng để đối phó, họ thấy rằng họ gặp phải một ván đề: các thủy thủ Hải Quân, nhận thức được cơ hội lịch sử,  thường tìm cách để thuổng những đồ dùng cá nhân lặt vặt mà họ mang theo, kể cả quần áo của họ, làm kỷ niệm.  Sau khi họ đã làm xong thủ tục nhập tàu và được đưa xuống các boong tàu bên dưới, họ đã cởi bỏ các y phục hôi hám và lảo đảo đi tìm các trận tắm đầu tiên của họ trong một tuần lễ.  Schuller tháo các chiếc tất ra – các mảnh thịt dứt ra giữa chúng – khi anh nhận thấy một thủy thủ chụp lấy chiếc áo của Terry Bennington.  Anh ta chặn người thủy thủ lại, và từ khi đó trở đi, các lính PVANTQLC đã tìm cách thay nhau vào buồng tắm, canh gác cho quân phục của người kia.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Toàn thể toán biệt phái an ninh Thủy Quân Lục Chiến Sàigòn đã đến được căn cứ hải không quân tại Subic Bay, Phi Luật Tân hôm 6 Tháng Năm.  Tại Tòa Đại Sứ Mỹ ở Manila, họ được biệt trú và được cấp phát dao cạo râu, bàn chải đánh răng, và, một lộc trời, các bữa ăn nóng hổi.  Tuy nhiên, điều làm họ buồn phiền, với các sở thông hành, các giấy tờ công vụ, và sổ lĩnh lương bị mất từ lâu, những ngày kế đó đã phải ngồi tại các chiếc bàn đặt trên giá kê để điền hàng đống mầu đơn từ &#8212; “sự đón tiếp về quê” chính thức của họ trước sự vui mừng của chế độ thư lại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Cuối cùng, sau một cuộc nổi loạn nhỏ, Kean đã dàn xếp để phát ngân viên chính của tòa đại sứ ứng trước $200 mỹ kim cho mỗi lính của ông, và họ được phép ra ngoài căn cứ để đi mua sắm quần áo sạch sẽ.  Đương nhiên, sau khi mua sắm giầy, quần jean xanh, và áo thung T-shirts, phần lớn xúm xít về “Hẻm Con heo: Pig Alley” nổi tiếng của thành phố thủ đô – phiên bản đường Tự Do của Manila.  Tuy nhiên, mọi nơi trong thành phố mà họ đi đến, họ bị theo sau bởi các thông tín viên la hét đòi nghe “câu chuyện thực sự” của những khoảnh khắc sau cùng trên nóc tòa đại sứ.  Cuối cùng, sau một trong quá nhiều cuộc chạm trán với các nhà báo dò hỏi, phần lớn trong toán biệt phái đã trưng dụng một quán rượu, trả cho chủ nhân của quán để thảy ra ngoài những ai không phải là lính PVANTQLC, và đã trải qua tám tiếng đồng hồ ăn, uống, và sống lại điều mà nhiều người đã giả định sẽ là các khoảnh khắc sau cùng trong cuộc đời của họ.  Đông đảo các cô gái quán rượu Phi Luật Tân ở trong số các khán giả hiếu kỳ bên ngoài quán rượu ngây người nhìn vào, và tin đồn rằng số tiền mà các Thủy Quân Lục Chiến được ứng trước đã không được chi trả hoàn toàn cho thực phẩm và rượu bia.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Tromg bữa tiệc, Trung Sĩ Nhất Juan Valdez đã trải qua phần lớn buổi tối thu mình suy tư ở một góc nhà.  Sau hai ngày đáp lên chiến hạm USS <i>Okinawa</i>, Valdez cũng được chở tới chiến hạm USS <i>Blue Ridge</i> để được tra hỏi bởi Tướng Carey và Đại Tá Gray, và chính nơi đó anh ta, giống như Kean, khám phá ra rằng thi hài của Hạ Sĩ McMahon và Binh Nhất Judge vẫn chưa hề rời khỏi Sàigòn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Thoạt tiên Valdez tức giận sôi sục với Trung Sĩ Xạ Thủ (Gunnery Sergeant) Vasco Martin, người mà anh ta đã cắt cử phụ trách đội lính PVANTQLC được phái sang DAO (Văn Phòng Tùy Viên Quân Sự).  Tuy nhiên, cơn tức giận của anh đối với Martin đã sớm giảm xuống, khi anh tự đặt mình vào vai trò viên đội trưởng và suy nghĩ về các sự hỗn loạn hoàn toàn đã bao phủ Văn Phòng DAO trong và sau khi có các sự pháo kích của Quân Đội Bắc Việt.  Martin đã không thể làm gì để mang thi hài của các thanh niên đó về nước, và vào lúc các lính PVANTQLC đến Manila, cơn thịnh nộ của Valdez đã quay trở ngược vào bên trong.  Sau hết, anh ta là Trung Sĩ “Cao Cấp Nhất” cũng như thuộc trường phái cổ điển: anh ta đã tin tưởng sâu xa trong tâm hồn mình tín điều rằng các người lính TQLC không bao giờ bỏ sót một bạn đồng ngũ của chính họ đàng sau lưng.  Biến cố sẽ ám ảnh anh ta trong nhiều năm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Ngày kế tiếp, trở lại tòa đại sứ tại Manila, Kean đang sửa soạn cho chuyến quay trở lại Hồng Kông khi anh gặp gỡ [Đại Sứ] Graham Martin tại văn phòng viên đại sứ Mỹ tại Phi Luật Tân.  Đó là lần cuối cùng họ gặp nhau.  Hai bên trao đổi cuộc nói chuyện lặt vặt mo6t. cách vụng về &#8212; Martin vẫn còn xanh xao vàng vọt và ủ rũ một cách thảm thiết – và Kean cảm thấy nhẹ nhõm khi hướng đến phi trường sau khi cuộc đối thoại ngắn ngủi của họ được kết thúc.  Không lâu sau đó, trở lại Hồng Kông, anh ta đã bắt đầu công tác đánh máy lại từ trí nhớ một bản báo cáo sau khi thi hành công tác dài chín trang, cách nhau một hàng, cũng như thảo các sự tường thuật đề bạt sẽ tạo thành căn bản cho bốn mươi hai huy chương Hải Quân Chiến Công và Hải Quân Tuyên Dương sau này được tưởng thưởng cho các lính Phòng Vệ An Ninh Thủy Quân Lục Chiến thuộc các toán biệt phái ở Sàigòn, Cần Thơ, Phnom Penh, Nha Trang, Đà Nẵng và Biên Hòa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Khi anh ta ráp nối các chiến công của các lính Thủy Quân Lục Chiến của anh ta lại với nhau, anh đã nghĩ về Napoléon, kẻ có lần từng ghi nhận rằng các hành vi can đảm mà các người lính sẽ thực hiện để có được một dải huy chương nhỏ bé.  Câu hỏi của chính ông cũng đã được trả lời khi, thay vì một cú đá mạnh vào đít, anh được ban thưởng Huy Chương Sao Đồng về công trạng do các hành động của anh ta tại Sàigòn trong tuần lễ cuối cùng của Tháng Tư 1975.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Chiếc thương thuyền SS <i>Pioneer Contender</i>, lôi theo sau hai chiếc bè đổ bộ được biến cải của Terry McNamara, đã đến được bán đảo Vũng Tầu và các chiên thuyền vòng ngoài của Hạm Đội Thứ Bảy khoảng 9:30 sáng ngày 30 Tháng Tư, 1975.  Việc đầu tiên mà viên cựu [tổng] lãnh sự Mỹ tại Cần Thơ và viên hạ sĩ quan phụ trách lính PVANTQLC Cần Thơ của ông, Trung Sĩ Tham Mưu (Staff Sergeant) Steve Hasty, nhận thấy bao quanh họ, dòng nước xanh của Biển Nam Hải [sic] bừa bãi với mảnh vỡ của tàu bị đắm và đồ vật trôi dạt của các chiếc thuyền tỵ nạn chạy trốn.  Hai người đã chia nhau một bữa điểm tâm lạnh trên sàn chiếc thương thuyền khi một người đưa tin thông báo McNamara rằng hai chiếc bè LCM tơi tả của ông sẽ không còn cần thiết để di tản người Việt Nam từ bờ biển của bán đảo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Không lâu sau buổi trưa, McNamara và Hasty được di chuyển bởi tàu cứu nạn Nhật Bản sang một chiếnc tàu lớn hơn được thuê mướn bởi người Mỹ, chiếc LST Đại Hàn được xây dựng để đổ bộ các chiếc xe tăng, có khả năng đi biển.  Họ đã trải qua một tối lạnh lẽo nằm ngủ dưới sao đêm và hai mươi bốn tiếng sau, một đội phi cơ trực thăng Thủy Quân Lục Chiến đã đến vớt McNamara và càc công dân Mỹ của ông cùng Hasty và nhóm lính Thủy Quân Lục Chiến nhỏ bé của anh ta và đã chở họ đến chiếc USS <i>Blue Ridge</i>.  Cuộc phiêu lưu tự biên tự diễn của họ đã qua. [Phần tường thuật của chính Terry McNmara sẽ được dịch và đăng tải sau này trên Gió O, chú của người dịch].</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Khi chiếc trực thăng Huey chở McNamara bay cao bên trên Hạm Đội Thứ Bẩy, viên chức ngoại giao kỳ cựu quan sát chiều dài và chiều rộng của hạm đội.  Ông đã có một ý nghĩ: <b><i>Làm sao mà một quốc gia với một sức mạnh lớn lao như thế lại kết thúc một cuộc chiến tranh bằng việc bỏ rơi đồng minh của nó và cứu vớt các công dân của chính nó trong một tình huống ô nhục đến thế?</i> </b>Trong khi chiếc tàu USS <i>Blue Ridge</i> lái đến Phi Luật Tân, Mcnamara đã gửi một điện văn về Bộ Ngoại Giao tại Hoa Thịnh Đốn về nơi chốn của ông và các nhân viên của ông và đã tìm cách đưa các ghi nhận của chính ông về hành trình theo đường sông [từ Cần Thơ ra biển, chú của người dịch].</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Trong khi đó Steve Hasty đã tìm thấy Jim Kean, sĩ quan chỉ huy của anh, tại khu biệt trú của Thủy Quân Lục Chiến trên tàu.  Khi Kean miệng cười toét nhận ra viên trung sĩ tham mưu trẻ tuổi của mình, ông hét to, “Anh đã thi hành công việc tốt đẹp mà chúng tôi kỳ vọng ở anh”.  Hasty sau đó đã được đẩy lên phần thượng tầng của chiếc tàu để được tra hỏi bởi đích thân Tướng Carey, một kinh nghiệm làm choáng váng cho một người lính áo xanh như thế.  Qua các ly trà đá, viên tướng đã cám ơn viên trung sĩ tham mưu về công tác tốt đẹp mà anh ta đã làm.  Một triệu ý nghĩ chạy ngang qua đầu của Hasty.  Sự phản bội của cơ quan CIA.  Việc leo lên tàu của Hải Quân VNCH.  Cuộc tấn công trên sông.  Trận mưa bão mù trời nhiều phần đã cứu vớt mạng sống của họ.  Nỗi tuyệt vọng của họ khi không tìm thấy một chiếc tàu Hải Quân Hoa Kỳ chờ đợi họ tại vùng châu thổ của con sông.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Song khi viên tướng hỏi về cuộc hành trình, viên trung sĩ tham mưu biết giữ các ý kiến riêng của mình và chỉ trình bày các sự kiện không thôi.  Anh ta đã bước ra khỏi phòng riêng của viên tướng với ý nghĩ.  <i>Ông không biết một nửa sự việc, thưa Ngài.</i><br />
</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Vào lúc hoàng hôn ngày 30 Tháng Tư, một lẽ thủy táng truyền thống đã được thực hiện trên sàn tàu USS <i>Hancock</i>.  Các quan tài thì trống rỗng.  Thi hài của Đại Úy William Nystul và Trung Úy Michael Shea không bao giờ được thu hồi từ chiếc trực thăng của họ, chiếc Swift 14, đã bị vỡ và chìm dưới nước sâu khoảng bảy mươi bộ Anh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Sau khi trưởng đoàn phi hành chiếc Swift 14, Stephen Wills, và nhân viên cơ khí bậc nhất của nó, Richard Scott, được cứu vớt từ Biển Nam Hải [sic], các vật phẩm duy nhất khác được thu hồi từ chiếc máy bay là bốn chiếc mũ của phi hành đoàn, và thanh ngang chân đáp xuống phía trước của chiếc trực thăng, với các bánh xe vẫn còn gắn vào đó.  Nguyên nhân của tai nạn không bao giờ được xác định, như như các sử gia Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến, Thiếu Tá George Dunham và Đại Tá David Quinlan sẽ viết sau này, “sự thiếu kinh nghiệm của phi hành đoàn và sự không quen thuộc với nhiệm vụ có thể đã là các yếu tố”.<br />
</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Cựu quân nhân trở thành nhà báo Bắc Việt, Đại Tá Bùi Tín, phó tổng biên tập tờ báo chính thức của Quân Đội Bắc Việt, tờ <i>Quân</i> <i>Đội Nhân Dân</i>, đi cùng với đội xe tăng dẫn đầu đã ủi xuyên qua cánh cửa trông như tấm vỉ sắt nướng thịt của các chiếc cổng dẫn vào Dinh Tổng Thống ở Sàigòn vào sáng ngày 30 Tháng Tư.  Trong khi ông Tín leo lên các bậc thang tới tòa kiến trúc hoa hòe giữa các lính bộ binh Bắc Việt đáng sợ, các kẻ điều khiển các xe tăng ngơ ngác, và các sĩ quan cấp thấp từ Quân Đoàn 2 của Tướng [Văn Tiến] Dũng, ông ta bị nhận lầm là một nhà lãnh đạo Cộng sản.  Ông ta được hướng dẫn bởi một viên phụ tá tổng thống đến một văn phòng riêng của Tướng Dương Văn Minh, mặc một chiếc áo ngắn tay và được bao quanh bởi các bộ trưởng của ông.  Ông Minh đã sẵn nói chuyện với người dân và quân đội Nam Việt Nam qua đài phát thanh – hạ lệnh họ ngừng chiến đấu và đoan chắc với họ rằng “một sự hòa giải và hòa hợp dân tộc” đang trong tầm tay.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Giờ đây ông đã chào đón ông Tín với một lời loan báo ngắn ngủi khác: “Tôi đang chờ đợi từ sáng sớm hôm nay để chuyển giao quyền hành cho ông”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Ông Tín sửng sốt.  Ông hỏi một người chỉ huy xe tăng QĐBV về nơi chốn của Tướng Dũng.  Không ai hay biết.  Như thế, ông Tín nắm lấy tình hình. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">      “Không có vấn đề chuyển giao quyền hành của ông”, ông ta nói với Tướng Minh.  “Quyền hành của ông đã sụp đổ.  Ông không có gì trong tay để giao lại, và do đó ông không thể giao lại những gì ông không thể có”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Như thể để hòan tất diễn tiến, ngay lúc đó một tiếng phát nổ của sự khai hỏa vũ khí tự động làm rung chuyển các cửa sổ.  Các bộ trưởng của Tướng Minh xao động, phía quân Bắc Việt không nhúc nhích.  “Quân lính chúng tôi chỉ đang ăn mùng”, ông Tín nói với các người trong phòng.  “Giữa người Việt Nam không có người thắng và không có người bị khuất phục.  Chỉ có người Mỹ bị đánh bại”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Lá cờ của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam, tức Việt Cộng, được treo cao trên Dinh Tổng Thống lúc 12:15 trưa, và khi ngày này trôi qua, Bùi Tín đã đi thăm thành phố bị bại trận.  Ông ta đã chụp ảnh các khúc to lớn của cây me rải khắp mặt đất của khuôn viên Tòa Đại Sứ Mỹ, và đi theo một toán quân Bắc Việt lên trên nóc tòa đại sứ, đang trống không, ngoại trừ sự vứt vung vãi các vũ khí bị thải hồi, các chiếc mũ sắt, và các chiếc áo giáp chống đạn.  Từ ở đó, trên nóc tòa kiến trúc cao nhất tại Sàigòn, ông ta có thể nhìn thấy các đám lửa vẫn còn đang cháy chung quanh thành phố, kể cả ở Phi Trường Tân Sơn Nhứt và khuôn viên Văn Phòng DAO bên cạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Muộn hơn vào buổi tối hôm đó, ông Tín đã biến mất vào một văn phòng nhỏ trong Dinh Tổng Thống để viết bản tin điện cho tờ báo của ông.  Ông đã viết một bài bốn trang giấy nhưng không biết làm sao để gửi nó đi cho các chủ biên của ông tại Hà Nội.  Ông đã xin quá giang một chuyến xe đi đến văn phòng DAO, hy vọng tìm thấy một máy viễn ấn còn hoạt động, nhưng khám phá rằng mọi trang thiết bị truyền tin đều đã bị làm hỏng bởi toán phá hủy thuộc Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Với một sự ức đoán, ông ta bước qua một tòa nhà nhỏ, nằm vòng ngoài của quần thể, một trong những kiến trúc đầu tiên được dựng lên bởi người Mỹ tại Sàigòn khi căn cứ được biết đến là Trại Davis.  Nó được chiếm ngụ bởi một toán truyền tin QĐBV để làm trụ sở.  Ông ta đã để lại bản tường thuật báo chí cho họ, và sau cùng nó đã được chuyển ra Hà Nội.     </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Những dòng mở đầu bài tường thuật của ông ta vì thế đã ghi: “Tôi đang viết bài báo này khi ngồi tại một bàn giấy trên tầng thứ nhì của Phủ Tổng Thống tại Sàigòn.  Cuộc chiến tranh lâu dài đã qua đi”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Frequent Wind: Trận Gió Thường Xuyên, cuộc hành quân Hoa Kỳ sau cùng tại Việt Nam, đã là một cuộc di tản lớn nhất và thành công nhất chưa từng được thực hiện.  Nó đã không được lập lại lần nào kể từ đó.  Trong các tuần lễ trước khi chiến dịch Frequent Wind được phóng ra hôm 29 Tháng Tư, các máy bay với cánh cố định đã di tản được 50,493 người, kể cả 2,678 cô nhi, từ Phi Trường Tân Sơn Nhứt của Saigòn.  Con số chính xác dân tỵ nạn được đưa ra biển bởi các trực thăng Không Quân Hoàng Gia [?] [Nam]Việt Nam, các máy bay tư nhân, các chiếc  xà-lan (barges), tàu đánh cá kéo lưới (trawlers) và các chiếc thuyền khác trong Tháng Tư đó, và bao nhiêu người đã đến nơi an toàn, thì không thể tính toán được.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Với bầu trời đông đúc trên Sàigòn, các sĩ quan tình báo của Tướng Dũng chứng tỏ khá chính xác trong sự lượng định của họ về điều mà nhiều người đã sẵn mệnh danh như “Cuộc Hành Quân Di Tản Dunkirk của Mỹ”.  Các phi công máy bay trực thăng của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã bay 682 phi vụ vào Sàigòn trong Chiến Dịch Trận Gió Thường Xuyên.  Tổng số 395 người Mỹ và 4,475 người Việt Nam và công dân nước thứ ba đã được di tản từ Văn Phòng DAO, với 978 người Mỹ và 1,220 người Việt Nam và những người khác đã được cứu vớt từ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ.  Tổng cộng, hơn 7,000 người đã được bốc ra khỏi rhành phố trước khi nó bị chiếm cứ bởi binh si Bắc Việt và Việt Công.  Trong số 420 người bị bỏ lại đàng sau tại tòa đại sứ, hơn 100 người là công dân Nam Hàn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Trong 1.054 giờ bay bởi các phi công máy bay trực thăng Thủy Quân Lục Chiến trong các hôm 29 và 30 Tháng Tư, Đại Úy Gerry Betty trong chiếc CH-46 Lady Ace 09 ghi nhiều giờ nhất, đã bay 18.3 giờ trong thời khoảng 20 tiếng đồng hồ.  Trước khi có sự quay trở về của chiếc tàu mẹ của họ, chiếc USS <i>Dubuque,</i> từ Vịnh Thái Lan, phi đội của Berry vẫn không có một “phi cảng gốc”, và ông cùng phi hành đoàn của ông đã trải qua hai mươi bốn tiếng kế tiếp quá giang trên chiếc USS <i>Duluth</i> cho tới, hôm 1 Tháng Năm, khi chiếc tàu <i>Dubuque</i> xả hơi quay về lại Biển Nam Hải.  Bốn chiếc trực thăng của Berry sau đó quay về chiếc <i>Dubuque</i>, và au đó lái sang Okinawa.  Vì nỗ lực anh hùng của họ trong cuộc di tản, Phi Đội Sea Knights của Berry được vinh danh là Phi Đội của Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến trong năm vào năm 1975.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Một ghi nhận nữa về máy bay trực thăng: chiếc trực thăng mà Steve Schuller nhận thấy đang đậu trên nóc tòa nhà trên đường Gia Long chiều ngày 29 đã trở thành một hình tượng mà cho đến ngày nay được tin tưởng một cách sai lạc là biểu trưng cho các người Mỹ cuối cùng rời Sàigòn.  Văn Phòng hãng thông tấn UPI nằm ở tầng trên cùng của Khách Sạn Peninsula Hotel, cách Pittman Apartments bốn khu phố. Trưởng phòng UPI là Alan Dawson, và có vài nhânh viên cùng thông tín viên tự do như Hubert van Es, một nhiếp ảnh gia Hòa Lan đã quyết định ở lại và tường trình sự chiếm giữ bởi quân Bắc Việt và Việt Cộng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Van Es vừa mới trở về sau khi đi chụp ảnh và đang ở trong phòng tối rửa phim.  Anh ta nhận thấy được một chiếc trực thăng trên nóc một tòa nhà.  Anh chụp lấy một chiếc máy ảnh và một ống kính 300 mm, ống kính dài nhất trong văn phòng, và phóng ra bao lơn.  Anh đã chụp được mười tấm hình của O. B. Harnage, một nhân viên của Cơ Quan CIA, đang giúp các thường dân leo lên chiếc trực thăng.  Sau khi rửa phim, Van Es đã lựa chọn một ảnh được in ra để chuyển bởi các tín hiệu phát thanh đến Tokyo từ văn phòng điện báo Sàigòn.  Tấm ảnh đen trắng khổ 5 x 7 phân Anh cần đến mười hai phút để gửi đi.  Van Es đã đi xuống mồ anh ta năm 2009, quả quyết rằng anh ta đã ghi xuống tin tức chính xác trong lời chú thích tấm ảnh, nhưng chính  các nhà biên tập đã giả định một cách lầm lẫn rằng nó là nóc nhà của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ và là chiếc máy bay trực thăng Mỹ cuối cùng để di tản Sàigòn. [Phần tường thuật của chính Van Es về bức ảnh lịch sử này sẽ được dịch và đăng tải trên Gió O, chú của người dịch]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Trong hồi ký của mình, <i>A Time to Heal</i>, [Tổmg Thống] Gerald Ford đã suy tưởng về sự thành công không được quảng bá của Mỹ trong những giờ phút kết thúc của Chiến Tranh Việt Nam.  “Khi mọi việc đã xong xuôi, tôi cảm thấy sự thỏa mãn và nhẹ nhõm sâu đậm rằng cuộc di tản đã là một sự thành công”, ông đã viết như thế.  “Tuy nhiên, vấn đề về những gì cần làm đối với các người tỵ nạn vẫn còn tồn tại.  Hơn 120,000 người trong họ đã tìm cách vượt thoát, nhưng họ đã không có nơi để đi đến.  Thái Lan không muốn họ.  Mã Lai, Nam Dương và Phi Luật Tân cũng thế.  Tôi cảm thấy Hoa Kỳ có một nghĩa vụ đặc biệt với họ, và vào ngày 30 Tháng Tư tôi đã yêu cầu Quốc Hội chấp thuận một dự luật sẽ cung cấp 507 triệu cho sự chuyển vận và chăm sóc họ.  Hạ Viện đã bác bỏ lời yêu cầu của tôi hôm 1 Tháng Năm.  Không thể tin được! Sau Thế Chiến II chúng ta đã mở các cổng của chúng ta và cung cấp một đời sống mới cho 1.4 triệu người di cư cùng 50,000 người nữa sau cuộc cách mạng Hung Gia Lợi trong năm 1956 và nửa triệu người Cuba sau khi Castro lên nắm quyền hành.  Trong năm 1975, các trại tỵ nạn đã được thiết lập khắp nước.  Với sự giúp đỡ của các công dân địa phương và các tổ chức thiện nguyện, 120,000 người Việt Nam đã bắt đầu một cuộc sống mới tại Hoa Kỳ, như những người tỵ nạn trước họ đã làm.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Những kẻ khác đã không may mắn như thế.  Mặc dù không có gì được hay biết một cách chính thức về số phận của khoảng 300 người tỵ nạn Việt Nam bị bỏ rơi trong khuôn viên tòa đại sứ &#8212; các người dân Nam Hàn bị bỏ lại đàng sau cuối cùng đã hồi hương về xứ sở của họ &#8212; theo chính phủ Hà Nội, hơn 200,000 các viên chức chính phủ, các sĩ quan quân đội, các binh sĩ Nam Việt Nam đã bị gửi đến “các trại cải tạo”, nơi sự tra tấn, bệnh tật, và thiếu dinh dưỡng lan tràn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Cựu tổng thống Nam Việt Nam, Tướng Dương Văn Minh, được đối xử khá hơn.  Vài ngày sau sự sụp đổ của thành phố thủ đô của ông, ông được phép quay trở về ngôi biệt thự của mình.  Ông đã sống ở đó trong tám kế tiếp trong sự ẩn dật, nuôi chim và chăm sóc các giống hoa lan ngoại nhập.  Trong năm 1983 ông được chấp thuận cho xuất cảnh sang Pháp, nơi ông sống gần Paris cho đến khi lại xuất cảnh lần nữa, sang Pasadena, California, nơi trong Tháng Tám 2001 ông bị bệnh và mất đi ở tuổi 85.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Ông Minh đã sống đủ thọ để nhìn thấy Hoa Kỳ tái thiết lập các quan hệ ngoại giao chính thức với Việt Nam dưới thời Tổng Thống Bill Clinton trong Tháng Bẩy 1995.  Tài sản tòa Đại Sứ Hoa Kỳ cũ đựoc hoàn trả cho Hoa Kỳ, và chiếc cầu thang dẫn lên bãi đáp trực thăng trên nóc nhà được cứu vớt và giờ đây được trưng bày tại Bảo Tàng Viện Gerald R. Ford ở Grand Rapids, Michigan.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Vào sáng ngày 29 Tháng Tư, 1975, lúc 9 giờ sáng giờ Tiêu Chuẩn Miền Đông – mười bảy tiếng sau khi loạt pháo kích của quân Bắc Việt vào Phi Trường Tân Sơn Nhứt bắt đầu – Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến hai mươi tám tuổi Michael Maloney nhận được một cuộc điện thoại tại một căn phòng kéo dùng làm một văn phòng tuyển mộ của Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến đàng sau Chi Nhánh Bưu Điện dưới phố Boston, Massachusetts.  Ngoài các nhiệm vụ của anh ta như một sĩ quan tuyển mộ, Maloney cũng là sĩ quan phụ trách số quân nhân bị tổn thất trong khu vực.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       “Tôi có một thông báo về sự tổn thất, KIA: Killed In Action: Bị hạ sát trong khi công tác”, người gọi từ Ban Tổn Thất của Quận Hạt Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến Thứ Nhất tại Garden City, New York bắt đầu nói.  “Anh có sẵn sàng để ghi lại chưa?”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Maloney đã sẵn sàng với một chiếc bút chì và tập giấy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       “Tên – McMahon, Charles”, giọng nói tiếp tục.  “Cấp bậc – Hạ Sĩ.  Các vết đạn bắn phá tung thành nhiều mảnh.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Trong vòng chín mươi phút, Đại Úy Maloney và Trung Sĩ Xạ Thủ Hilliard Crosswhite đã đến bằng một chiếc xe đến ngôi nhà dành cho hai gia đình sơn màu hồng và trắng của Edna và Charles McMahon, Sr., ở Woburn.  Charles McMahon Sr., một công nhân cơ xưởng phiên ban đêm, đang ngủ và không nghe thấy tiếng gõ cửa của họ.  Sau khi tham khảo với cảnh sát địa phương, hai quân nhân Thủy Quân Lục Chiến đã quay trở lại ngôi nhà của McMahon đúng lúc Edna McMahon và đứa con trai trẻ hơn của bà, Scott, một Thủy Quân Lục Chiến vừa mới được tuyển mộ song vẫn còn trong thời gian chưa có nhiệm vụ cụ thể, đang tiến vào ngôi nhà.  Scott McMahon dừng chân để nói với họ &#8212; “Tôi có thể giúp gì được các ông, thưa ngài?  Có việc về anh của tôi phải không?” – nhưng Maloney và Crosswhite đã yêu cầu được phép vào trong nhà.  Edna McMahon đánh thức người chồng thức dậy, và gia đình tụ tập tại phòng bếp. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Maloney thu hết can đảm.  “Thưa ông bà McMahon”, anh ta nói, “tôi tiếc phải thông báo với ông bà rằng con trai của ông bà, Charles, đã bị giết chết tại Việt Nam”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Maloney đã không nói – bởi anh ta không biết – rằng xác của đứa con trai cả của Charlie và Edna Mcmahon vẫn còn ở Sàigòn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">      Cách nửa đất nước, vào 11:30 sáng Giờ Tiểu Chuẩn Miền Trung trong cùng ngày, một chiếc xe Chevrolet màu đen chở hai quân nhân Thủy Quân Lục Chiến đã chặn Henry Judge khi ông ta sắp kết thúc các đợt đưa thư buổi sáng của ông tại Marshalltown, Iowa.  Chiếc xe đậu sát vào lề đường, các Thủy Quân Lục Chiến bước ra, và một người trong họ đã thông báo cho ông hay rằng con trai của ông, Darwin, đã bị hạ sát tại Việt Nam.  Họ đã đi bộ cùng với ông về ngôi nhà ván ghép màu trắng và đợi bên ngoài trong khi Henry nói cho bà vợ hay rằng con trai của họ đã chết.  Chiều hôm đó, ông bà Judges đã nói với toán đầu tiên của các thông tín viên bắt đầu cắm trại tại sân trước của họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       “Tẩt cả điều tôi có thể nói rằng Darwin đã cảm thấy nó đã phải có mặt ở đó để ngăn chặn Cộng Sản khỏi đến đây, Ida [?Edna] đã nói với các nam nữ ký giả tụ họp trong khi chồng của bà, Henry, đứng im lặng cạnh bà.  “Chúng tôi hãnh diện về đứa con đó.  Chúng tôi là người ngoan đạo Thiên Chúa, như quý vị thấy, và vị Chúa tốt lành sẽ chăm sóc chúng tôi.  Tôi yêu thương đứa con trai của tôi, nhưng khi đến giờ con phải ra đi …”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Lá thư “thăm hỏi trên tàu” mà Juan Valdez đã viết cho gia đình McMahon đến tay họ ít ngày sau khi họ hay biết được về cái chết của con trai họ.  Hạ Sĩ Charles McMahon, Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (USMC), và Hạ Sĩ Nhất Darwin Judge, USMC, Đại Úy William Nystul, USMC, và Trung Úy Michael Shea, USMC, đã là bốn người sau cùng trong số 58,151 người Mỹ bị chết trong Chiến Tranh Việt Nam, cuộc chiến cũng đã làm thương tích 300,000 người Mỹ và tốn phí $670 tỷ mỹ kim đã điều chỉnh theo lạm phát.  Cuộc chiến đã chứng kiến cái chết của hàng triệu người Việt Nam không được nói tới.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Với tám năm, năm tháng, và ba ngày – từ Nghị Quyết Vịnh Bắc Phần năm 1964 hồi Tháng Tám 1964 cho đến khi ký kết các Hiệp Định Hòa Bình Paris trong Tháng Một 1973 &#8212; Chiến Tranh Việt Nam cũng giữ kỷ lục cuộc xung đột quân sự chính thức dài nhất của Mỹ cho đến Tháng Sáu 2010, khi nó bị qua mặt về thời gian bởi Chiến Dịch Enduring Freedom tại A Phú Hãn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Vào ngày 1 Tháng Năm 1975, Đại Sứ Graham Martin, kẻ đã đồng ý tổ chức một cuộc họp báo tại phần nổi trên chiếc USS <i>Blue Ridge</i>, đã nhận được một điện tín sau cùng qua đường dây bí mật từ Bộ Trưởng Ngoại Giao Henry Kissinger.  Bức điện tín viết: “Tôi nghĩ cần khuyến cáo rằng ông nên tránh đưa ra mọi ý kiến công khai cho đến khi ông lập xong bản báo cáo lên Tổng Thống”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Các lời từ trước lâu của Kissinger chạy ngang qua đầu óc của Martin.  Ông phải lùi lại ra khỏi nơi đó bởi vì dân chúng Mỹ phải có một người nào đó để quy trách.  Martin đã bãi bỏ cuộc họp báo.  Song khi bị bắt gặp bởi các thông tín viên ở boong tàu bên dưới, vị đại sứ Hoa Kỳ cuối cùng tại Nam Việt Nam đã tuyên bố, “Tôi nghĩ người Mỹ có quyền hãnh diện về cuộc di tản này.  Tôi tuyệt đối không có gì phải xin lỗi cả”./-         </span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"><span style="font-size: medium;">***</span></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong><span style="font-size: medium;">Hậu truyện </span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Vào ngày 30 Tháng Tư, 2010, nhiều lính Phòng Vệ An Ninh Thủy Quân Lục Chiến có mặt trong những giờ cuối cùng của sự hiện hữu của đất nước Nam Việt Nam đã tụ họp tại Quantico, Virginia, để kỷ niệm 35 năm biến cố lịch sử.  Cuộc di tản hào hùng ba thập niên rưỡi trước đây đã được khởi động một các biểu trưng bởi cái chết của Darwin Judge và Charles McMahon, và cuộc họp mặt kỷ niệm biến cố sẽ kết thúc với sự tưởng nhớ buồn thảm về hai người lính Thủy Quân Lục Chiến trẻ tuổi bởi những người đã từng phục vụ với họ và đến những người mà số phận đã ban cho họ tặng phẩm của tuổi trung niên.  Giữa và trong số nhiều lễ tiết khác, các Thủy Quân Lục Chiến tụ họp đã tham dự buổi lễ mãn khóa Trường Phòng Vệ An Ninh Thủy Quân Lục Chiến năm 2010 với tư cách các khách danh dự, và thăm viếng Đài Tưởng Niệm Các Cựu Chiến Binh Chiến Tranh Việt Nam tại Hoa Thịnh Đốn, nơi họ tìm thấy danh tính của Judge và McMahon trên một kiến trúc bằng đá trầm mặc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Mặc dù đã phân tán khắp nơi sau các cuộc phiêu lưu nhiều gian truân của họ, phần lớn các Thủy Quân Lục Chiến đóng ở Sàigòn vẫn còn là các bạn cá nhân hay giữ liên lạc xuyên qua Hiệp Hội Về Biến Cố Sụp Đổ Của Sàigòn (Fall of Saigon Association), được đồng thành lập và hợp thức hóa bởi luật sư Doug Potratz trong năm 2000.  Một số không ít tiếp tục từ quân vụ của họ tại Việt Nam để xây dựng một binh nghiệp trong Binh Chủng.  Không phải tất cả mọi ngườiu đều có thể có mặt trong buổi tái ngộ này – ba trong “Mười Một Người Sau Cùng: Final Eleven”, kể cả Jim Kean, đã từ trần trước đó – nhưng như người đứng ra tổ chức cuộc họp mặt, cựu lính Phòng Vệ An Ninh Thủy Quân Lục Chiến Sàigòn, Ken Crouse, đã ghi nhận, “Họ vẫn còn ở với chúng ta, trong trái tim và đầu óc của chúng ta”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Mặc dù hiếm được nói tới, hai sự hiện diện như bóng ma treo lơ lửng trên cuối tái ngộ cuối tuần kỷ niệm ba mươi lăm năm đó.  Người đầu tiên là vị đại sứ sau cùng tại Sàigòn, Graham Martin.  Tiếp theo sự trở về từ Việt Nam, Martin, kẻ không hề một lần nữa lại phục vụ ở hải ngoại trong bất kỳ tư cách nào của Bộ Ngoại Giao, được bổ nhiệm làm phụ tá đặc biệt cho Bộ Trưởng Ngoại Giao Henry Kissinger.  Ông đã về hưu không lâu sau đó, trong năm 1977, mắc chứng bệnh khí thủng (emphysema) và phải thở bằng một bình oxygen.  Ông và người vợ, Dorothy, đã quay trở về quê quán của họ tại Winston-Salem, North Carolina, nơi họ ăn uống nơi nhà một trong các người anh em họ trẻ tuổi hơn của Martin, người đang theo học đại học trong khu vực.  Martin đã mất trong năm 1990 ở tuổi bảy mươi bảy.  Trong năm 2002, người anh em họ, yêu cầu được giấu tên, có viết một lá thư cho trang mạng của Hiệp Hội Fall of Saigon Association trong đó ông có ghi, “Tôi trải qua từng đêm này sang đêm khác nghe các sự hồi tưởng của ông, sự tường thuật giải bày của ông về những gì xảy ra không như mong đợi và các niềm hối tiếc của ông.  Theo bà Dorothy, Grahm chưa bao giờ hoàn toàn hồi phục từ các biến cố trong Tháng Tư 1975.  Bà nói chúng đã dằn vặt ông đên chết trong 15 năm.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Một sự hiện diện trong buổi họp mặt khác không hề được thảo luận tới, nhung được cảm nhận trong nội tạng, là sự hiện diện của Tướng Văn Tiến Dũng, viên tư lệnh Cộng Sản trong năm 1975 đại diện cho tất cả mọi điều mà Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ chiến đấu chống lại tại Việt Nam.  Quyển sách của ông Dũng, <i>Đại Thắng Mùa Xuân</i>, được viết trong một văn phong thú vị một cách ngạc nhiên, đã trở thành tác phẩm tiêu chuẩn từ quan điểm của Bắc Việt về chiến tranh và những ngày cuối cùng của nó, và các quân nhân Phòng Vệ An Ninh Thủy Quân Lục Chiến kỳ cựu đã không ngạc nhiên khi hay biết rằng tiếp theo sau sự chiếm cứ Sàigòn, ông Dũng đã chỉ huy cuộc xâm lăng của Việt Nam vào Căm Bốt cũng như cuộc xung đột biên giới phát sinh năm 1979 với Trung Quốc.  Trong năm kế, ông ta trở thành bộ trưởng quốc phòng của Việt Nam, một chức vụ ông nắm giữ trong bảy năm cho đến khi bị loại bỏ.  Sau đó, ông Dũng đã sống im lặng cho đến khi từ trần trong Tháng Ba 2002.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Một cách mỉa mai, tại một bữa ăn tối Thứ Bẩy trong một mô hình rập khuôn Quán Rượu Tun Tavern nổi tiếng trên nền của Bảo Tàng Viện Quốc Gia về Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến, cả các ý nghĩ lẫn các ly rượu được nâng lên trong sự tưởng nhớ đến một nhân vật nổi tiếng khác đã từ trần, kẻ mà các cảm tình chính trị có thời từng bị nhìn bởi nhiều Thủy Quân Lục Chiến là không mấy khác biệt với các lãnh tụ Cộng Sản tại Bắc Việt Nam.  Bởi chính cố Thượng Nghị Sĩ Edward M. Kennedy của Tiểu Bang Massachusetts là kẻ, bắt đầu từ Tháng Năm 1975, mở đầu cho các cuộc thương thảo mạnh mẽ, sau hậu trường với Hà Nội đưa đến sự giải thoát các di cốt của Hạ Sĩ McMahon và Hạ Sĩ Nhất Judge, được hoàn trả cho hai phụ tá của thượng nghị sĩ tại Thành Phố Sàigòn trong Tháng Ba 1976 và được chở về Hoa Kỳ để mai táng theo nghi lễ quân cách.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Tương tự, một nhân vật dân sự nữa đã chiếm giữ một vị thế đặc biệt trong trái tim và đầu óc của các cựu Phòng Vệ An Ninh Thủy Quân Lục Chiến: cựu [tổng] lãnh sự Mỹ tại Cần Thơ, Francis Terry McNamara.  Mặc dù nhóm ở Sàigòn xa lạ vào lúc đó “cuộc giang hành” nổi tiếng của McNamara, các chiến công của ông từ lâu đã đi vào các niên sử không chính thức của Bộ Ngoại Giao và Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến.  Trung thành với lòng yêu mên của ông dành cho Việt Nam và người dân của nó, theo sau cuộc di tản Sàigòn, McNamara xung phong làm giám đốc Ban Đặc Nhiệm để Tái Định Cư Dân Tỵ Nạn Đông Dương tại Bộ Ngoại Giao.  Từ chức vụ đó, ông tiếp tục phục vụ làm tổng lãnh sự tại Quebec, Csanada, phó trưởng phái bộ tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Beirut, Lebanon; và phụ tá thứ trưởng ngoại giao đặc trách các sự vụ công chúng.  McNamara cũng phục vụ với tư cách thành viên chuyên về ngoại giao tại Viện Hoover Institution của Đại Học Stanford và là nhà nghiên cứu cao cấp tại Đại Học Quốc Phòng (National Defense University).  Sau ba mươi bảy năm công vụ, ông về hưu trí tại McLean, Virginia, trong năm 1993, để viết hồi ký của ông, thuật lại cuộc phiêu lưu của ông xuôi dòng sông Cần Thơ (River of Poems).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Khi một vài người tại cuộc họp mặt hỏi Steve Hasty khi nào anh ta sẽ ngồi xuống để viết lại câu chuyện đi biển của chính anh về “Câu Lạc Bộ Du Thuyền Cần Thơ: Cần Thơ Yatch Club”, anh mỉm cười một cách buồn bã và nói, “Có thể khi tôi có thì giờ trong kiếp sau của tôi”.  Anh có thể không nói dỡn chơi.  Trước khi về hưu trong Tháng Hai 2009 sau một binh nghiệp bốn mươi mốt năm xuất sắc, Hasty đã trở thành một đại tá hiện dịch lớn tuổi trong toàn thể Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến, cũng như là Thủy Quân Lục Chiến hiện dịch phục vụ lâu dài nhất.  Một năm sau khi rời khỏi Cần Thơ, Hasty được tuyển chọn cho một sự bổ nhiệm làm một chuẩn úy, và ngay sau đó đã bắt đầu một hành trình bao gồm các sự bổ nhiệm trong ngành tình báo quân đội, Trường Trinh Sát – Bắn Tỉa (Scout-Sniper School), và phản khủng bố.  Trong năm 1988, anh đã tốt nghiệp hạng bình (<i>magna cum laude)</i> từ Đại Học George Washington University với cấp bằng về Trung Đông học và các quan hệ quốc tế, và hai năm sau đó đã tình nguyện cho nhiệm vụ chiến đấu trong Chiến Dịch Tấm Khiên Sa Mạc (Operation Desert Shield) và tiếp tục trong khả năng đó trong suốt Chiến Dịch Trận Bão Sa Mạc (Operation Desert Storm).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Anh đã trau dồi sự tinh thông chống khủng bố và thu thập tình báo trong các nhiệm sở sau đó tại Turkey, vùng Kurdistan ở phía bắc của Iraq, Somalia, Cairo, Haiti, Bosnia, Cuba, Peru, Norway, và Kosovo, và ba tuần trước khi có các cuộc tấn công ngày 11 Tháng Chín, anh đã đảm trách chỉ huy tất cả các linh Phòng Vệ An Ninh Thủy Quân Lục Chiến tại các cơ sở ngoại giao Hoa Kỳ trên toàn thế giới.  Tiếp theo sau việc chỉ huy này, anh lại một lần nữa tình nguyện cho nhiệm vụ chiến đấu, tại Iraq, và theo sau sự cử nhiệm đó với hai sự điều động đến A Phú Hãn.   Chiếc rương của Hasty đầy các huy chương bao gồm Huy Chương Công Tác Ưu Việt Quốc Phòng, Chiến Công Bội Tinh (Legion of Merit), Huy Chương Ngôi Sao Đồng với Huy Hiệu Anh Dũng và ba Ngôi Sao Vàng, Huy Chương Công Trạng Quốc Phòng với ba Bó Lá Cây Sồi, Huy Chương Công Trạng, Huy Chương Tuyên Dương Công Tác Hỗn Hợp, Huy Chương Tuyên Dương Hải Quân với Huy Hiệu Anh Dũng và Ngôi Sao vàng, huy chương Thành Tích Công Tác Hỗn Hợp, Huy Chương Giải Thưởng Công Lao Danh Dự Bộ Ngoại Giao, và mười bẩy bằng tuyên dương của các đơn vị Hoa Kỳ và ngoại quốc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Trong cùng bữa ăn tối kỷ niệm đó tại Quán Tun Tavern, khi không ít lời đàm thoại tất nhiên hướng đến các câu chuyện di tản từ khuôn viên Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, tên của Gerry Betty được nhắc lại bởi ít người.  Vào đúng lúc ấy, Betty, kẻ được mời tới Quantico bởi hiệp hội, ở cách xa một lục dịa, đang được chiêu đãi như khách danh dự tại Bảo Tàng Viện Flying Leatherneck Aviation Museum tại Miramar, California, nơi chiếc máy bay cũ của anh ta, chiếc CH-46 Sea Knight, Lady Ace 09, được đặt để trưng bày thường trực.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Tiếp theo sau sự sụp đổ của Sàigòn, Betty đã thăng tiến một cách vững chắc qua các cấp bậc của binh chủng, phục vụ tại các nhiệm sở quanh thế giới và đã theo học tại cả Trường Cao Đẳng Tham Mưu và Chỉ Huy Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến và Cao Đẳng Chiến Tranh Hải Quân, từ đó anh đã đạt được một bằng cao học về nghiên cứu chiến lược.  Tại nhiệm sở cuối cùng của anh, khi đó đã được thăng cấp đại tá, Betty đã chỉ huy hơn sáu mươi máy bay và 3,000 Thủy Quân Lục Chiến và thủy thủ yểm trợ các hoạt động của hạm đội trong Chiến Dịch Tấm Khiên Sa Mạc.  Trong khi phục vụ, anh cũng tìm giờ để kiếm được một bằng cao học từ trường Salve Regina College, điều tốt hơn nữa, có lẽ, là việc thán phục các họa kiểu phức tạp trên ba Huy Chương Phi Hành Xuất Sắc, hai huy chương Chiến Công, hai Huy Chương Không Quân Phi Vụ Đơn Thân, một Huy Chương Tuyên Dương Hải Quân, và Dây Biểu Chương Hoạt Động Chiến Đấu và bốn mươi sáu Huy Chương Không Quân.  Vào lúc hồi hưu khỏi Binh Chủng trong năm 1993 sau hai mươi lăm năm phục vụ, Betty đã thu thập được hơn 4,800 tổng số giờ bay.  Ngày nay, Betty, kẻ đã tiến tới việc thành lập một công ty an ninh phi hành, chia đôi thời giờ giữa Florida và tiểu bang quê quán của anh ở Montana.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Số phận của các Thủy Quân Lục Chiến là những kẻ sau cùng rút ra khỏi Sàigòn bao gồm từ vui vẻ đến chua chát.  Tại cuộc tái ngộ, các lời cầu nguyện im lặng được khấn cho hai “Bobbys” đã từ trần – Schlager và Frain.  Người kể tên trước, kẻ mà công tác tại Sàigòn là lần công tác thứ ba của anh ở Việt Nam, đã phục vụ hai mươi ba năm trong Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến trước khi hồi hưu và trở thành giám thị kiểm tra phẩm chất cho một công ty tại tiểu bang Washington.  Anh vẫn còn là một kẻ thích hoạt động ngoài trời nhiệt thành, đi bộ và cắm trại khắp vùng Tây bắc Pacific cho đến khi đời sống của anh bị cắt ngắn bởi chứng ung thư, trong Tháng Hai 2003, ở tuổi sáu mươi hai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Trong trường hợp của Frain, anh đã ra khỏi Thủy Quân Lục Chiến không lâu sau Sàigòn, và các chiến hữu của anh đã mất sự tiếp xúc với anh ta cho mãi đến 1992, trước khi có sự từ trần của anh không lâu.  “The Body Beautiful” [ức đoán là biệt hiệu của anh ta, chú của người dịch] đã vươn ra ngoài trong một lá thư gửi cho viên trung sĩ cao nhất ngày trước của anh, Juan Valdez.  Frain đã viết rằng sau khi anh xuất ngũ khỏi Binh Chủng trong năm 1975, anh đã di chuyển về lại vùng Tây Bắc Thái Bình Dương [Pacific Northwest, tức vùng Tiểu Bang Washington, chú của người dịch], theo học đại học, đã đỗ bằng cử nhân về tài chính doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp, và đã khởi sự một chức nghiệp dân sự như một phân tích viên ngân sách cho Bộ Năng Lượng Tiểu bang Washington.  Trong các thập niên kế tiếp, anh đã làm cha bốn “đứa con gái xinh đẹp”, song cũng trải qua ba mươi cuộc giải phẫu vì bệnh ung thư và chứng bệnh Crohn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">“Chúng ta tất cả đều bị ném mình vào một thời điểm và không gian sẽ tồn tại như một phần của lịch sử”, Frain đã đã kết thúc bức thư của anh gửi cho Valdez.  “Có một mối ràng buộc không thể nào diễn tả bằng từ ngữ sẽ mãi mãi nối kết chúng ta”.  Nỗi đau đớn của các bệnh tật này thì quá nhiều để nhận lãnh, Frain đã tự tử trong năm 1993.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Cả hai Bobby Frain và Bobby Schlager đều đã được chôn tại Nghĩa Trang Quốc Gia Willamette tại Richland, Washington.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Tương tự, bất kỳ khi nào tên của “Silent” Phil Babel được nêu lên tại cuộc họp mặt, nó luôn luôn được nói trong giọng điệu nín lặng.  Không lâu sau cuộc di tản, các đồng sự Thủy Quân Lục Chiến của anh đã mất tiếp xục với Babel, và để trả lời các sự tra hỏi của họ, anh ta nói rõ ràng anh đã không muốn dính dáng gì với họ.  Sau khi hay biết được sự từ trần của Frain, Valdez đã thực hiện một nỗ lực phối hợp để vươn tới Babel bằng cách du hành đến nhà anh ta ngoại ô San Antonio.  Babel đã từ chối gặp anh, và Valdez đã bị xua đuổi ra khỏi cổng trước bởi bà vợ của Babel.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Mặt khác, tên của Duane Gevers, chỉ mang lại các nụ cười mỉm và tiếng cười lớn.  Sau khi Gevers rời khỏi Thủy Quân Lục Chiến trong năm 1977, anh dường như đã biến mất khỏi mặt đất cho mãi đến trong thập niên 1980, các cựu đồng sự PVANTQLC bắt đầu nhận được các cú điện thoại từ anh nài nỉ họ gia nhập cùng với anh ta tại Saudi Arabia, nơi Vua Chợ Đen [Black Market King, biệt hiệu của Gevers, chú của người dịch] đã đạt được một hợp đồng từ một ông hoàng Saudi nổi tiếng để cung cấp an ninh.  Ngày nay, Gevers vẫn còn đang đảm trách và vận tải hàng hóa như một người lái xe tải đường dài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Không ít các PVANTQLC ở Sàigòn tiếp nối sự phục vụ trong Thủy Quân Lục chiến của họ bằng các chức nghiệp trong sự chấp hành luật pháp.  “Big” John Ghilain, người đã rời khỏi Sàigòn trên chiếc trực thăng thứ nhì ngay trước chiếc sau cùng, đã giải ngũ trong năm 1977 và gia nhập Phòng Cảnh Sát Medford, Massachusetts, nơi anh ta vẫn còn đang phục vụ với tư cách sĩ quan tuần cảnh cũng như một thành viên của Đội Phòng Vệ Danh Dự của Phòng này.  Ghilain cũng là phó chủ tịch của Hiệp Hội The Fall of Saigon Association và vẫn còn tích cực trong công việc cấp phát học bổng dành cho sự tưởng nhớ McMahon và Judge.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Dave Norman đã ròi khỏi Binh Chủng trong năm 1976 để tìm kiếm một cấp bằng đại học, và khi là một sinh viên, anh đã được tuyển dụng bởi Văn Phòng Cảnh Sát Trưởng Quận Greene County (tiểu bang Ohio), làm việc trong các công tác chìm chống nha phiến.  Ba năm sau, anh được tuyển làm một sĩ quan toàn thời gian bởi phòng cảnh sát Piqua, Ohio, và bốn năm sau được thuyên chuyển đến Văn Phòng Cảnh Sát Trưởng Quận Miami, cũng thuộc tiểu bang Ohio.  Anh đã đỗ bằng cao học ngành tư pháp hình sự và vẫn còn là một thám tử của Quận Miami.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Steve Bauer đã đi một vòng quanh co hơn đến phù hiệu thi hành luật pháp của anh.  Anh đã phục vụ trong hai mươi năm trong Binh Chủng, theo sau sự bố trí toán PVANTQLC Sàigòn với các nhiệm sở tại San Diego, Alaska, Okinawa, và Coronado, California, trong các chức vụ thay đổi như trung sĩ trung đội bộ binh, giảng viên huấn luyện, liên lạc Thủy Quân Lục Chiến với Lục Quân Hoa Kỳ, và Hà Sĩ Quan Phụ Trách [NCOIC: Non-Commisioned In Charge, chú của người dịch] của một Đơn Vị Thám Thính Thủy Bộ.  Anh được tuyển cho lên chuẩn úy và trong Chiến Dịch Trận Bão Sa Mạc đã phục vụ với tư cách sĩ quan [vũ khí] hóa chất, sinh học, hạt nhân của Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Thứ Nhất.  Theo sau Chiến Dịch Trận Bão Sa Mạc, anh đã quay trở lại Trại Camp Pendleton với tư cách viên chức chấp hành của một công ty giảng huấn và đã hồi hưu trong năm 1992.  Trong khi phục vụ, Bauer đã lấy một nữ thủy thủ Hải Quân, và khi cô vợ được chuyển về Newport, Rhoda Island, anh đã di chuyển sang miền đông và bắt đầu đi học trường luật.  Nhưng khi vợ anh lại được thuyên chuyển một lần nữa, về Pensacola, Florida, anh đã bỏ trường luật và đã khởi sự một chức nghiệp thứ nhì với Phòng Cảnh Sát Pensacola, nơi anh vẫn còn phục vụ với tư cách một trung sĩ tuần cảnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Terry Bennington, kẻ có mặt trong cuộc tái ngộ, đã chuyển từ Sàigòn sang một nhiệm sở Phòng Vệ An Ninh Thủy Quân Lục Chiến tại Vienna, Áo Quốc.  Anh đã là một trong các PVANTQLC đang công tác trong năm kế tiếp khi Tổng Thống Ford bị trượt té nổi tiếng xuống từ thang máy bay trong cuộc thăm viếng nước Áo của ông.  Khi Tổng Thống Ford hay biết rằng Bennington đã là một trong các Thủy Quân Lục Chiến sau cùng rời khỏi Sàigòn, tổng thống đã mời viên hạ sĩ quan gặp ông một cách riêng tư trong một cuộc đàm thoại ba mươi phút trong đó Bennington “đã cám ớn ông đã lấy chúng tôi ra khỏi đó”.  Sau đó trong buổi tối, Betty Ford [vợ Tổng Thống Ford, chú của người dịch] đã điện thoại cho anh lấy địa chỉ bố mẹ anh để bà có thể gửi cho họ một bức ảnh chụp của anh với ông Ford.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Bennington đã hồi hưu khỏi Binh Chủng với cấp bực thượng sĩ (sergeant major) trong năm 1995, sau khi đã phục vụ hai mươi bốn năm.  Anh đã trở thành một huấn luyện viên Lính Trừ Bị Junior ROTC tại Quận Henrico, tiểu bang Virginia, và bốn năm sau đó đã bắt đầu làm việc cho chính quyền liên bang tại Quantico với tư cách một phân tích viên các sự giả cách (simulations).  Bennington hiện là phó giám đốc Ban Huấn Luyện Các Sự Giả Cách, Huấn Luyện và Giáo Dục Chỉ Huy, nhằm phát triển các phương pháp để cứu sinh mạng của nhân viên Mỹ đang phục vụ tại A Phú Hãn và Irap, nơi con trai của anh đã phục vụ hai lần với tư cách một Thủy Quân Lục Chiến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Steve Schuller đã đóng góp hai mươi năm (và hai mươi bốn ngày) cho quân vụ và về hưu từ Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến vào năm 1991 với cấp bậc trung sĩ xạ thủ (gunnery sergeant) – nhưng không phải trước khi thực hiện được giấc mơ của anh và được điều động sang Okinawa với tư cách một “bộ binh siêu tuyệt” (super grunt) của tổ Trinh Sát Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Thứ Ba.  Anh có nói mình “đã trải qua các năm tốt nhất của cuộc đời” khi sống ở bụi cây “phục kích” các đại đội đi bộ Thủy Quân Lục Chiến thay nhau luân phiên đi xuyên qua rừng của Okinawa, nhưng cảnh huống gần nhất với chiến đấu là việc huấn luyện với đạn thật cùng Các Thủy Quân Lục Chiến Đại Hàn Dân Quốc.  Nằm giữa nhiệm vụ Trinh Sát là sự bố trí PVANTQLC cuối cùng hậu Sàigòn sang New Delhi, Ấn Độ, và sau này thi hành vài công tác trong nước, từ giảng viên huấn luyện trên Đảo Parris đến viên chức tuyển mộ tại cả tiểu bang quê quán của anh ở Connecticut lẫn ở tổng hành dinh Thủy Quân Lục Chiến tại Hoa Thịnh Đốn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Như một người dân sự, Schuller đã khởi lập một công ty xây dựng tu bổ nhà cửa và trong năm 2001, gần ba mươi năm ngày sau khi anh rời nông trại của mẹ anh để bắt đầu cuộc phiêu lưu trong Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến, anh đã quay trở về mảnh đất tại vùng tây bắc Connecticut nơi mà anh cùng người vợ di chuyển vào ngôi nhà mà họ xây dựng đối diện với cánh đồng của trang trại thuộc gia đình anh, chỗ họ vẫn đang sinh sống.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Mike Sullivan tiếp tục ở lại trong Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến và hồi hưu trong Tháng Một 1988 sau khi phục vụ trong hai mươi mốt năm.  Anh đã quay lại trường đại học và đỗ bằng cao học về hành chính công quyền cùng lúc khi anh đang làm việc tại Đại Học National University với tư cách cố vấn tài chính cho các sinh viên.  Sau khi nhận được văn bằng, Sullivan đã làm việc cho hệ thống tòa án thuộc Quận Orange County, California, ở cả các ban hình sự lẫn khiếu nại nhỏ nhặt.  Anh đã rời công việc trong năm 1993 để trở thành người chăm sóc toàn thời gian cho đứa con trai, Sean, bị mắc chúng loạn dưỡng bắp thịt (muscular dystrophy).  Anh đã làm công việc này cho đến Tháng Mười Hai, 2009, khi Sean bị mất.  Theo Sullivan, “Kể từ đó vợ tôi và tôi vẫn còn đang cố gắng để bám giữ lấy cuộc sống không có cháu Sean”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Tiếp theo sau cuộc di tản của Sàigòn, Jim Kean ở lại trong Binh Chủng trong tám năm nữa, hồi hưu với cấp bậc trung tá trong năm 1983 sau hơn hai mươi ba năm quân vụ.  Anh đã sử dụng sự lưu loát Hoa ngữ và kinh nghiệm của anh tại Đông Nam Á để thành lập ra Yankee Traders, một công ty xuất-nhập cảng các sản phẩm Á Châu, và đã đánh cuộc sự thành công của sự kinh doanh đó vào việc mua lại một công ty khác, Pacific Grinding Wheel, tại Marysville, tiểu bang Washington.  Trong năm 1998, anh đã về hưu khỏi công việc dân sự và, với tất cả năm đứa con đã trưởng thành của họ và đều đã tự lập, anh và Rosanne đã dọn đến Cummaquid, Massachusetts, nơi anh ta dự định viết quyển tự truyện của mình.  Sinh hoạt hàng ngày của anh bao gồm các vòng bơi buổi sáng tại một hồ tắm địa phương, và vào ngày 5 Tháng Năm, 2008, khi ra khỏi hồ tắm, anh bị cơn đau tim gây chết người.  Anh được chôn cất tại Nghĩa Trang Quốc Gia Massachusetts ở Bourne.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Được nhớ nhung da diết tại cuộc tái ngộ 2010 là Trung Sĩ Juan Valdez.  Ở tuổi bẩy mươi hai, bộ râu mép dầy, rậm rạp của “Frito Bandito” giờ đây đã hoàn toàn ngả bạc nhưng cách nào khác, anh vẫn còn trong tình trạng sẵn sàng chiến đâu.  Valdez, kẻ điều khiển với tư cách chủ tịch Hội The Fall of Saigon Association từ ngôi nhà của anh tại Miền Nam California, đã dự định tham dự biến cố cuối tuần sau khi ngừng chân ngắn ngủi tại thành phố quê quán của anh ở San Antonio, Texas.  Nhưng anh đã ngã bệnh vì cảm cúm trên chuyến xe hỏa chở anh sang miền đông và đã miễn cưỡng quay trở về California.  Anh đã hoàn toàn hồi phục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Viên Trung Sĩ Thượng Đẳng đã trải qua ba mươi năm trong Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến yêu dấu của anh, kể cả các nhiệm vụ PVANTQLC tại Vienna và Brusseks.  Anh cũng đã phục vụ như một Quân Cảnh (MP) lưu thông bằng xe gắn máy tại Hawaii, và trong một công tác biệt trú tại Trại Pendleton trong Tháng Sáu 1985 anh đã được thăng lên cấp bậc cao nhất dành cho quân nhân đăng lính của Binh Chủng, chánh trung sĩ pháo thủ (master gunnery sergeant).  Anh đã hoàn tất chức nghiệp quân sự hiện dịch tại Trại Camp Pendleton trong Tháng Sáu 1985 và đã chọn vùng sát phía bắc của San Diego làm nơi ở.  Trong mười hai năm sau ngày hồi hưu, Valdez đã làm phụ tá quản lý nhà ở của Cơ Quan Gia Cư Cho Các Gia Đình Trong Trại của Trại cho đến khi hồi hưu sau cùng khỏi công việc dân sự trong năm 1997.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Là một người học hỏi thâm niên về bất kỳ và mọi điều kích thích anh ta, trong suốt chức nghiệp lâu dài của mình, Valdez đã đỗ các bằng cao đẳng về lịch sử nghệ thuật và quản trị và giám sát tư pháp hình sự, địa ốc, và quản trị khách hàng.  Anh đang tiếp tục theo học các Trường Cảo Đẳng Cộng Đồng tại Palomar và MiraCosta, với các dự định chuyển tiếp lên Đại Học Uinersity of California tại San Marcos “trong tương lai gần”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Sau bữa ăn tối tại Quán Tun Tavern vào đêm ngày 1 Tháng Năm 2010, một số các bạn chưa sẵn sàng về nhà.  Khoảng một tá đã lang thang đến Command Post (Quán Đồn Chỉ Huy), một quán rượu được ưa thích tại căn cứ Quantico, nơi các chiếc bàn được lại lại sát nhau để mọi người có thể ngồi và nói chuyện.  Các tấm ảnh mới được chụp và các ảnh cũ được chuyền quanh, các ký ức được chia sẻ và tranh luận, các ly rượu được gọi (và tái gọi).  Đã có đầy tiếng cười khi các người nhắc lại sự tô điểm việc chiến đấu từ lâu của họ [?, đoạn này viết khó hiểu, sai văn phạm và không rõ nghĩa, chú của người dịch] được phóng đại cho nhau về một biến cố định hình đời sống của họ ba mươi lăm năm trước đây.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Đến lúc kết thúc cuộc họp mặt ngẫu nhiên này, thái độ đột nhiên trở nên buồn rũ khi John Ghilain và Dwiight McDonald, ngồi ở đầu dẫy bàn nối dài, bày tỏ sự hối tiếc rằng tióan biệt phái PVANTQLC Sàigòn đã để lại hai người khi họ rời khỏi thành phố.  “Cho đên ngày hôm nay, tôi vẫn mong muốn rằng chúng ta đã mang được các Thủy Quân Lục Chiến đó về nước với chúng ta”, McDonald thì thầm, và các chiếc đầu quanh bàn đã gật gù một cách im lặng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Sau đó không còn gì để nói.  Đã đến lúc quay về nhà , và để cho các cựu Thủy Quân Lục chiến này tiếp tục đời sống của họ./-</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">&#8211;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;">Nguồn: <b>Bob Drury &amp; Tom Clavin</b>, <i>Last Men Out, The True Story of America’s Heroic Final Hours in Vietnam</i>, Free Press: New York, London, Toronto, Sydney, 2011, chapter Epilogue, các trang 251-262; Postscript, các trang 263-271.. </span></p>
<p class="facebook"><a href="http://www.facebook.com/share.php?u=http://phiatruoc.info/nhung-nguoi-my-sau-cung-rut-ra-khoi-viet-nam/" target="_blank"><img src="http://phiatruoc.info/wp-content/plugins/add-to-facebook-plugin/facebook_share_icon.gif" alt="Share on Facebook" title="Share on Facebook" /></a><a href="http://www.facebook.com/share.php?u=http://phiatruoc.info/nhung-nguoi-my-sau-cung-rut-ra-khoi-viet-nam/" target="_blank" title="Share on Facebook">Share on Facebook</a></p>
<p><iframe src='http://www.facebook.com/plugins/like.php?href=http%3A%2F%2Fphiatruoc.info%2Fnhung-nguoi-my-sau-cung-rut-ra-khoi-viet-nam%2F&amp;layout=button_count&amp;show_faces=true&amp;width=280&amp;action=recommend&amp;colorscheme=light&amp;height=30' scrolling='no' frameborder='0' style='border:none; overflow:hidden; height:30px' allowTransparency='true'></iframe>
<div class="bottomcontainerBox" style="background-color:#F0F4F9;">
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<iframe src="http://www.facebook.com/plugins/like.php?href=http%3A%2F%2Fphiatruoc.info%2Fnhung-nguoi-my-sau-cung-rut-ra-khoi-viet-nam%2F&amp;layout=button_count&amp;show_faces=false&amp;width=85&amp;action=like&amp;font=verdana&amp;colorscheme=light&amp;height=21" scrolling="no" frameborder="0" allowTransparency="true" style="border:none; overflow:hidden; width:85px; height:21px;"></iframe></div>
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<g:plusone size="medium" href="http://phiatruoc.info/nhung-nguoi-my-sau-cung-rut-ra-khoi-viet-nam/"></g:plusone>
			</div>
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<a href="http://twitter.com/share" class="twitter-share-button" data-url="http://phiatruoc.info/nhung-nguoi-my-sau-cung-rut-ra-khoi-viet-nam/"  data-text="Những người Mỹ sau cùng rút ra khỏi Việt Nam" data-count="horizontal"></a>
			</div>
</p></div>
<div style="clear:both"></div>
<div style="padding-bottom:4px;"></div>
<p><i>Scridb filter</i><!-- Scridb filter--></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phiatruoc.info/nhung-nguoi-my-sau-cung-rut-ra-khoi-viet-nam/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>7</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Cộng sản đấu cộng sản tại Đông Nam Á</title>
		<link>http://phiatruoc.info/cong-san-dau-cong-san-tai-dong-nam-a/</link>
		<comments>http://phiatruoc.info/cong-san-dau-cong-san-tai-dong-nam-a/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 03 Mar 2013 20:19:04 +0000</pubDate>
		<dc:creator>tapchiphiatruoc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Lịch sử]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến tranh Biên giới]]></category>
		<category><![CDATA[Ngô Bắc]]></category>
		<category><![CDATA[việt-trung]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phiatruoc.info/?p=10514</guid>
		<description><![CDATA[
Ngô Bắc dịch và phụ chú
Trích từ Gió-O
Lời người dịch: Tác giả, Douglas Pike, một nhân viên ngoại giao cao cấp, nguyên là Trưởng Phòng Đông Dương Sự Vụ, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ trong chính quyền Tổng Thống Jimmy Carter.  Tác giả Douglas Pike có cho người dịch Ngô Bắc hay biết rằng ông đã đại diện Bộ Ngoại ...]]></description>
	
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: right;"><span style="font-size: medium;"><strong>Ngô Bắc</strong><em> dịch và phụ chú<strong><br />
</strong></em><span style="font-size: small;"><em>Trích từ <a href="http://www.gio-o.com/NgoBac/NgoBacDouglasPike1979.htm">Gió-O</a></em></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><strong>Lời người dịch:</strong> T<i>ác giả, Douglas Pike, một nhân viên ngoại giao cao cấp, nguyên là Trưởng Phòng Đông Dương Sự Vụ, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ trong chính quyền Tổng Thống Jimmy Carter.  Tác giả Douglas Pike có cho người dịch Ngô Bắc hay biết rằng ông đã đại diện Bộ Ngoại Giao trong Ủy Ban Liên Bộ Ngoại Giao – Quốc Phòng tại Ngũ Giác Đài để theo dõi thường trực suốt Cuộc Chiến Tranh Biên Giới Trung-Việt năm 1979. <span id="more-10514"></span></i></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><i>Sau khi rời khỏi guồng máy hành chính, ông đã lần lượt là Giám Đốc Văn Khố Đông Dương, Viên Nghiên Cứu Đông Á, Đại Học U. C. Berkeley, và đồng Giám Đốc Trung Tâm Việt Nam, Texas Tech Univerisity cho đến lúc từ trần vào năm 2002.</i></span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"><span style="font-size: medium;">***</span></p>
<div id="attachment_10515" class="wp-caption aligncenter" style="width: 610px"><a href="http://phiatruoc.info/cong-san-dau-cong-san-tai-dong-nam-a/viet-trung-5/" rel="attachment wp-att-10515"><img class="size-large wp-image-10515" alt=" Chinese scout captured in the 1979 Sino-Vietnamese War. " src="http://phiatruoc.info/wp-content/uploads/2013/03/Viet-Trung-5-1024x688.jpg" width="600" height="403" /></a>
<p class="wp-caption-text">Chinese scout captured in the 1979 Sino-Vietnamese War.</p>
</div>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Một tình trạng chiến lược được dự liệu hiêm hoi đã nảy sinh tại Đông nam Á kể từ khi có sự sụp đổ của nam Việt Nam hồi Tháng Tư 1975.  Tình trạng này là cuộc đấu tranh quyền lực trần truồng (no-holds-barred) giữa các nước cộng sản; nó bao gồm một cuộc chiến tranh lạnh chua chát giữa hai siêu cường cộng sản và các cuộc chiến tranh nóng bỏng huynh đệ tương tàn giữa các nước cộng sản trong vùng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Bốn biến cố đặc biệt cung cấp khung cảnh cho một sự khảo cứu tình trạng này: (1) sự chấm dứt chiến tranh Việt Nam, lên đến đỉnh điểm trong sự chiến thắng hoàn toàn cho các phe cộng sản Đông Dương khác nhau; (2) sự bộc phát chiến tranh nồi da nấu thịt, trong nội bộ cộng sản, với các hợp âm mang âm hưởng dân tộc chủ nghĩa và ý thức hệ; (3) mối quan hệ mới, đang phát triển giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, mà, ngoài việc có ý nghĩa hiển nhiên đối với Liên Bang Sô Viết, sẽ có tác động gián tiếp trên Đông Nam Á, Nhật Bản, Hàn Quốc, và các nước khác; và (4) sự cải thiện kinh tế-xã hội, sự dẻo dai về tâm lý, và sự may mắn rõ ràng được thụ hưởng bởi khối ASEAN tức Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á (Thái Lan, Nam Dương, Mã Lai, Tân Gia Ba, và Phi Luật tân).  Bốn sự phát triển này có tình chất quan trọng nhất trong việc xác định diễn tiến hiện tại và tương lai của các biến cố tại Đông Nam Á.</span></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><span style="font-size: medium;"><b>Tổng quan</b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       “Sự thăng bằng” vẫn là phương thuốc bằng vàng trị bách bệnh trong thuật ngữ của các nhà hoạch định chính sách trong vùng, ít nhất với những người tại các quốc gia không cộng sản.  Trong khi sự ổn định có thể mang khái niệm <i>duy trì</i> <i>nguyên trạng</i> (<i>status quo</i>), sự thăng bằng có một âm vang rung động cân đối một cách thích đáng với nó.  Ngày nay, sự thăng bằng có một ý nghĩa mới.  Không còn bị nhận thức như một tình trạng đơn giản của sự quân bình giữa hai lực lưỡng cực nữa, nó đã trở thành một động lực đa phương đa diện.  Sự thay đổi trong ý nghĩa này thực sự là một phó sản của các biến cố.  Thí dụ: nơi đã từng có hai nước Á Châu cộng sản chính yếu, giò đây có ba nước; bất kỳ chủ thuyết nguyên khối nào đã hiện hữu trong phe cộng sản đã bị thay thế bởi sự đối nghịch thẳng thừng; các sự thay đổi chính trị tại Đông Dương đã tạo ra một sự biến đổi cán cân địa chính trị liên tục và thực sự mọi nước trong vùng giờ đây chấp nhận các chính sách tinh tế hơn với nhiều ưu tiên liên hệ với nhau hơn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Những gì đã từng là một cảnh tượng tương đối đơn giản giờ đây phức tạp hơn – là vì, phần lớn, ba sự thay đổi chính yếu.  Trước tiên là bản chất biến cải của các mối quan hệ tại lưu vực Thái Bình Dương.  Từ Thế Chiến II đến nay, các mối quan hệ này được đặt định phần lớn trên các mệnh lệnh an ninh quốc gia – đối với các quốc gia công sản cũng như không cộng sản, thực dân cũng như phi thực dân.  Thời kỳ này bị khống chế bởi quan tâm về năng lực quân sự.  Giờ đây, sự độc quyền của các quyết định chính sách phát sinh từ các nhu cầu an ninh quân sự đã bị phá vỡ và nhiều vấn đề phi quân sự khác nhau đã tiến lền hàng đầu.  Ngoài các yếu tố kinh tế truyền thống – mậu dịch, viện trợ, sự phân phối tài nguyên, sự tiếp cận nguyên liệu, và sự chuyển giao kỹ thuật – các vấn đề phi quân sự gồm cả các sự chuyển giao khí giới, sự lan truyền hạt nhân nguyên tử, và nhân quyền.  Trong tương lai, các vấn đề phi quân sự này sẽ bắt đầu xâm chiếm (dù thế, dĩ nhiên, chúng sẽ không bao giờ thay thế) các ảnh hưởng điều hành trước đây trong các mối tương quan Á Châu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Sự thay đổi quan trọng thứ nhì liên can đến chủ nghĩa dân tộc, đặc biệt loại dân tộc chủ nghĩa sơ đẳng và quá khích đã đánh dấu cảnh tượng kể từ thập niên 1920.  Chủ nghĩa dân tộc Á Châu rõ ràng sẽ là một lực nhỏ dần tại phần lớn các nước (Căm Bốt có lẽ là ngoại lệ chính).  Chắc chắn, dân tộc chủ nghĩa Á Châu đang thay đổi trong bản chất – một sự phản ảnh của các sự xâm lấn kinh tế vào các nhu cầu an ninh.  Điều này có nghĩa rằng thập niên tới sẽ đẩy đến một kỷ nguyên hậu dân tộc chủ nghĩa cho Á Châu hay không?  Có lẽ là không.  Nhưng dường như loại dân tộc chủ nghĩa được tìm thấy tại Á Châu trong năm thập niên vừa qua sẽ thay đổi một cách sâu sắc và ít trở thành một chất xúc tác cho sự thay đổi.  Sự tranh giành bắt nguồn trong di sản ngữ học dân tộc sẽ vẫn tồn tại, và có lẽ còn gia tăng.  Nhưng điều này sẽ không phải là dân tộc chủ nghĩa tác hành; đúng hơn nó sẽ là một sự phục hồi các sự thù nghịch có niên kỳ lùi lại trước khái niệm hiện đại về dân tộc chủ nghĩa.  Nó sẽ là một sự quay trở lại cuộc đấu tranh quyền lực bị gián đoạn bởi sự cập bến của thực dân Âu Châu hồi thế kỷ thứ 18.  Loại dân tộc chủ nghĩa dính liền với Hồ Chí Minh, U Nu, Sukarno, và những người khác đang bị tháo gỡ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Tình trạng thay đổi thứ ba, phần lớn chưa được định hình, là điều có thể mệnh danh là sự khủng hoảng Á Châu trong sự tự nhận thức, theo lối mà người Á Châu tự nhìn mình.  Nó liên can đến các thái độ sở đắc của họ đối với sự phát triển kinh tế &#8211; xã hội và đặc biệt được thể hiện tại các nước đang hay sắp sửa cất cánh về kinh tế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Trong quá khứ, Á Châu đã nhìn ra bên ngoài để tìm kiếm các mô hình của sự phát triển kinh tế và chính trị.  Các dân tộc Á Châu đã ôm chầm lấy – mặc dù không phải lúc nào cũng có ý thức – nhiều quan điểm và các phán đoán trị giá của các dân tộc thuộc các nước xa xôi.  Khởi thủy, họ ganh đua với Âu Châu; sau đó họ nhìn tới Hoa Kỳ hay Liên Bang Sô Viết; sau nữa, trong một đường hướng khác, họ nhìn tới Nhật Bản và Trung Quốc.  Nhưng lần lượt từng hình ảnh đã trở thành hoen ố.  Không còn bất kỳ nước nào trong chúng là một đối tượng không cần tranh cãi cho sự thi đua nữa.  Mỗi đối tượng, ở một số tầm hạn, đều bị nhìn là có khuyết điểm. Do đó, người Á Châu bước tới các cổng của thế giới hiện đại – đời sống tốt đẹp – chỉ để được nói cho biết rằng nó không hiện hữu.  Vấn đề về các lối sống tương lai được đặt thành câu hỏi.  Vấn đề này của sự tự nhận thức có nhiều ngụ ý ý thức hệ; nó ảnh hưởng đến cả các dân tộc theo chủ nghĩa cộng sản lẫn phi cộng sản.  Việt Nam, thí dụ, mệnh danh hiện tượng là vấn đề về “phẩm chất của đời sống”.  Tại thực sự mọi quốc gia tại Á Châu, mối quan tâm đang lớn mạnh về sự khôn ngoan của việc duy trì (hay thay đổi) các sự sắp xếp kinh tế hiện hữu và các chiến lược cùng mục đích tương lai đã được tuyên bố.  Điều này không hoàn toàn xa lạ đối với người nghèo, hay không được tình cảm bởi giới trẻ.  Nó cũng không có tính chất ý thức hệ theo nghĩa thông thường.  Đúng ra, nó có tính chất phản ý thức hệ &#8212; nó được đặt nền trên ý tưởng rằng không hệ thống tư bản hay hệ thống xã hội/cộng sản nào hoạt động thật hoàn hảo.  Nó vươn tới thực sự mọi nhóm xã hội-chính trị quan trọng tại mọi xã hội Á Châu và, trong phần lớn các trường hợp, tới chính các tầng lớp thượng tầng của giới lãnh lạo.  Tại từng nước một, điều này đã tạo ra một sự bất định lớn lao về việc làm thế nào để xây dựng tương lai, và ngay cả về việc tương lai sẽ phải như thế nào.  Nó không phải là một cuộc khủng hoảng về ý chí hay mục đích cho bằng sự thiếu vắng cả một mô hình làm việc lý tưởng hóa lẫn một sự vững chắc về tâm lý.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Vì lý do này, Đông Nam Á ngày nay thực sự chờ đợi các câu trả lời.  Giờ đây, hơn bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử cận đại, dân chúng và các quốc gia trong vùng dễ tiếp nhận hơn các ý tưởng mới và sự lãnh đạo bên ngoài.  Nhưng các ý tưởng phải có tính cách canh tân và khả thi, và giới lãnh đạo phải có khả năng lãnh đạo, chứ không chỉ cầm cương vận hành.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Điều kiện căn bản của Đông Nam Á không chỉ đang trở nên phức tạp hơn, nó ngày càng quan trọng hơn.  Các vốn liếng trong ván bài chính trị quyền lực lên cao một cách rõ rệt, đặc biệt đối với Liên Bang Sô Viết và Trung Quốc.  Điều này xảy ra một phần vì sự tranh chấp Nga – Hoa trở nên có tính cách trung tâm cho chính trị trong vùng.  Một phần bởi có sự tái sinh và tăng trưởng của chủ nghĩa ái quốc cực đoan (chauvinism) tại Đông Dương.  Sự đối đầu của Việt Nam với Trung Quốc đã nâng cao vốn liếng đánh cược của ván bài.  Quyết định của Hà Nội làm như thế trong Tháng Mười Một 1978 khi ký kết với Mạc Tư Khoa sáu hiệp ước và sự thỏa thuận mà Trung Quốc gọi là một liên minh quân sự.  Do đó, cuộc đấu tranh quyền lực đã mang chiều kích và ý nghĩa bổ túc, không chỉ tại Đông Dương và trong cuộc đấu tranh của thế giới cộng sản, mà còn tại toàn thể Lưu Vực Thái Bình Dương.  Bản thân vùng đất vốn có tầm quan trọng cơ hữu đang gia tăng một cách vững chắc.  Với khoảng 300 triệu người, nước đông dân thứ năm thế giới (Indonesia), và các nguồn nhân lực và tài nguyên thiên nhiên bao la, Đông Nam Á là một khu vực có các rào cản to lớn cho hòa bình ổn định.  Đó là một vùng của sự đối nghịch văn hóa và chủng tộc, các sự tranh giành đô thị &#8211; nông thôn, các nền kinh tế cạnh tranh, các áp lực dân số, các vấn đề dân tộc ít người rắc rối, các cuộc nổi dậy không bao giờ chấm dứt, và thông thường, các chính sách ngoại giao thiếu mạch lạc.  Gần như chắc chắn, trong thập niên tới, vùng này sẽ trở một loại lò thử thách.  Phía Việt Nam, các tác nhân quan trọng trên diễn trường, tự nhìn mình như một lực lượng cách mạng và thay đổi tại Đông Nam Á, và điều đó không thôi đủ để làm cho khung cảnh trở nên náo động.  Việt Nam đã sẵn tung chiến bào vào cuộc tranh đấu, không chỉ bằng việc cấp ngân khoản cho các cuộc nổi dậy, mà còn bởi việc liệt kê cuộc tranh chấp giữa phe tư bản và cộng sản như lực lượng phân hóa chính yếu, và từ đó là mối đe dọa quan trọng cho hòa bình, trong khu vực.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><b>Chiến lược và tham vọng</b><br />
</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Sự thắng lợi của Việt Nam trong chiến tranh đã nâng nước này lần đầu tiên trong lịch sử của nó lên vị thế một tác nhân quan trọng thành kẻ mà giờ đây phần còn lại của Á Châu phải tranh đua.  Đó là điều không thể đảo ngược được.  Với gần 50 triệu người dân, Việt Nam đứng thứ 17 về dân số trong hơn 150 nước của thế giới.  Nó là nước cộng sản lớn thứ ba.  Nó có một quân đội thường trực lớn thứ tư, một quân đội được tôi luyện bằng chiến đấu và được trang bị đầy đủ.  Nó có tiềm năng kinh tế và sự giàu có của đất nước.  Nó tọa lạc ở vị trí chiến lược.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Một cách chính xác giới lãnh đạo Việt Nam – mười bẩy người của Bộ Chính Trị và các tướng lĩnh trên cùng – có quan điểm về an ninh của mình ra sao? Trong những năm hậu Chiến Tranh Việt Nam, các lý thuyết gia Hà Nội thường phát biểu rành mạch quan điểm của họ.  Quan điểm của họ có thể tóm tắt trong bảy mệnh đề: 1) Cán cân chiến lược thế giới đã bị thay đổi một cách cơ bản và không thể truất bãi được bởi sự chiến thắng của cộng sản tại Việt Nam.  2) Ba  lực lượng chính yếu hay trào lưu cách mạng giờ đây chế ngự khung cảnh quốc tế: tính ưu việt của thế giới xã hội chủ nghĩa, sự thống nhất của các thế giới thứ ba và thứ tư trong một quyết tâm để kiểu chính sự bất quân bằng kinh tế, và tính đấu tranh gia tăng của các nhà cách mạng có ý thức chính trị khác nhau tại các xã hội tư bản chủ nghĩa.  3) Chiến tranh cách mạng kéo dài, như được hoàn thiện tại Việt Nam, được chứng tỏ sẽ là phương cách bất khả bị khuất phục để đánh bại bất kỳ đối thủ nào và sẽ là chiến lược của tương lai.  4) Hoa Kỳ đã khước từ làm một siêu cường, và tuyến phòng thủ nó đã duy trì trong nhiều thập niên tại Á Châu bị sụp đổ.  5) Đông Nam Á giờ đây đang chịu các áp lực cách mạng lớn lao.  Viễn ảnh cho vùng đất này là sự phủ nhận ảnh hưởng của Hoa Kỳ trong khu vực và sự loại bỏ chủ nghĩa tư bản.  6) Việt Nam có một vai trò vinh quang để đóng giữ trong tất cả các điều này, vai trò hướng dẫn và đỡ đầu; có thể nó sẽ còn thay thế cho Algeria như lãnh tụ của cánh đấu tranh của thế giới thứ ba.  7) Việt Nam có thể và phải thúc đẩy cho cuộc cách mạng thế giới, bởi chưa bao giờ viễn ảnh lại tươi sáng như vậy.<br />
</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Thế giới quan chính thức của Hà Nội được tuyên bố công khai là như thế.  Ý nghĩa của nó như sau đây: Thế giới đang tiến thành cộng sản bởi có các lực lượng quyết đoán không có gì có thể chận đứng được.  Việt Nam vì thế phải có một thái độ năng động hơn là tích cực đối với diễn tiến.  Điều cần phải nhấn mạnh rằng đây chỉ là nhận thức, không phải là sự phân tích thực tế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Viên tư lệnh hàng đầu giới quân sự của xứ sở, Văn Tiến Dũng, gần đây đã lượng định sức mạnh và các nhược điểm chiến lược của Việt Nam trong một bài báo <sup>1</sup> vừa có tính cách bộc lộ và xác thực.  Ông ta đã liệt kê điều mà ông xem sẽ là sáu nguồn cội của sức mạnh chiến lược của Việt Nam.  (Đúng với ngữ nghĩa đặc thù của các bản văn cộng sản Việt Nam – trong đó các động từ <i>là [is]</i> và <i>phải [ought to]</i> được dùng thay cho nhau – ông ta đặt ra một số điều kiện nào đó như đã sẵn hiện hữu trong khi nói rõ ràng chúng vẫn còn là điều sẽ được đạt tới).  Sáu nguồn cội đó là:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       1. Truyền thống đoàn kết và tinh thần dân tộc của Việt Nam;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       2. Hệ thống kinh tế &#8211; xã hội tập thể của đất nước;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       3. Các lực lượng vũ trang quốc gia mới được tái tổ chức và phát triển về mặt kỹ thuật;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       4. Giới lãnh đạo quân sự và dân sự khéo léo trong việc tạo lập ra các chiến lược ưu việt do kinh nghiệm lâu dài trong việc sử dụng khoa học quân sự Mác-xít (học thuyết chiến tranh nhân dân);</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       5. Một chính nghĩa dân tộc;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       6. Sự ủng hộ quốc tế cũng như sự ủng hộ của lịch sử (có nghĩa Việt Nam đang di chuyển trong cùng chiều hướng mà lịch sử đang dẫn dắt thế giới).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Tướng Dũng cho hay rằng một số trong sáu điều kiện là các sức mạnh hiện hữu; các tình trạng này gồm nguồn thứ nhất, thứ tư và thứ năm.  Điều kiện thứ nhì hiện hữu, nhưng đòi hỏi sự làm việc.  Điều kiện thứ ba và thứ sáu vẫn chưa được thành đạt một cách thỏa đáng.  Trong một ý tưởng mang tính chất triết lý, Tướng Dũng đã đưa ra nhận định này về chiến tranh:<br />
</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><i>Chiến tranh là một sự trắc nghiệm cao nhất và bao quát nhất cho một quốc gia và hệ thống xã hội của nó.  Nó không chỉ là một sự tranh đua về sức mạnh và ý chí mà còn là một cuộc tranh đua giữa hai đối thủ về kỹ năng và chiến lược.  Thắng lợi sẽ ngả về bên có chiến lược quân sự đúng đắn, áp dụng đúng nghệ thuật của khoa học quân sự, phát triển động lực chủ quan cao nhất, và giới hạn hữu hiệu nhất các nỗ lực gây chiến của đối thủ của nó.</i> <sup>2</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Trong khoảng thập niên sắp tới, hai sự cứu xét sẽ chế ngự các quan hệ của Đông Dương cộng sản với các lân bang phương nam của nó: các quyền lợi an ninh liên can đến cả các quan hệ nhà nước với nhà nước lẫn đảng với đảng, và các quyền lợi kinh tế nhất thiết liên can đến một sự liên kết ý thức hệ chặt chẽ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Một số câu hỏi chiến lược nền tảng nào đó đối diện với các nhà hoạch định quân sự Việt Nam khi họ (và phần còn lại của Đông Nam Á) tự mình nhắm đến cán cân lực lượng mới trong vùng.  Liệu thập niên tới sẽ nhìn thấy một sự phân cực của quyền lực địa chính trị tại Đông Nam Á với Hà Nội ở một đầu cực và Jakarta ở đầu cực kia – một loại cân bằng thế kỷ thứ 19 của sự tranh giành quyền lực – hay không?  Hay sẽ được nhìn thấy một nhóm [bán] đảo [<i>insular</i> (đảo) trong nguyên bản, có lẽ phải là <i>peninsular (bán đảo)</i> hay lục địa (mainland) thì chính xác hơn, chú của người dịch] (Đông Dương, Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Miến Điện) chống lại các lực lượng ngoài khơi (Nam Dương, Phi Luật Tân)? Hay sẽ là một Đông Dương chống lại phần còn lại của Đông Nam Á? Liệu cuộc đấu tranh có thể châm ngòi cho nỗ lực phối hợp để đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản tại Đông Dương hay không? Trung Quốc đang hăm dọa như thế nào và Liên Bang Sô Viết đáng tin cậy ra sao?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Các quyền lợi an ninh của Việt Nam tại Đông Nam Á rõ ràng gồm bốn thành tố.  Quan tâm đầu tiên và bao chùm là việc bảo đảm một vùng hợp tác, không đe dọa; trên hết, điều này áp dụng cho bán đảo Đông Dương.  Thứ nhì là ngăn cản sự phát triển mặt trận chống phe cộng sản chủ nghĩa, hoặc là một khối ASEAN đấu tranh, một khối SEATO được tu chỉnh, hay một số sự kết hợp cấp miền khác đối nghịch với Việt Nam.  Thứ ba là để loại bỏ sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ ra khỏi khu vực và làm giảm bớt ảnh hưởng tổng quát của Hoa Kỳ.  Thứ tư là nhằm giới hạn hoạt động của siêu cường trong miền, kể cả CHNDTQ và (không có vẻ làm như thế) Liên Bang Sô Viết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Sự cứu xét thứ nhì của Hà Nội cho vùng này là một sự hỗn hợp ý thức hệ &#8211; kinh tế.  Các nhà theo dõi Hà Nội tại Hoa Thịnh Đốn, Đông Kinh, và các nơi khác hiện đang trắc nghiệm một giả thiết lên hai tuổi liên quan đến công trình tổng thiết kế tương lai cho các quan hệ đối ngoại của Việt Nam.  Giả thiết đặt trên sự ước định rằng Việt Nam, trong khoảng thập niên tới, sẽ không khởi sự một sự chinh phục quân sự công khai bên ngoài Đông Dương (chẳng hạn như một sự tấn công quân sự trực diện vào Thái Lan).  Thay vào đó – và đây là giả thiết – Việt Nam sẽ tìm cách tập hợp một mặt trận thống nhất toàn thế giới vĩ đại của các quốc gia thuộc thế giới thứ tư (và một số thuộc thế giới thứ ba) và sử dụng mặt trận này như một khí cụ để phân hóa thế giới về mặt kinh tế.  Các nước nghèo đói sẽ quay lại chống các nước giàu có hơn, và các nguyên liệu sẽ được sử dụng như các vũ khí để chống lại chủ nghĩa đế quốc (có nghĩa các nước phe tư bản chủ nghĩa).  Thí dụ, mặt trận sẽ hy vọng sẽ hoàn thành với thiếc và cao su những gì mà khối Ả Rập đang làm với dầu hỏa.<br />
</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Các chiến thuật sử dụng sẽ biến đổi tùy theo các tình hình địa phương.  Đông Nam Á sẽ là lãnh vực chính yếu của Việt Nam, bởi bất kỳ sự thành công nào ở đó sẽ trợ lực cho các nhu cầu kinh tế và các quyền lợi an ninh của Việt Nam.  Các nước khối ASEAN sẽ bị khuyến dụ hay áp lực để cắt đứt các liên hệ với các nước phe tư bản chủ nghĩa và các tổ hợp đa quốc gia.  Và Hà Nội sẽ tuyên bố rằng nó đang làm mọi điều, nhân danh hòa bình, để định nghĩa hòa bình trong miền như sự vắng bóng của sự hợp tác kinh tế với chủ nghĩa tư bản Tây Phương/Nhật Bản.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Việt Nam sẽ không chỉ dọa nạt các nước khối ASEAN như một sự thao diễn đơn thuần về sức mạnh trần truồng.  Nó sẽ đề nghị, cùng lúc, một học thuyết biện minh cho mặt trận thống nhất chống lại chủ nghĩa tư bản.  Rất có thể khái niệm sẽ được trình bày như một sự đóng góp triết lý mới cho các hệ thống ý thức hệ thế giới.  Bản chất của nó sẽ là một sự hỗn hợp của chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa tập thể.  Khẩu hiệu chính thức sẽ là khẩu hiệu thời chiến tranh của Việt Nam: Tiến Tới Dưới Ngọn Cờ Của Độc Lập Dân Tộc và Xã Hội Chủ Nghĩa.  (Sự sử dụng từ ngữ độc lập dân tộc, giống như thật nhiều từ ngữ được sử dụng bởi phía Việt Nam, có ý nghĩa cá biệt, hay còn đặc thù hơn nữa).  Học thuyết sẽ nói với vùng này và các nước nghèo đói hơn  của thế giới: một quốc gia không thể thực sự độc lập nếu nó còn duy trì các quan hệ với chủ nghĩa tư bản bên ngoài, hoặc là các nước theo tư bản chủ nghĩa hay các tổ hợp đa quốc gia.  Nó cũng không thể đứng trung lập trong cuộc đấu tranh khổng lồ giữa hai hệ thống xã hội của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản.  Trong khi hệ thống kinh tế của một nước phải có tính chất tập thể chủ nghĩa tự căn bản (bởi vì đây là phương cách duy nhất để trở thành độc lập dân tộc), nó không nhất thiết cần phải tranh giành với bất kỳ nước theo tập thể chủ nghĩa cá biệt nào hay phải hoàn toàn đi theo kinh tế học Mác Xít chính thống.  Trắc nghiệm chính yếu là liệu nền kinh tế của quốc gia có thoát ra khỏi các ràng buộc vướng víu với hệ thống tư bản chủ nghĩa hay không, có nghĩa, liệu nó có “phi liên kết” về mặt kinh tế hay không.  Kẻ thù tối hậu có thể là tư bản chủ nghĩa, nhưng kẻ thù trước mắt là sự <i>liên lập (interdependence)</i> kinh tế, từ ngữ xấu xa nhất trong ngữ vựng. Sự độc lập dân tộc (national independence) có nghĩa một chính sách ngoại giao cau có, có phần nào theo chủ nghĩa biệt lập (ngay cả bài ngoại).  Nó có nghĩa không có các liên hệ đáng kể với thế giới theo tư bản chủ nghĩa.  Nó không đòi hỏi phải chọn bên trong cuộc tranh chấp Trung Quốc – Sô Viết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Một chính sách như thế có nghĩa rằng Hoa Kỳ và các nước tư bản chủ nghĩa khác tại Á Châu sẽ đối diện với Việt Nam như một kẻ phá hoại kinh tế cương quyết phá hỏng, nếu có thể, việc hoạch định kinh tế liên lập.  Tại Đông Nam Á, nó sẽ tìm cách triệt hủy các doanh nghiệp kinh tế cấp miền và, nếu có thể, đóng cửa tư bản chủ nghĩa toàn diện.  Việt Nam cùng lúc có thể theo đuổi các nỗ lực để nhận được viện trợ kinh tế từ Hoa Kỳ &#8212; và nhìn không có gì không nhất quán trong chính sách này.  Nó sẽ lập luận rằng như một quốc gia xã hội chủ nghĩa trọn vẹn, Việt Nam có thể dám ăn nhậu cùng với ma quỷ, trong khi các nước Đông Nam Á theo tư bản chủ nghĩa thì quá yếu ớt để chống đỡ các áp lực và sự tán tỉnh của các quốc gia theo tư bản chủ nghĩa và các tổ hợp đa quốc gia.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Như một kiến trúc về lý thuyết, mặt trận thống nhất chống tư bản chủ nghĩa có cả lý lẽ lẫn sự tiện lợi để tiến cử nó.  Nó là một kế hoạch với dự kiến.  Nó cung cấp các câu trả lời đơn giản cho các câu hỏi khó khăn, và nó mang theo bên mình một bàu không khí của sự vững tin.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Nhưng đối với những kẻ sẽ thay đổi đường hướng của lịch sử thế giới, khoảng cách giữa giấc mơ và sự biến bất ngờ thì to lớn.  Trong hai năm sau khi ý tưởng lần đầu tiên xuất hiện trên các ấn phẩm của Hà Nội, ít điều được thực hiện để chuyển dịch nó thành chính sách.  (Ngoại lệ chính yếu là động thái của Việt Nam tại Hội Nghị Colombo năm 1976).  Dĩ nhiên, chiến tranh và các vấn đề to lớn giờ đây đang đeo đuổi Việt Nam chắc chắn làm trì hoãn việc thi hành và một ý đồ như thế này đòi hỏi sự ấn định thời biểu cẩn thận.  Có thể sự phán đoán của Hà Nội rằng thời điểm của ý tưởng này chưa tới.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Dù sao, các nước Á Châu và Hoa Kỳ phải ghi nhớ giả thiết này trong đầu, và trông chừng thường trực bằng chứng để hậu thuẫn hay bác bỏ nó.  Nó đã sẵn nêu lên hai câu hỏi: 1) Thế giới tư bản chủ nghĩa sẽ đáp ứng ra sao nếu giả thiết trở thành một thực tế? 2) Trong bất kỳ trường hợp nào, một cách xác thực, đâu là bản chất của chính sách thế giới tư bản chủ nghĩa tương lai đối với Việt Nam trong các vấn đề kinh tế?<br />
</span></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><span style="font-size: medium;"><b>Sự hỗn loạn nội bộ</b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Các khó khăn nội bộ nói chung được nhìn như các trở ngại cho sự điều hành các công việc ngoại giao.  Nếu đây là trường hợp của Việt Nam (và không bao giờ có vẻ như thế), các quan hệ đối ngoại của nó giờ đây sẽ thực sự bị bất động.  Tình hình nội bộ tại Việt Nam đã xấu hơn một cách liên tục trong mười tám tháng qua.  Tất cả các báo cáo từ Việt Nam, ngay cả các báo cáo bởi các viên chức Hà Nội, cho biết về sự rối loạn và chiến tranh, đói khát và tham nhũng, vô nhận đạo và cái chết.  Quang cảnh nói chung phù hợp với quang cảnh của những ngày đen tối nhất của chiến tranh với các sự thiếu hụt thực phẩm khẩn cấp, một nền kinh tế suy giảm một cách liên tục, sự quản lý tồi tệ của các viên chức lan tràn, và tác phong sai trái của cán bộ.  Nền kinh tế đau ốm đã trở nên tệ hại hơn bởi thời tiết xấu, các sự ùn tắc giao thông, và việc ngăn cản của các nông dân các chuyến vận tải thực phẩm.  Hậu quả, giá cả thực phẩm đã lên gấp đôi trên thị trường tự do hay không kiểm soát được và các sự khan hiếm đã nẩy nở tại thị trường nhà nước.  Về mặt chính trị, các khó khăn như thế đã được chuyển dịch thành sự cai trị hà khắc hơn, nhà cầm quyền bạo tàn, và sự chống đối bi thảm.  Có nhiều cuộn giây thép gai được giăng ra tại Sàigòn ngày nay hơn bất kỳ thời nào khác trong chiến tranh.  Sự đàn áp chính trị và các sự hỗn loạn kinh tế gộp lại làm tăng vọt số người tỵ nạn.  Hơn một nửa triệu người đã rời bỏ Đông Dương kể từ khi chấm dứt Cuộc Chiến Tranh Việt Nam; đó là cuộc di cư đông nhất tại Á Châu kể từ sau sự phân chia năm 1947 tiểu lục địa Ấn Độ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Khó khăn nghiêm trọng nhất nằm nơi sự sản xuất thực phẩm.  Sản lượng nông nghiệp đã sụt giảm một cách rõ rệt – có thể nhiều đến 20 phần trăm – trong hai năm qua, bởi thời tiết xấu, sự quản lý tồi tệ (giờ đây thành kinh niên) của lãnh vực đó, và sự kiện rằng nông cụ lỗi thời vẫn chưa nhận được bất kỳ sự hiện đại hóa đáng kể nào.  Trước đây, một phần năm số gạo tiêu thụ thường được nhập cảng từ Trung Quốc, nơi ngày nay không còn là một nguồn cung cấp.  Cùng với khoản thiếu hụt 20 phần trăm này, các sự tổn thất và năng suất thấp kém hiện thời buộc phải cộng thêm vào sự thiếu hụt 20 phần trăm nữa.  Khẩu phần thực phẩm “được bảo đảm chính thức” cho cả nước giờ đây là 1,300 calories mỗi ngày; cho dù có được đáp ứng, vẫn còn thiếu 300 calories so với mức mà các nhà dinh dưỡng xem là mức để sinh tồn.  Ý nghĩa ghê rợn của điều này – và khả tính của các vụ bạo động vì lúa gạo không thể bị loại bỏ &#8212; rằng Việt Nam đang bị đẩy vào vòng tay của Liên Bang Sô Viết, bởi nếu không có sự giúp đỡ của Mạc Tư Khoa, Việt Nam sẽ chết đói.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Sản lượng nông nghiệp của Việt Nam đã gia tăng một cách rõ rệt ngay sau khi chiến tranh chấm dứt; tức, trong hai vụ thu hoạch thời bình đầu tiên (vụ tháng Mười năm 1975 và vụ Tháng Năm 1976).  Tuy nhiên, kể từ đó, sản lượng đã sụt giảm trong năm vụ thu hoạch liên tiếp.  Bốn năm sau sự chấm dứt chiến tranh, nhà máy kỹ nghệ Việt Nam hiện đang chỉ hoạt động vào khoảng 55 phần trăm khả năng; vào lúc chấm dứt chiến tranh, nó đang chạy với 65% khả năng.  Hệ thống vận tải của xứ sở cũng mất năng lực trong hai năm qua.  Một phần ba xe tải hàng (truck) bất động, không chạy được vì thiếu đồ phụ tùng hay vì một số lý do khác, so sánh với chỉ 5% vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến.  Điểm cần ghi nhận nơi này rằng đây là những hiện tượng của thời sau chiến tranh.  Về mặt kinh tế, Việt Nam đã hoạt động khá hơn trong những năm thuộc thời chiến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Một vấn đề quốc gia khác là một phó sản của các khó khăn này.  Trong một nỗ lực để gia tăng sản lượng, nâng cao năng suất, và xiết chặt kỷ luật, chế độ đã áp đặt thêm các sự kiểm soát.  Các sự kiểm soát này làm tăng cường độ sự nguyền rủa từ lâu về hệ thống cộng sản Việt Nam, một sự kết hợp của sự phục vụ lười biếng của chính phủ và thủ tục giấy tờ xiết họng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Một vài thí dụ về tình trạng này như sau:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">- Một thuyền trưởng tàu chở hàng người Na Uy nói ông đã nhìn thấy khoảng 10,000 bao xi măng bị hủy hoại bởi nơi chúng bị chất là một sân kho hàng lộ thiên trong mùa mưa tại Hải Phòng.  Gần đó, được rào quanh cản thận bởi giây thép gai, là vài nghìn bao gạo, bị mục nát và tràn ngập bởi các con chuột.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">- Trong Tháng Năm 1978, sau vụ đổi tiền, một doanh nhân ngoại quốc tại Sàigòn đã nạp đơn xin phép lấy tiền ra để mua một con tem và gửi đi một lá thư.  Ông ta đã phải đợi ba tuần lễ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">- Các kỹ thuật gia Bảo Gia Lợi (Bulgary) ghi nhận rằng vườn hoa đàng sau khách sạn của họ được viền quanh không phải bởi gạch hay đá mà bởi dụng cụ cách điện bằng men sứ nhập cảng đắt tiền.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">- Trên một nhật báo tại Sàigòn, một lá thư của một người mẹ than phiền rằng cần đến năm “con dấu” (chữ ký) của năm “ông quan lạnh lùng” để mua một hộp sữa đặc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">- Một du khách người Đức đi qua hải quan tại phi trường Hà Nội đã viết: “Các mẫu đơn nhập cảnh, được điền khai với bản sao, tra hỏi mọi dữ kiện cá nhân có thể tưởng tượng được và đòi hỏi một danh sách chi tiết tất cả các vật dụng mang theo.  Bất kỳ ai có các vé xổ số đều phải liệt kê chúng ra.  Nếu không mang theo bất kỳ thứ gì, người đó sẽ phải ghi rõ <i>“nil” (không)</i>.  Bất kỳ ai nghĩ chỉ cần một dấu đánh đơn giản là đủ sẽ phải điền khai trọn vẹn một mẫu khác”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">- Nhà máy giấy của Thụy Điển tại Bãi Bằng được chiết tính tốn phí, theo các sự ước lượng nguyên thủy, vào khoảng 280 triệu mỹ kim.  Nó sẽ có thể phải chi phí tới gần 1 tỷ mỹ kim trước khi hoàn tất.  “Với khoản tiền đó”, một kỹ sư Thụy Điển cho hay, “chúng tôi có thể cung cấp cho Việt Nam tất cả nhu cầu về giấy của họ trong hai mươi năm sắp tới”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Tóm lại, nếu Việt Nam là một tổ hợp tư nhân tại một nước tư bản chủ nghĩa, giờ đây nó sẽ có mặt tại tòa án phá sản.  Bất kể các động lực về sự bình đẳng ra sao, chế độ đã chỉ thành công trong việc làm tồi tệ hơn các điều kiện kinh tế đối với mọi người dân.  Mặc dù nó đã gây tổn thương cho một số người xứng đáng nhận lãnh điều đó, nó cũng gây tổn thương cho những người không đáng phải gánh chịu.  Có điều chắc chắn, không ai được lợi gì cả.  Sự giàu có đã không được tái phân chia, chỉ có sự thống khổ.  Sự bất công kinh tế thì xấu xa, nhưng về mặt thực tế nó không tệ hơn các sự xáo trộn kinh tế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Cuộc chiến tranh với Trung Quốc đã là một ống cống làm tiêu hao kinh tế, và khi cuộc chiến tranh tại Căm Bốt tiếp tục, nó chỉ có thể nhận chìm hơn nữa tình trạng kinh tế của Việt Nam.  Điều đó sẽ có nghĩa sự phát tán tiếp tục khối nhân lực có kỹ năng đã sẵn bị hạn chế, dầu hỏa, và các tài nguyên khác.  Nó sẽ buộc làm chậm lại hay triển hoãn Kế Hoạch Năm Năm mới.  Nó sẽ làm cắt giảm một cách rõ rệt viện trợ kinh tế của các chính phủ ngoại quốc (được ước lượng vào khoảng 1 tỷ mỹ kim mỗi năm trong ba năm sắp tới), và nó sẽ làm nản lòng hơn nữa đầu tư nước ngoài mà không có nó Việt Nam không thể phát triển được về mặt kinh tế.</span></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><span style="font-size: medium;"><b>Thế trận tam giác Cộng sản</b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Ván bài lớn lao của địa chính trị tại Đông Nam Á đã thay đổi tự nền tảng từ một tình trạng Trung Quốc đấu với Liên Bang Sô Viết, với Việt Nam như một quả câu lông (shuttlecock), thành một cuộc tranh giành ba bên thực sự.  Các vốn liếng đặt cược đối với mói bên đều lên cao.  Các biến cố tương lai trong vùng sẽ, ở một tầm mức rộng lớn, tùy thuộc vào mối quan hệ có mục đích trái ngược nhau của ba bên và dĩ nhiên, vào các sự đáp ứng của các tác nhân bên ngoài – khối ASEAN, Nhật Bản, và Hoa Kỳ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Gần như từ khởi đầu, cách cư xử của Việt Nam về cuộc tranh chấp Nga – Hoa đã là việc theo đuổi điều được gọi là một “chính sách độc lập”.  Định nghĩa thi hành của từ ngữ có khuynh hướng thay đổi qua thời gian – tức liệu nó có “cân đối” đối với nước này hay nước kia hay không – nhưng trong bản chất nó có nghĩa toan tính để điều giải cuộc tranh chấp trong khi sử dụng nó sao có lợi tối đa cho Việt Nam.<br />
</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Câu hỏi căn bản giờ đây là liệu Việt Nam đã từ bỏ nguyên tắc từ lâu của nó về “sự độc lập” trong việc điều hành các sự vụ ngoại giao hay không.  Nó đã tự liên minh toàn diện và thường trực (thường trực đến mức có thể được như trong bất kỳ liên minh nào) với Liên Bang Sô Viết hay đây chỉ là sự kết hợp vì tiện nghi không có tính chất chặt chẽ hay lâu bền?  Các biến cố gần đây cho thấy tình trạng nêu trước; lịch sử Việt Nam khiến ta nghĩ đến trường hợp sau.  Không ai có thể trả lời câu hỏi này với sự chắc chắn, có lẽ ngay cả với các nhà lãnh đạo Việt Nam; nhưng đường lối khôn ngoan hơn là đồng hành với lịch sử.  Một lực ly tâm tự nhiên đang hoạt động, đẩy Việt Nam ra khỏi trung tâm.  Việt Nam và Liên Bang Sô Viết được kết hợp với nhau bởi các lực khác của quyền lợi hỗ tương.  Chúng sẽ chỉ còn chặt chẽ chừng nào mà các quyền lợi đó chiêm ưu thế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Vào lúc này, chất xúc tác trong <i>trò chơi tay ba</i> [<i>ménage à trois</i>, tiêng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] là Căm Bốt.  Cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Căm Bốt chứa chất nhiều điều: Nó là một sự bộc phát của các sự tranh giành cổ xưa có nguồn gốc sâu xa trong các sự sợ hãi lịch sử và thù ghét chủng tộc.  Nó là một nỗ lực chiếm đất của cả hai bên phát sinh từ các sự tranh chấp trên các đường biên giới bị xác định một cách thô thiển.  Trong ba năm, nó đã là một loạt các sự khiêu khích và trả đũa bởi cả hai được trù hoạch (đặc biệt bởi Căm Bốt) như một sự khống chỉ để làm nản lòng các sự xâm nhập khác nữa.  Nó đã dần trở nên điều gì đó giống như một cuộc chiến tranh ủy nhiệm cho Liên Bang Sô Viết và Trung Quốc, khi cả hai nhấn sâu thêm các vai trò cố vấn/tiếp tế và khi mỗi bên đặt vào đó một chút ít tự hào dân tộc.  Tuy nhiên, nhiều hơn cả, đó là một cuộc cãi cọ giữa hai nhánh của chủ nghĩa cộng sản, một chính thống và một tà đạo, hay như một cách nói của Việt Nam, “một chính đáng và một triệt để”.  Dường như cuộc chiến tranh không phải là sự biểu tỏ một điều duy nhất: sự quan tâm lo âu cho sự an sinh và nhân quyền của người dân Căm Bốt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Cộng sản Việt Nam từ lâu đã xem rằng một Liên Bang Đông Dương, bao gồm Việt Nam, Lào, và Căm Bốt, sẽ là cấu hình chính trị tối hậu thích đáng cho bán đảo Đông Dương.  Một mục đích được công bố trong bản tuyên bố Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930, nó được thay thế bởi “mối quan hệ đặc biệt” mơ hồ hơn trong năm 1951, với sự thành lập Đảng Lao Động.  Mục đích “mối quan hệ đặc biệt” rõ ràng được nhắm vào ba điều kiện: 1) các chính phủ tại hai thủ đô sẽ không bao giờ có một quyết định quan trọng mà không có sự chấp thuận trước về nó với Hà Nội; 2) Sự loại bỏ mọi ảnh hưởng ngoại lai tại Căm Bốt và Lào và 3) một nhóm được tổ chức (phi Việt Nam), một cách đáng mong mỏi hơn nằm trong đảng cộng sản tại mỗi trong hai nước này, sẽ là “người của Hà Nội” (Hanoi’s boys) tại Phnom Penh và Vientiane.  Với các điều kiện này, Việt Nam có thể chờ đợi, ngay đến năm 2000, cho sự thành lập chính thức một liên bang hay liên hiệp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Tại Căm Bốt, sau sự thắng lợi của cộng sản, sự thù nghịch của Pol Pot đối với Việt Nam tự bộc lộ trọn vẹn; ông ta tiến hành việc thanh trừng những kẻ trong đảng của ông ta trong bất kỳ trường hợp nào có thể bị xem là thân Hà Nội.  Mọi ảnh hưởng Việt Nam đã bị loại bỏ một cách có hệ thống, và các chính sách chống Việt Nam đã được định chế hóa.  Mục tiêu của Việt Nam đã mau chóng biến việc ngăn chặn tiến trình này bằng việc thay thế sự lãnh đạo của Pol Pot trên đảng cộng sản và nhà nước Căm Bốt.  Đã có ba cách để làm điều này: “<i>dùng đòn quật ngã: judo<b> </b>chop”</i>, phong trào giải phóng, hay chiến tranh với đơn vị lớn.  Việt Nam đã thử cả ba cách.     </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Các dùng “đòn quật ngã”, đã được mưu tính trong năm 1977 và đầu năm 1978, là một loạt các vụ đột nhập quân sự không sâu, tìm cách châm ngòi một vụ <i>đảo chính (coup d’état)</i> tại Phnom Penh, hay nói chung khiến cho quang cảnh chính trị Căm Bốt bị vỡ ra thành một cuộc nội chiến đích thực.  Nỗ lực thứ nhì, bắt đầu vào giữa năm 1978, là một chiều hướng chiến tranh cách mạng.  Trước tiên, Việt Nam đã lập ra một mặt trận thống nhất tổ chức đại chúng, sau đó một quân đội giải phóng, và sau cùng một chính phủ lâm thời.  Kế tiếp, nó thả cương bộ máy này vào Căm Bốt để tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân.  Nỗ lực này tiếp diễn tốt đẹp nhưng chậm chạp – rõ ràng quá chậm.  Trong Tháng Mười Hai, 1978, vì các lý do vẫn chưa hoàn toàn sáng tỏ, Việt Nam đã chấp nhận sự lựa chọn thứ ba, một cuộc chiến tranh với các đơn vị lớn có thể dễ dàng được nhìn thấy.  Khoảng 100,000 quân đã tấn công chớp nhoáng Căm Bốt, lật đổ Pol Pot và thiết lập một chính phủ chư hầu.  Pol Pot chạy trốn vào trong rừng và khởi sự một phong trào kháng chiến.  Đó là tình hình hiện thời. Đó là một sự mạo hiểm với nhiều rủi ro của Việt Nam.  Để thành công, chính quyền Căm Bốt mới phải trở nên khả tồn.  Nó phải có khả năng để trấn áp cuộc kháng chiến, tái lập các định chế đã bị hủy diệt của đất nước, và chống đỡ sự chống đối ngoại giao ở hải ngoại.  Sự trợ giúp của Việt Nam sẽ được cung ứng, nhưng tối hậu, nỗ lực phải là của Căm Bốt đích thực hay nó sẽ bị thất bại.  Nếu nó thất bại, Việt Nam sẽ thấy rằng thà tự tháo gỡ mình ra khỏi một vấn đề rầy rà bằng một trận đánh quyết định mau lẹ thì đúng hơn, điều này sẽ thực sự làm tình hình trầm trọng hơn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Cuộc xâm lăng của Việt Nam vào Căm Bốt là một sự chấn động, đặc biệt đối với những ai đã được bảo đảm rằng nó sẽ không xảy ra – thí dụ, Nhật Bản. <sup>3</sup> Sự lượng định về ý nghĩa của cuộc xâm lăng và về sự đáp ứng thích hợp biến đổi khác nhau.  Một số nhìn cuộc xâm lăng như một mối đe dọa cho phần còn lại của Đông Nam Á; họ cảm thấy cần có một sự đáp ứng tức thời, dù chỉ hạn chế, chẳng hạn như đặt ra một số sự “kiềm chế” trên Việt Nam.  Các người khác nhìn nó như một cuộc giao tranh trong nội bộ công sản sẽ vẫn được kiềm chế trong phạm vi thế giới cộng sản; thay vì đe dọa khối ASEAN, họ nghĩ rằng nó sẽ khiến cho Hà Nội thẳng thắn hơn trong hành vi của nó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Bất kể các thái độ biến đổi này, sự chuyển động của Việt Nam đã là động tác sau cùng của sự phá hủy trong mối quan hệ Trung – Việt từng có thời thân thiện một cách hợp lý.  Nó đã châm ngòi cho một cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc.</span></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><span style="font-size: medium;"><b>Các quan hệ Trung Quốc – Việt Nam</b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Trong thập niên qua, các quan hệ Trung Quốc – Việt Nam đã suy giảm một cách liên tục.  Kể từ sau cái chết của Hồ Chí Minh, phía Trung Quốc tuyên bố, Bộ Chính Trị Việt Nam đã bắt đầu ngả về phía Mạc Tư Khoa.  Để dẫn chứng, Bắc Kinh đã nêu ra sự kỳ thị: Đảng Cộng San Việt Nam đã cự tuyệt người gốc Hoa các công việc cán bộ ở cấp cao và thường đối xử với họ như “các con ong trên ống tay áo”.  Bắc Kinh cũng giải thích sự thống nhất sớm sủa Miền Bắc và Nam Việt Nam như một bước tiến để loại bỏ sự hiện diện của Trung Quốc ra khỏi Việt Nam.  Các sự phàn nàn khác được kê khai là sự tịch thu và quốc hữu hóa tài sản người gốc Hoa tại Nam Việt Nam; biến người gốc Hoa tại Việt Nam thành các con đê tế thần cho các chứng bệnh kinh tế; một loạt các cử chỉ khiêu khích khác liên quan đến quốc kỳ và các bản đồ cùng các biểu tượng khác, vốn rất quan trọng tại Á Châu; và sự sử dụng lời lẽ thù hận hay ít nhất giả trá bởi báo chí Hà Nội khi nói về Trung Quốc.<br />
</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Đó là đến mức mà phía Trung Quốc cho thấy họ có thể dung chấp.  Điều họ không thể tha thứ là cuộc xâm lăng của Việt Nam vào Căm Bốt, sự kiện mà họ nhìn như một nỗ lực bởi Việt Nam để thiết lập bá quyền trong vùng.  Đối với Trung Quốc, điều này được nhìn nguy hiểm gấp đôi bởi vì, cùng với sự thân mật gia tăng chưa từng thấy của Việt Nam với Liên Bang Sô Viết, nó có hơi hám của sự thông đồng – âm mưu của Mạc Tư Khoa để sử dụng Việt Nam như một lực lượng thừa ủy nhiệm nhằm ngăn chận Trung Quốc đứng ngoài Đông Nam Á.  Phía Trung Quốc đã đáp ứng với một số động tác đẩy tình hình đến bờ vực chiến tranh (<i>brinkmanship</i>) rõ rệt – họ cắt đứt viện trợ kinh tế và đã đưa ra “các sự cảnh cáo nghiêm khắc”.  Các vụ đụng độ biên giới gia tăng, và cả hai bên đã ra lệnh các sự tăng cường quân sự ở biên giới.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Tình hình sau chót đã lên đến cực điểm trong cuộc chiến tranh biên giới hồi Tháng Hai – Tháng Ba 1979.  Một cuộc tấn công ba mũi bởi các lực lượng Trung Quốc vào Việt Nam được kết thúc với sự chiếm cứ Lạng Sơn và thỏa mãn phía Trung Quốc rằng sự trừng phạt đã được giáng xuống.  Tuy nhiên, trận đấu chưa bao giờ thực sự được ráp nối với nhau tại Lạng Sơn hay nơi khác, và sự triệt thoái của Trung Quốc đã để lại vấn đề quân sự trong sự ngờ vực.  Chính vì thế, kết cuộc của cuộc chiến tranh biên giới không được quyết đoán trong thực chất.  Ít điều đã được giải quyết liên quan đến các sự khiếu nại và các vấn đề nguyên thủy đã được nêu ra.  Điều này đặc biệt xác thực liên quan đến Căm Bốt, nơi mà vấn đề về sự xâm lược của Việt Nam vào Căm Bốt vẫn còn đó đối với Trung Quốc và đối với phần còn lại của thế giới.</span></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><span style="font-size: medium;"><b>Các quan hệ Sô Viết – Việt Nam</b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Các quan hệ của Mạc Tư Khoa với Việt Nam, như có thể được ước định, được cải thiện một cách vững chắc trong khi các quan hệ Trung Quốc – Việt Nam tồi tệ hơn.  Tuy nhiên, nó không phải là một hiệu ứng hoàn toàn trái ngược ở mức độ liên quan đến Việt Nam.  Như đã ghi nhận trước đây, tình trạng kinh tế thảm hại của Việt Nam, không kém gì sự đe dọa của Trung Quốc, đã buộc sự ngả về Mạc Tư Khoa của nó.  Bộ Chính Trị có thể đã hy vọng (đúng hơn giả định) rằng các chuyển động thân Mạc Tư Khoa sẽ không bị giải thích như các cử chỉ thù nghịch đối với Trung Quốc hay bất kỳ nước nào khác.  Một hy vọng khá tuyệt vọng, nó đã không thành tựu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Bước tiến hướng đến Mạc Tư Khoa liên can đến ba sự phát triển chính.  Việt Nam đã gia nhập vào sự dàn xếp kinh tế được đặt cơ sở tại Mạc Tư Khoa mệnh danh là khối Comecon trong Tháng Tám, 1978.  Nó đã ký kết một loạt các thỏa hiệp, kể cả một hiệp ước Hữu Nghị và Hợp Tác trong Tháng Mười Một 1978.  Và Liên Bang Sô Viết đã thực hiện một cuộc chuyển vận lớn lao kéo dài một tháng trang bị quân sự đến Việt Nam trong Tháng Mười Một và Mười Hai, 1978.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Các lực lượng nguyên do của mối quan hệ hiển nhiên này giữa Việt Nam và Liên Bang Sô Viết thì không rõ ràng gì cả.  Một sự giải thích cho rằng các quan hệ mới xảy ra theo sự đòi hỏi của Mạc Tư Khoa.  Luận đề này cho rằng Liên Bang Sô Viết tìm cách ràng buộc lòng trung thành của Việt Nam để bảo đảm cho giá trị nhận được về các chuyến hàng thực phẩm và viện trợ kinh tế khác của Liên Sô.  Kế hoạch trường kỳ của Mạc Tư Khoa, theo lý thuyết này, là nhằm sử dụng vị trí chiến lược của Việt Nam; sau khi biến Việt Nam thành hùng mạnh về kinh tế và quân sự (từ đó thúc vào sườn phía nam của Trung Quốc), người Nga sau rốt sẽ kết hợp nó vào vùng ảnh hưởng của Sô Viết.  Một sự giải thích khác nói rằng đề xướng không phải xuất phát từ Mạc Tư Khoa mà là từ Hà Nội.  Bị kinh hãi bởi đường lối đẩy đến bờ vực chiến tranh của Trung Quốc, phía Việt Nam đã tìm kiếm các sự bảo đảm an ninh và sự viện trợ kinh tế và quân sự bổ túc, và đã thúc đẩy Liên Bang Sô Viết tiến vào một liên minh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Việc gia nhập khối Comecon có mang lại cho Việt Nam một số lợi điểm kinh tế &#8212; sự tiếp quản một số trong các dự án kinh tế của Trung Quốc bị bỏ dở dang và một hối suất ưu tiên trong mậu dịch trong khối.  Tuy nhiên, điều rõ ràng rằng ít nhất một vài nước trong thế giới xã hội chủ nghĩa đã lạnh nhạt với chuyện tình Mạc Tư Khoa – Hà Nội.  Tiệp Khắc đã phản dối tư cách hội viên của khối Comecon và Lỗ Ma Ni đã nêu ra một ngoại lệ mạnh mẽ đối với một hiệp ước hứa hẹn sự ủng hộ của Mạc Tư Khoa dành cho Việt Nam trong trường hợp có chiến tranh, được giả định với Trung Quốc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Một cách chính xác những gì mà Liên Bang Sô Viết đã tự cam kết trong hiệp ước thì không rõ ràng chi hết.  Điều khoản có hiệu lực liên quan đến các bảo đảm an  ninh là Điều Sáu, ghi:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><i>Trong trường hợp một bên nào bị tấn công hay bị đe dọa tấn công, hai bên ký kết vào bản hiệp ước sẽ tức thời tham khảo với nhau nhằm loại bỏ sự đe dọa và sẽ thực hiện các biện pháp thích đáng và hữu hiệu để bảo toàn hòa bình và an ninh của hai nước …</i></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Bản hiệp ước đã không được viện dẫn tới trong suốt cuộc chiến tranh biên giới Viêt Nam – Trung Quốc.  Điều cuối cùng mà cả Hà Nội hay Mạc Tư Khoa muốn có là một cuộc chiến tranh Sô Viết – Trung Quốc.  Liên Bang Sô Viết đã hạn chế sự ủng hộ của nó cho Việt Nam vào việc chuyên chở các trang bị quân sự chẳng hạn như rất cần thiết và có thể được phân phối một cách mau chóng, và vào việc cổ động cho sự ủng hộ quốc tế dành cho lý lẽ của Việt Nam.  Không có vẻ rằng cuộc chiến tranh đã làm thay đổi các quan hệ Hà Nội – Mạc Tư Khoa một cách đáng kể.  Có lẽ mối quan hệ phần nào được định nghĩa một cách rõ ràng hơn.  Có thể chiến tranh đã dựng lên một sân khấu cho các yêu cầu bổ túc trên Việt Nam bởi Liên Bang Sô Viết.  Vào lúc bài viết này được viết ra, các báo cáo mang điềm xấu đang được loan truyền tại Á Châu rằng Mạc Tư Khoa đang đòi hỏi các quyền hạn đặt căn cứ hải quân tại Việt Nam để đánh đổi viện trợ bổ túc nhằm thay thế cho các tổn hại trong thời chiến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><b>Mối dây liên hệ Đông Nam Á</b><br />
</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Một vài nhận xét có thể được đưa ra liên quan đến cuộc đấu tranh giữa các nước cộng sản tại Đông Nam Á:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       &#8211; Một hiện trạng về các sự nhận thức cạnh tranh đã phát triển đến nay.  Quan điểm của Mạc Tư Khoa rằng Trung Quốc đang nỗ lực để đóng cửa buộc Liên Sô đứng bên ngoài vùng; nó đang đáp ứng bằng mưu toan thiết lập các sự sắp xếp đơn phương khắp Á Châu; mặc dù Mạc Tư Khoa sẽ ưa thích việc thiết lập các liên minh hơn, nó sẽ đồng ý với những gì kém hơn đôi chút, nếu cần thiết.  Quan điểm của Trung Quốc cho rằng Liên Bang Sô Viết đang mưu toan bao vây nó.  Trung Quốc đang tìm cách đối phó với âm mưu này bằng việc tạo dựng một mặt trận thống nhất chống Mạc Tư Khoa khắp Á Châu.  Việt Nam tự nhìn mình như bị vướng mắc vào một sự tranh giành gia tăng và bị bắt buộc, dù nó muốn hay không, đứng vào phe Liên bang Sô Viết – ít nhất trong hiện tại.  Vì thế, Việt Nam phải tối đa hóa các lợi điểm và tối thiểu hóa các điểm bất lợi của tình hình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       &#8211; Các quan hệ của Hà Nội với Đông Nam Á (thực tế tất cả các quan hệ ngoại giao của nó) đang bị xáo trộn do kết quả của cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc.  Trước đây, Việt Nam ve vãn Đông Nam Á, và có lẽ giờ đây sẽ quay lại đường lối này.  Hà Nội trên giấy tờ đang sẵn lòng “hợp tác’ với khối ASEAN.  Tuy nhiên, bất kỳ sự chuyển động nào được thực hiện giờ đây sẽ gần như đương nhiên bị nhìn trong vùng là có ý định chống lại Trung Quốc.  Ý tưởng về khu vực ASEAN như một khu trung lập rõ ràng suy tàn trong một tương lai khả dĩ gần cận.  Đúng hơn, viễn ảnh ngược lại có nhiều xác xuất hơn: khối ASEAN sẽ bị lôi kéo sâu xa hơn vào cuộc đấu tranh quyền lực của phe cộng sản.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Từ quan điểm của khối ASEAN, nếu có một mối nguy hiểm nào trong toàn thể tình hình này, thì cũng có một cơ hội.   Trái ngược với ổ làm bối rối của nhiều vấn đề từ Việt Nam, cả về mặt đối ngoại lẫn đối nội, các nước khối ASEAN đang hoạt đông tốt đẹp một cách đáng kinh ngạc trong hầu hết mọi phương diện, từ phát triển kinh tế đến nhân quyền.  Các nước tại Đông Nam Á giờ đây có thể thương thảo với Việt Nam trên một vị thế đầy sức mạnh không thể nghĩ tới được vài năm trước đây.  Vấn đề trọng yếu mà khối ASEAN đối diện rằng liệu nó sẽ duy trì được sự liên đới này khi đối diện với nỗ lực phân hóa có phối hợp của ba quyền lực cộng sản – sự kiện nhiều phần sẽ gia tăng trong những năm trước mặt – hay không.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Các quan hệ Nhật Bản – Việt Nam hiện – và có lẽ sẽ tiếp tục như thế &#8212; có bản chất về kinh tế.  Vào lúc này, các quan hệ đó đang bị xáo trộn.  Nhật Bản đã từng gửi viện trợ cho Việt Nam ở nhịp độ khoảng 50 triệu mỹ kim mỗi năm.  Theo sau cuộc xâm lăng của Việt Nam vào Căm Bốt, phía Nhật Bản một cách chính thức, bắt đầu thắc mắc nhiều rằng liệu khoản viện trợ có nên tiếp tục hay không.  Điều quan trọng nhất trong khía cạnh này là Nhật Bản, khối ASEAN, và Hoa kỳ theo đuổi một chiếu hướng trường kỳ chung đối với Đông Dương.  Nếu không thể được nối kết, ít nhất cũng sẽ được phối hợp cao độ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Sự đáp ứng của Mỹ đối với cuộc đấu tranh quyền lực của phe cộng sản thực đầy sự mỉa mai, mâu thuẫn, và mặc cảm tâm lý.  Một số người Mỹ lấy làm thỏa mãn kín đáo từ toàn thể sự việc.  Một số nhìn nó như một cái bẫy mà Hoa Kỳ chỉ có thể né tránh được bằng sự bất can dự hoàn toàn.  Các người khác nhìn nó như một hiện trạng không ổn định, và vì thế việc nằm trong quyền lợi của Mỹ là cố gắng để kiểu chính nó.  Ngay dù chỉ có ít điều mà Hoa Kỳ có thể làm được (hay chuẩn bị để làm) để ổn định hóa quang cảnh, sự bình thường hóa các quan hệ Hoa Kỳ &#8211; Việt Nam, giờ đây đang bị đình hoãn và có lẽ sẽ bị đình hoãn cho phần lớn của năm 1979, có thể hay không có thể trợ lực được gì.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Một cách chính xác, Hoa Kỳ sẽ đối phó như thế nào với Việt Nam trong thời khoảng dài hạn hơn vẫn còn nhiều bất trắc.  Một phần, điều này sẽ tùy thuộc vào tác phong của Trung Quốc đối với Việt Nam; một phần, nó sẽ tùy thuộc vào việc liệu Liên Bang Sô Viết có thích ứng hay chống đối mối quan hệ mới giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc; và một phần nó sẽ tùy thuộc ở tác phong của Việt Nam tại Đông Nam Á, cũng như tình hình tốt đẹp ra sao mà các nước Đông Nam Á làm được trong tương lai.  Ngoài việc đạt được một tình trạng quân bằng trong vùng, quyền lợi của Hoa Kỳ rõ ràng có hai yếu tố: cưỡng bách một vài khoảng cách giữa Việt Nam và Liên Bang Sô Viết, và kiềm chế sự xâm lấn của Việt Nam tại Đông Dương và xa hơn nữa.<br />
</span></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><span style="font-size: medium;"><b>Kết luận</b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Giới lãnh đạo và tiến trình cấu tạo quyết định tại Hà Nội là các chủ đề thích hợp với chúng để kết luận cuộc thảo luận này về Việt Nam và cuộc đấu tranh quyền lực của phe cộng sản tại Đông Nam Á.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">      Giới lãnh đạo nòng cốt tại Việt Nam bao gồm mười bẩy người trong Bộ Chính Trị.  Họ có thể được mô tả một cách tập thể là độc đáo, kiên trì, nắm quyền pháp định bảo vệ chế độ (praetorian), và già cả (tuổi trung bình là sáu mươi bẩy).  Mười bẩy người đã điều hành Việt Nam từ thập niên 1940, và khi ta xét đến chức nghiệp lầu dài của họ, một chủ đề độc nhất xuất hiện: vũ lực.  Luôn luôn và ở mọi nơi, đây là động lực chế ngự trong tác phong của họ.  Trong các bài diễn văn và trong việc cấu tạo quyết định, vũ lực xuất hiện trong mọi hình thức: cưỡng bức, bạo động, sự áp dụng trắng trợn sức mạnh, và sự vắng bóng nhất quán của sự kiềm chế.  Trong khi nó có thể cần thiết trong một xã hội thời chiến, nó đã được chuyển tiếp một cách không suy giảm vào thời bình.  Sự thay đổi xã hội, tại miền bắc cũng như miền nam, đã được áp đặt và cưỡng hành, ngay dù nó có thể được khuyến dụ bằng các phương tiện nhẹ nhàng hơn.  Các định chế xã hội và kinh tế đã bị phá tan trong khi chúng có thể được biến cải.  Sự cưỡng bách được sử dụng vì mục đích của chính nó.  Các kẻ chống đối chính trị bị bỏ tù trong các trại cải tạo, bị lưu đầy đến các Khu Kinh Tế Mới, hay bị xua đuổi đi làm dân tỵ nạn, trong khi họ có thể được cải hóa.  Trong các quan hệ đối ngoại, cùng chủ đề vũ lực này thắng thế.  Mặc dù sự phát triển kinh tế đòi hỏi các quan hệ thân thiện một cách hợp lý với các lân bang của mình, hiện đang có chiến tranh với Căm Bôt và đối đầu với Trung Quốc.  Các nhà lãnh đạo Việt Nam, sau cả một đời chiến tranh, rõ ràng không thể điều chỉnh để có các phương thức mềm dịu hơn của hòa bình, và khi vấn đề phát sinh, họ quay trở về tinh thần của thời chiến.<br />
</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Cuộc đấu tranh nội bộ về học thuyết tại mức Bộ Chính trị đã dẫn đến một số quyết định tệ hại trong các năm gần đây, một phần bởi vì các bức màn che mắt ý thức hệ được đeo bởi một số ủy viên, và đặc biệt bởi giới lãnh đạo già nua, cứng ngắc, và trung thành với một số khái niệm kỳ quặc – một cách đặc biệt, các kẻ đối phó với sự phát triển kinh tế &#8212; ngay dù theo các tiêu chuẩn của mác-xít.  Không có sự sẵn lòng để lắng nghe các cán bộ trẻ tuổi hơn hay trao cho họ bất kỳ thẩm quyền thực sự nào.  Có một sự ngăn trở tâm lý phát sinh từ sự thắng lợi trong chiến tranh, một loại hội chứng “chúng ta đánh bại kẻ mạnh nhất”, điều có khuynh hướng khiến cho giới lãnh đạo tự nhìn mình là bất khả nhầm lẫn trong việc hoạch định kinh tế và chính sách ngoại giao.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Khi chiến tranh tại miền Nam chấm dứt, phần lớn các người theo dõi Hà Nội tin rằng Bộ Chính Trị sẽ, trong thế giới hậu chiến tranh, hành xử trong một phong cách hợp lý về kinh tế.  Đây có thể đã là ý định của Bộ Chính Trị trong ít tháng đầu tiên sau thắng lợi, nhưng nó là đường lối bị vứt bỏ, hoặc bởi các biến cố, chẳng hạn như chiến tranh với Căm Bốt và sự thất bại kinh tế nội bộ hay, như một số quan sát viên tin tưởng, bởi cuộc đấu tranh quyền lực cao cấp có gốc rễ về mặt ý thức hệ.  Bất kể lý do ra sao, giới lãnh đạo Việt Nam giờ đây không hành xử trong một cung cách hợp lý về kinh tế.  Có thể rằng tình trạng này thì tạm thời và nền kinh tế sau rốt—như khẩu hiệu chính thức tuyên bố &#8212; sẽ ở vào vị trí chỉ đạo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Các lời loan báo công khai bởi Bộ Chính Trị phơi bày thiên tài thực sự trong việc đùn đẩy sự quy trách.  Mười bảy người thì thẳng thắn trong việc liệt kê các yếu kém của hệ thống và tài tình trong việc tự tha tội cho mình.  Sự trách móc luôn luôn nằm ở nơi khác: với người Mỹ, các kẻ phản cách mạng ngay trong họ, người Pháp, các người tỵ nạn mang theo chuyện kể, người Hoa tại Việt Nam hay người Hoa tại Trung Quốc, các cán bộ Đảng cấp dưới, người Nhật Bản, hay các người Căm Bốt; các khó khăn của Việt Nam là hậu quả của chiến tranh (trận chiến gần đây hay trận chiến với người Pháp), văn hóa đồi trụy hay các sự ô nhiễm khác thừa hưởng tại Miền Nam, hay sự gian trá của thế giới nói chung.  Người ta tìm kiếm một cách vô ích sự thú nhận sai lầm cá nhân, dù chỉ mang tính chất con người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Một cảm giác chua chát được phát hiện trong các nhà lãnh đạo Việt Nam trong khi thảo luận về thế giới hậu chiến.  Họ không thể hiểu lý do tại sao, sau khi chiến thắng cuộc chiến tranh, họ lại cũng không giành thắng được hòa bình.  Vì thế, họ đảo mắt tìm kiếm quân bất lương.  Cũng rất thường, các kẻ bên ngoài có cảm tình lưu truyền niềm tin rằng Việt Nam là một nạn nhân; trong điều này, họ làm một việc tác hại.  Bất kể một người mong ước cho Việt Nam bị yếu kém hay lành mạnh, người đó phải hiểu rằng chiến tranh không đựợc dùng làm một cái nạng chống đỡ.  Làm như thế là một điều dễ hiểu – một số người Mỹ đã làm như thế với cuộc Nội Chiến của chúng ta – nhưng nó không phục vụ cho ai cả, và chỉ kéo dài cơn bệnh tật của quốc gia.  Phía Việt Nam phải kiên quyết đặt chiến tranh ra đàng sau họ; chả có ích gì để tham gia vào các sự trách móc, hay để dựng lên “các bảo tàng viện tội ác’ người Mỹ, như đang được làm tại Miền Nam.  Sự suy tư phải khởi sự làm lại và việc hoạch định phải đối phó với các giải pháp cho các vấn đề, không phải với các căn nguyên của chúng.  Bôi nhọ người Mỹ sẽ không làm tăng trưởng cây lúa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Sự mỉa mai đáng kể nằm nơi sự kiện rằng sự chiến thắng biến thành ra một gánh nặng như thế.  Có nhu cầu cho Việt Nam để tu chỉnh tinh thần kẻ chiến thắng của nó.   Người Đức và người Nhật, bị thất trận, có thể dẽ dàng đặt nó ra phía sau họ.  Còn có cả một vài điều gì đó được nói về khái niệm rằng Nhật Bản và Đức ngày nay còn tốt hơn cả một khi họ chiến thắng được Thế Chiến II.  Phải thừa nhận, các vấn đề liên can nay khó khăn hơn nhiều so với các vấn đề trong quá khứ, bởi có lẽ đúng là việc chiến thắng một cuộc chiến thì dễ dàng hơn là việc thiết lập một nền kinh tế lành mạnh, ổn định, không gặp khó khăn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Trong việc cấu tạo các quyết định, Bộ Chính Trị vẫn hoạt động trên giả định rằng tinh thần thực sự đáng kể.  Chính từ đó, các nhu cầu vật chất thường không nhận được sự chú ý cần thiết.  Các vấn đề xã hội và kinh tế được nói tới bằng các từ ngữ đạo lý hay yêu nước hơn là thực tiễn hay kỹ thuật.  Chiều hướng được sử dụng là gây chiến trên các vấn đề như thế, đối đầu với chúng, áp dụng vũ lực.  Cùng với điều này là một di sản khác – quyết tâm của Bộ Chính Trị để độc quyền hóa việc cấu tạo quyết định – một sự sắp xếp cần thiết trong thời chiến khi mọi thứ đều phải được tuôn ra từ trung tâm.  Nhưng các phương pháp hoạch định và điều hành một cuộc chiến tranh không biến cải thành sự phát triển kinh tế.  Giờ đây phải có quyền hạn rộng rãi cung cấp cho các định chế địa phương, sự phân chia lớn lao hơn trách nhiệm, và một phần thưởng được trao cho sáng kiến hơn là cho sự vâng lời mù quáng.  Tinh thần xung đột kéo dài nổi tiếng của Bộ Chính Trị thích hợp cho một số loại chiến tranh nào đó, thì cá biệt không thích hợp cho việc giải quyết phần lớn căn bệnh kinh tế và xã hội trong đó sự linh động và các sự tháo vát cần phải có; trong các trường hợp như thế, quyết tâm lì lợm không khoan nhượng thường gây nhiều điều hại hơn là điều tốt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Sự thất bại của giới lãnh đạo hậu chiến của Việt Nam vì thế phải được quy kết cho sự kiện rằng Bộ Chính Trị là một con bọ hóa thạch trong miêng hổ phách (bug in amber).  Các nhà lãnh đạo Việt Nam bị mắc bẫy trong các thái độ thời chiến, không thể phá vỡ khuôn đúc, không có khả năng suy nghĩ theo lối mới hay ngay cả việc nhận thức rằng các thời điểm này đòi hỏi các thái độ mới và các chiều hướng mới.  Những gì có thời là một điều tốt – sự kiên cường – biến thành một điều xâu khi nhu cầu là sự linh động.  Chính các đặc tính của giới lãnh đạo đã giúp cho Hà Nội kiên trì cho đến sự thắng lợi giờ đây ngăn cấm nó xuyên thủng đến sự thăng tiến kinh tế, cũng như không phát triển các quan hệ đối ngoại thân hữu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Nhiều khó khăn hậu chiến của Việt Nam là do chính nó tạo ra.  Trong bốn năm qua Việt Nam đã là kẻ thù tệ hại nhất của chính nó.  Thí dụ, Việt Nam chỉ có thể tự quở trách mình về sự kiện rằng hiện nay họ không có tòa đại sứ tại Hoa Thịnh Đốn.  Sự hân hoan của thắng lợi sau cùng đã bị tiêu tán, và nó đã bị xóa sạch bởi một chuỗi dài các biến cố táp nham.  Nhưng liệu các biến cố này đã xảy ra bởi chính trị hoảng loạn, âm mưu bên ngoài, hay chỉ vì không may mắn, sự đổ nát phải gánh chịu bởi Việt Nam có thể không diễn ra nếu các nhà lãnh đạo đã phản ứng với các chính sách khác biệt.  Trong những năm hậu chiến, Việt Nam đã gây ra rất nhiều tổn hại trên chính nó hơn là bị gây ra bởi các kẻ bên ngoài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Kết luận ghê rợn rằng giới lãnh đạo hiện tại Việt Nam – mười bẩy người của Bộ Chính Trị &#8212; hoàn toàn không thể điều hành một hệ thống kinh tế &#8211; xã hội năng động trong thời bình.  Họ có khả năng để điều hành một cuộc chiến tranh ủy nhiệm và kế đó một cuộc chiến tranh toàn diện phức tạp và làm việc đó tốt; nhưng họ thiếu kỹ năng để quản trị một công tác phức tạp và tương liên của việc xây dựng quốc gia, và họ không thể đối phó với các vấn đề hậu chiến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Có thể các sự thất bại của Việt Nam không chỉ đơn giản vì giới lãnh đạo chính quyền không khả năng thích hợp, mà, một cách không kém, bởi một hệ thống cai trị hoàn toàn không khả thi.  Có thể rằng sự thất bại có tính chất địa phương và định chế.  Sự sắp xếp hiện thời nặng nề &#8212; một tam đầu chế của Đảng, Chính Phủ và Tổ Chức Quần Chúng – phục vụ cho các nhu cầu tâm lý và quản trị của thời chiến một cách tốt đẹp.  Nhưng nó không phải là một hệ thống được thiết kế để tạo thuận lợi cho các quyết định chính sách suy tư kỹ càng, cũng như không cho phép sự hướng dẫn chuyên môn hóa và tản quyền hóa vốn có tính cách sinh tử cho sự thăng tiến song hành của nhiều khu vực khác nhau của xã hội.  Ít nhất, trong lúc này, nó không phải là một hệ thống có thể chống đỡ ngay cả cho chính nó chống lại làn sóng của các vấn đề đang đe dọa nhận chìm nó./-    </span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: medium;">***</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><strong>Chú thích</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">1. Tạp Chí <i>Quân Đội Nhân Dân</i>, Tháng Tám 1978, “Defense in a New Era” (Quốc Phòng Trong Một Kỷ Nguyên Mới).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">2. <i>Cùng nơi dẫn trên</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">3. Được đoan chắc hồi giữa Tháng Mười Hai, 1978 bởi Ngoại Trưởng Việt Nam, Nguyễn Duy Trinh, đang sang thăm viếng [Nhật Bản].  Các bảo đảm tương tự cũng được đưa ra cho người Pháp, vào thời khoảng tương tự.                </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">____</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Nguồn: <b>Douglas Pike</b>, Communist vs Communist in Southeast Asia, <i>International Security</i>, Vol. 4, no. 1 (Summer 1979), các trang 20-38.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">18.02.2013</span></p>
<p class="facebook"><a href="http://www.facebook.com/share.php?u=http://phiatruoc.info/cong-san-dau-cong-san-tai-dong-nam-a/" target="_blank"><img src="http://phiatruoc.info/wp-content/plugins/add-to-facebook-plugin/facebook_share_icon.gif" alt="Share on Facebook" title="Share on Facebook" /></a><a href="http://www.facebook.com/share.php?u=http://phiatruoc.info/cong-san-dau-cong-san-tai-dong-nam-a/" target="_blank" title="Share on Facebook">Share on Facebook</a></p>
<p><iframe src='http://www.facebook.com/plugins/like.php?href=http%3A%2F%2Fphiatruoc.info%2Fcong-san-dau-cong-san-tai-dong-nam-a%2F&amp;layout=button_count&amp;show_faces=true&amp;width=280&amp;action=recommend&amp;colorscheme=light&amp;height=30' scrolling='no' frameborder='0' style='border:none; overflow:hidden; height:30px' allowTransparency='true'></iframe>
<div class="bottomcontainerBox" style="background-color:#F0F4F9;">
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<iframe src="http://www.facebook.com/plugins/like.php?href=http%3A%2F%2Fphiatruoc.info%2Fcong-san-dau-cong-san-tai-dong-nam-a%2F&amp;layout=button_count&amp;show_faces=false&amp;width=85&amp;action=like&amp;font=verdana&amp;colorscheme=light&amp;height=21" scrolling="no" frameborder="0" allowTransparency="true" style="border:none; overflow:hidden; width:85px; height:21px;"></iframe></div>
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<g:plusone size="medium" href="http://phiatruoc.info/cong-san-dau-cong-san-tai-dong-nam-a/"></g:plusone>
			</div>
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<a href="http://twitter.com/share" class="twitter-share-button" data-url="http://phiatruoc.info/cong-san-dau-cong-san-tai-dong-nam-a/"  data-text="Cộng sản đấu cộng sản tại Đông Nam Á" data-count="horizontal"></a>
			</div>
</p></div>
<div style="clear:both"></div>
<div style="padding-bottom:4px;"></div>
<p><i>Scridb filter</i><!-- Scridb filter--></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phiatruoc.info/cong-san-dau-cong-san-tai-dong-nam-a/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Các nhận thức của Việt Nam về cuộc chiến tranh năm 1979 với Trung Quốc</title>
		<link>http://phiatruoc.info/cac-nhan-thuc-cua-viet-nam-ve-cuoc-chien-tranh-nam-1979-voi-trung-quoc/</link>
		<comments>http://phiatruoc.info/cac-nhan-thuc-cua-viet-nam-ve-cuoc-chien-tranh-nam-1979-voi-trung-quoc/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 16 Feb 2013 17:41:29 +0000</pubDate>
		<dc:creator>tapchiphiatruoc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Lịch sử]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến tranh Biên giới]]></category>
		<category><![CDATA[Ngô Bắc]]></category>
		<category><![CDATA[việt-trung]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phiatruoc.info/?p=10416</guid>
		<description><![CDATA[
Ngô Bắc dịch và phụ chú
Trích từ Gió-O
Lời người dịch: Tiến Sĩ Henry J. Kenny, là một nhà khoa học nghiên cứu  tại Trung Tâm Phân Tích Hải Quân (Center for Naval Analysis: CAN) nơi ông đã điều khiển các dự án cho Hải Quân Hoa Kỳ, Thủy Quân Lục Chiến và Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương trong hơn ...]]></description>
	
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: right"><span style="font-size: medium"><strong>Ngô Bắc </strong><span style="font-size: small"><em>dịch và phụ chú<br />
Trích từ <a href="http://www.gio-o.com/NgoBac/NgoBacHenryJKenny1979.htm">Gió-O</a></em></span></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium"><em><b>Lời người dịch: </b>Tiến Sĩ Henry J. Kenny, là một nhà khoa học nghiên cứu  tại Trung Tâm Phân Tích Hải Quân (Center for Naval Analysis: CAN) nơi ông đã điều khiển các dự án cho Hải Quân Hoa Kỳ, Thủy Quân Lục Chiến và Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương trong hơn thập niên qua.  Từng là một Đại Đội Trưởng, Trưởng Toán Lực Lượng Đặc Biệt, và Cố Vấn Cấp Tỉnh tại Việt Nam, ông đã điều hành vier^.c huấn luyện nhiệm vụ cho Các Lực Lượng Đặc Biệt sang Việt Nam tại Ft. Bragg.  Bị thương trong cuộc Công Kích Tết Mậu Thân 1968, ông sau đó đã giảng dạy về các quan hệ quốc tế tại Trường Võ Bị West Point, các giảng khóa cao học về các nguyên nhân của chiến tranh và và các lý thuyết giải quyết xung đột tại các trường American University và George Washington University, và về chính trị quốc tế tại Học Viện Quan Hệ Quốc Tế tại Hà Nội.<span id="more-10416"></span>  Ông đã từng phục vụ tại Cơ Quan Giải Giới và Kiểm Soát Vũ Khi Hoa Kỳ, Tòa Đại Sứ Mỹ tại Tokyo (Phụ Tá Đặc Biệt cho Đại Sứ Mike Mansfield), và Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện Hoa Kỳ.   Ông là tác giả của các công trình nghiên cứu &#8220;Unfinished Business in Afghanistan: Công Việc Chưa Hoàn Tất Của Mỹ Tại A Phú Hãn,&#8221; &#8220;Smaller, Faster, Smarter: Retooling the Military to Combat Terrorist Threats: Nhỏ Hơn, Nhanh Hơn, Tinh Khôn Hơn: Chỉnh Đốn Quân Đội Để Chiến Đấu Với Các Đe Dọa Khủng Bố ,&#8221; &#8220;Strengthening and Embattled Nation: A Strategy for Contenting with the Three Wars in Iraq: Quốc Gia Đang Tăng Cường và Dàn Trận: Một Chiến Lược để Thỏa Mãn Ba Cuộc Chiến Tranh Tại Iraq” , The American Role in Vietnam and East Asia (Vai Trò Của Mỹ tại Việt Nam và Đông Á Châu), cùng các ấn phẩm khác.  Quyển sách mới nhất của ông, Shadow of the Dragon (Bóng Của Con Rồng), phân tích mới quan  hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam và các hàm ý của nó cho chính sách của Hoa Kỳ tại Á Châu. (Nguồn: Wikipedia)  </em></span></p>
<p style="text-align: center" align="center"><em><span style="font-size: medium">***</span></em></p>
<p style="text-align: justify" align="center"><strong><span style="font-size: medium">Dẫn Nhập</span></strong></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Vào ngày 17 Tháng Hai, 1979, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc (CHNDTQ) đã phóng ra một trận tấn công trên đất liền với quy mô rộng lớn dọc biên giới phía nam của nó vào Việt Nam.  Băng qua biên giới tại hai mươi sáu địa điểm khác nhau, các binh sĩ của Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc (QĐGPNDTQ) đã tập trung đông đảo để xâm nhập xa hơn các tiền đồn biên giới đã bị chiếm đoạt vào hôm đó.  Ý định của Trung Quốc, theo lời của Đặng Tiểu Bình, là “dạy cho Việt Nam một bài học” mà Việt Nam sẽ không mau quên.  Việt Nam tức thời lên án hành động này.  Bằng ngôn từ không khác với ngôn từ của Franklin Roosevelt trong bài diễn văn của ông đọc tại Quốc Hội [Mỹ] hôm 8 Tháng Mười Hai, 1941, từ báo <i>Quân Đội Nhân Dân Việt Nam</i> đã tường thuật vào ngày kế đó: “Ngày 17 Tháng Hai, 1979 sẽ đi vào lịch sử như một bản án nghiêm trọng về các tội ác của “bọn bành trướng Đại Hán” trong việc mưu toan khuất phục và sáp nhập Việt Nam…. Chúng ta hãy trừng trị một cách nghiêm khắc quân xâm lược man rợ và cường quyết bảo vệ chủ quyền và nền độc lập quốc gia thiêng liêng của mình!” <sup>1</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Việt Nam và Trung Quốc đã giao chiến.  Trung Quốc đã từng ủng hộ Hồ Chí Minh trong lúc lưu vong, cung cấp một mô hình cho cuộc đấu tranh cách mạng của Việt Nam chống lại người Pháp, trao quân khí chiến tranh trọng yếu cho cuộc chiến thắng năm 1954 tại Điện Biên Phủ, đã phái 50,000 binh sĩ để trợ giúp đánh bại “quân xâm lược Hoa Kỳ”, đã cung cấp các vũ khí cỡ nhỏ có phẩm chất cao cho sự việc phần lớn là một cuộc chiến tranh sử dụng vũ khí cỡ nhỏ chống lại người Mỹ, và ngăn chặn các cuộc tấn công trên đất liền của Hoa Kỳ vào Bắc Việt Nam, giờ đây đang tấn công vào chính địa điểm đã né tránh được cuộc chiến tranh trên không của Mỹ nhờ sự lo sợ của Hoa Kỳ không muốn khiêu khích Trung Quốc. <sup>2</sup> Điều gì đã dẫn dắt đến sự đảo ngược trong các quan hệ Trung Quốc – Việt Nam? Làm sao hai nước đã từng mô tả mối quan hệ của chúng thì “mật thiết như môi với răng” đi đến chỗ xung đột vũ trang? Tại sao Trung Quốc lại nhất quyết có ý định “dạy cho Việt Nam một bài học”? Đâu là những nguyên nhân gần  nhất của cuộc xung đột? Đâu là những nguyên nhân tâm lý trường kỳ hơn của nó? Cuộc chiến tranh đã bộc lộ những gì liên quan đến các quyết định của Bắc Kinh để sử dụng vũ lực? Sự điều hành chiến tranh có cung cấp các cái nhìn quán triệt vào cung cách theo đó Trung Quốc có thể sử dụng vũ lực trong tương lai hay không? Chương sách này sẽ chú tâm vào các câu hỏi này với một sự nhấn mạnh đến quan điểm của Việt Nam.  Dĩ nhiên, có các cái nhìn Việt Nam khác nhau nhưng, như sẽ được trình bày, các quan điểm thắng thế về cuộc chiến thì đồng nhất một cách rõ rệt.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Chương sách này được chia làm năm phần.  Trước tiên, nó phân tích các nguyên nhân gần nhất của cuộc xung đột, chiếu rọi cái nhìn của Trung Quốc về vai trò của nó tại Đông Nam Á, cuộc xâm lăng năm 1978 của Việt Nam vào Căm Bốt, sự tái sắp xếp hàng ngũ chiến lược của các quyền lực quan trọng, vị thế của Hoa kiều hải ngoại tại Việt Nam, và các cuộc tranh chấp lãnh thổ song phương.  Thứ nhì, nó khảo sát sự điều hành bản thân chiến dịch, bao gồm các sự chuẩn bị quân sự của Trung Quốc cho cuộc tấn công và các quan điểm của Việt Nam về các cuộc hành quân của QĐGPNDTQ.  Thứ ba, bài viết thảo luận về kết cuộc của cuộc xung đột, cả về mặt chính trị lẫn quân sự.  Thứ tư, bài viết khám phá các chiều kích tâm lý trong các quan hệ Trung Quốc – Việt Nam và các hàm ý của chúng cho tương lai.  Sau cùng, bài viết tóm tắt các bài học lĩnh hội được như được nhìn thấy bởi phía Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Các sự phán đoán đạt tới khắp bài viết này được rút ra từ sự khảo sát nguồn tài liệu chính yếu, sự nghiên cứu của các học giả hàng đầu, các quan điểm được phát biểu trong các cuộc phỏng vấn gần đây với các viên chức cao cấp tại Hà Nội, cùng các lời bình luận và nhận xét được cung cấp cho tác giả về thời khoảng ba mươi lăm năm dính líu đến Việt Nam.  Chương sách giả định có một sự hiểu biết căn bản về bối cảnh của cuộc xung đột, bao gồm các cuộc chiến tranh của Việt Nam chống lại người Pháp từ 1946 đến 1954, người Mỹ từ 1959 đến 1975, và chống phe Khmer Đỏ từ Tháng Mười Hai 1978 đến 1979. <sup>3</sup></span></p>
<p style="text-align: justify" align="center"><span style="font-size: medium"><b>Các Nguyên Nhân Gần Nhất Của Cuộc Xung Đột</b></span></p>
<p style="text-align: justify" align="center"><em><span style="font-size: medium">Cái Nhìn Của Trung Quốc Về Vai Trò Của Nó Tại Đông Nam Á</span></em></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">      Theo các viên chức Việt Nam cao cấp, năm 1975 Bắc Kinh đã nhìn một Việt Nam thống nhất và tự tin như một chướng ngại vật trường kỳ tiềm ẩn cho sự hành xử ảnh hưởng của nó tại Đông Nam Á.  Vì thế, nó đã muốn kiểm soát các chính sách ngoại giao và quốc phòng của Việt Nam.  Bắc Kinh đã lo ngại rằng một Việt Nam thống nhất, hùng mạnh sẽ thách đố các tham vọng của Trung Quốc trong vùng. <sup>4</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Đây là một vấn đề đầu tiên và trên hết tại Đông Dương.  Bắc Kinh có hay biết về Bản Chúc Thư Cuối Cùng của Hồ Chí Minh, trong đó họ Hồ đã xác định vai trò của Việt Nam như quyền lực tôi cao phải thừa kế, trong thực tế, chiếc áo choàng khoác ngoài của Pháp để hành xử bá quyền tại Đông Dương.  Nó cũng hay biết về các kế hoạch của Hà Nội cho một Liên Bang Đông Dương, trong đó Căm Bốt và Lào sẽ liên minh với Việt Nam trong các chính sách ngoại giao và quốc phòng, và tương thích về mặt kinh tế và chính trị với Việt Nam.  Theo các nguồn tin Việt Nam, bất kỳ sự sắp xếp nào như thế đã thách đố các tham vọng của Trung Quốc muốn sau rốt mang Lào và Căm Bốt nằm trong khu vực ảnh hưởng của nó.  Hậu quả, Bắc Kinh đã tiến hành sự tấn công vào Việt Nam một phần để buộc Việt Nam phải từ bỏ bất kỳ ý đồ nào trên việc kiểm soát Đông Dương. <sup>5</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Thứ nhì, Trung Quốc đã muốn cảnh cáo các nước Đông Nam Á khác rằng một sự thách đố lại các quyền lợi nền tảng của Trung Quốc sẽ không được dung chấp.  Nó sẽ trừng trị một quốc gia, ngay cả [với] một đồng minh to lớn như Liên Bang Sô Viết, đang vượt quá ý muốn chính trị của Trung Quốc.  Nó đã muốn cảnh cáo các quốc gia Đông Nam Á đừng gia nhập vào bất kỳ liên minh hay các kế hoạch an ninh nào với siêu cường.  Trung Quốc đã lợi dụng cảm tính chống Việt Nam nơi một số thành viên của Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á (Association of Southeast Asia Nations: ASEAN), đặc biệt Thái Lan, để đốt lên các sự lo sợ về sự thông đồng giữa Sô Viết và Việt Nam tại Đông Nam Á. <sup>6</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Sau cùng, các viên chức Việt Nam cao cấp vạch ra rằng Trung Quốc muốn sự kính trọng.  Bắc Kinh cảm thấy rằng các nước khác tại Đông Nam Á đã xem Trung Quốc quá nhẹ, và muốn nêu lên một điều rằng Trung Quốc, chứ không phải Liên Bang Sô Viết hay Hoa Kỳ, là nước chủ yếu để kế đó cần cứu xét đến, khi đưa ra các quyết định quốc phòng và chính sách ngoại giao quan trọng. <sup>7</sup></span></p>
<p style="text-align: justify" align="center"><em><span style="font-size: medium">Các Nhận Thức Của Việt Nam Về Vai Trò Căm Bốt Đóng Giữ Trong Cuộc Tấn Công Của Trung Quốc</span></em></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Hà Nội nhìn mối quan hệ của nó với Căm Bốt từ một quan điểm lịch sử.  Các chuyên viên Việt Nam về Đông Nam Á vạch ra rằng lịch sử đã dẫn dắt giới lãnh đạo tại Phnom Penh đến việc tin tưởng rằng một Việt Nam thống nhất sau rốt có thể sáp nhập Căm Bốt.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium"><i>Cuộc nam tiến của Việt Nam đã dẫn tới sự chiếm cứ của nó tại vương quốc Chàm [nam trung phần của Việt Nam ngày nay] trong các thế kỷ thứ mười sáu và mười bảy.  Cuộc nam tiến của chúng tôi tiếp tục chạy xuống vùng Châu Thổ sông Mekong và, cùng với áp lực của Thái Lan từ phía tây, sẽ đưa đến sự kết liễu của Căm Bốt nếu không có sự can thiệp của Pháp.  Với sự chấm dứt chiến tranh và sự củng cố của Việt Nam, Căm Bốt đã lo sợ trở thành một khu vực ảnh hưởng của Việt Nam.</i> <sup>8</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Tuy nhiên, theo phía Việt Nam, sự lo sợ này không có căn cứ.  “Sau cuộc giải phóng Miền Nam, ưu tiên của chúng tôi là an ninh và phát triển kinh tế.  Chúng tôi đã không mấy chú ý đến phe Khmer Đỏ và các hoạt động chống Việt Nam của nó”. <sup>9</sup> Đúng hơn, các viên chức Việt Nam vạch ra rằng Việt Nam đã từng trợ giúp Khmer Đỏ giành được thắng lợi, để chỉ khám phá ra rằng khi Pol Pot nắm giữ quyền hành tại Phnom Penh, ông ta đã biểu lộ một thái độ chống Việt Nam một cách mạnh mẽ.  Ông ta đã chỉ huy các cuộc tấn công không chỉ nhằm chống lại người Việt sinh sống tại Căm Bốt, mà còn bắt đầu tấn công vào các tiền đồn Việt Nam dọc theo biên giới.  Trong Tháng Mười Một 1977, ông ta cắt đứt các quan hệ ngoại giao với Việt Nam .  Sau đó, ông ta chỉ thị Khmer Đỏ leo thang hành động thực hiện các cuộc tấn công trên quy mô rộng lớn sâu hơn vào nội địa Việt Nam, đốt cháy và cướp bóc toàn thể các làng xã.  Hà Nội cảm thấy tuyệt đối cần tái lập an ninh dọc biên giới, và sau một loạt các cuộc phản công nhỏ bị thất bại, không chấm dứt được các sự xâm nhập, đã quyết định rằng cách duy nhất để ngăn chặn Pol Pot là phải lật đổ ông ta. <sup>10</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">Vào ngày 25 Tháng Mười Hai, 1978, các binh sĩ QĐNDVN đã vượt qua biên giới Căm Bốt trong một cuộc tấn công toàn lực.  Mười hai ngày sau đó Phnom Penh rơi vào tay QĐNDVN.  Hà Nội hiểu rằng cuộc tấn công đã nâng cao một số rủi ro về một sự đáp ứng của Trung Quốc, nhưng nó cũng cảm thấy rằng Bắc Kinh là một phần của vấn đề.  Các chuyên viên Việt Nam về Trung Quốc đã vạch ra nhiều phương cách trong đó Trung Quốc đã cổ vũ sự thù hận của Khmer Đỏ chống lại Việt Nam.  Trung Quốc đã là nước đầu tiên thừa nhận Pol Pot như là quốc trưởng trong năm 1975.  Pol Pot sau đó đã mời Trung Quốc vào Căm Bốt và Trung Quốc đã đáp ứng bằng việc cung cấp cho Phnom Penh các khối lượng lớn lao về vũ khí, quân trang, và sự ủng hộ kinh tế, và bằng vi8ệc gửi các cố vấn sang trợ giúp Khmer Đỏ.  Ngay cả khi Pol Pot thanh lọc người gốc Hoa tại Căm Bốt, Bắc Kinh đã không nói gì cả.  Khi cuộc diệt chủng khởi sự, nhiều người gốc Hoa và dân Căm Bốt đã chạy trốn sang Việt Nam. <sup>11</sup></span></p>
<p><a href="http://phiatruoc.info/cac-nhan-thuc-cua-viet-nam-ve-cuoc-chien-tranh-nam-1979-voi-trung-quoc/viet-nam-cam-bot_mapkenny1/" rel="attachment wp-att-10422"><img class="size-full wp-image-10422 aligncenter" alt="Viet Nam-Cam Bot_MapKenny1" src="http://phiatruoc.info/wp-content/uploads/2013/02/Viet-Nam-Cam-Bot_MapKenny1.jpg" width="574" height="659" /></a></p>
<p style="text-align: center" align="center"><span style="font-size: medium">      </span><em><span style="font-size: medium">Bản Đồ 18 Cuộc Xâm Lăng Của Việt Nam Vào Căm Bốt, 1978-1979</span></em></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Trong thực tế, Hà Nội đã cảm thấy rằng Trung Quốc đứng đàng sau phần lớn sự xâm lược của phe Khmer Đỏ dọc theo biên giới Căm Bốt của Việt Nam – rằng Bắc Kinh muốn tạo ra một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận: “Chúng tôi nhìn sự trợ giúp của CHNDTQ cho Căm Bốt là để tạo thành một mặt trận thứ nhì.  Từ đó chúng tôi cảm thấy chúng tôi cần tấn công tại phía nam [Căm Bốt] để loại bỏ mối đe dọa ở đó, sao cho để không phải đối diện với mối đe dọa hai mặt trận từ Trung Quốc. <sup>12</sup> Cuộc chiến tranh là cần thiết từ cái nhìn của chúng tôi, nhưng chúng tôi quan ngại về việc phải để lại binh sĩ tại Căm Bốt – phải bị sa lầy”. <sup>13</sup> Do đó: “Vào ngày 7 Tháng Một chúng tôi chiếm cứ Phnom Penh, giáng một trận nặng nề vào tập đoàn Pol Pot.  Với lời yêu cầu của nhân dân Căm Bốt, chúng tôi đã ủng hộ phong trào giải phóng Heng Samrin, một mặt trận thống nhất cứu nguy Căm Bốt”. <sup>14</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Việt Nam còn tuyên bố thêm đã hành động vì quyền lợi của nhân loại.  “Trong năm 1978 chúng tôi đã hay biết về nạn diệt chủng bên trong Căm Bốt.  Hoa Kỳ và Trung Quốc bị quy trách bởi họ đã ủng hộ phe Khmer Đỏ.  Chúng tôi đã gửi các binh sĩ vào Căm Bốt theo lời yêu cầu của nhân dân Căm Bốt, để đánh đuối phe Khmer Đỏ.  Trong tất cả các nước, chỉ mình Việt Nam làm điều đúng”. <sup>15</sup>    </span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Theo các viên chức Việt Nam, sự sụp đổ của Phnom Penh trước QĐNDVN tượng trưng cho một sự thất bại trong chính sách của Trung Hoa: “Khi Việt Nam tiến vào Phnom Penh, Trung Quốc đã bị mất mặt.  Trung Quốc đã chĩa các sự tố cáo nhắm vào Việt Nam – rằng Việt Nam đã xúi giục các sự xô xát biến giới với Căm Bốt và đã xâm lăng Căm Bốt nhằm giành đoạt bá quyền tại Đông Dương.  Vào ngày 17 Tháng Hai, họ đã phóng ra một cuộc tấn công toàn diện vào biên giới phía bắc của chúng tôi.  Chúng tôi đã chờ đợi cuộc tấn công.” <sup>16</sup> Sự chuyển động của Việt Nam đến gần Liên Bang Sô Viết (LBSV) cũng liên hệ trực tiếp với sự đe dọa của Trung Quốc:</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium"><i>Trung Quốc nhất quán muốn ngăn cản bất kỳ ảnh hưởng nào của Việt Nam tại Căm Bốt.  Khi chúng tôi sắp sửa gửi quân sang Căm Bốt, chúng tôi đã phải có các sự đề phòng chống lại sự xâm lược khả hữu của Trung Quốc dọc theo biên giới phía bắc.  Chúng tôi đã ký kết một Hiệp Ước Hữu Nghị với LBSV trong năm 1978 như một sự khống chỉ đối với Trung Quốc.  Chúng tôi cũng củng cố các sự phòng thủ của chúng tôi tại khu vực biên giới phía bắc.  Chúng tôi có dự liệu sự xâm lược của Trung Quốc, nhưng không ở quy mô lớn lao như thế và với lực lượng như thế.  Bản hiệp ước đã cung cấp một sự cấm chỉ hạn chế để giữ Trung Quốc khỏi sự xâm nhập sâu vào nội địa.</i> <sup>17</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Một cựu nhân viên ngoại giao cao cấp tại Hà Nội đã tóm tắt các nguyên do cho cuộc tấn công của Trung Quốc vào Việt Nam như sau: “Bắc Kinh đã cảm thấy sự khả tín của Trung Quốc bị đe dọa bởi Trung Quốc đã từng ủng hộ phe Khmer Đỏ với viện trợ và các cố vấn trong vài năm.  Nó còn tin tưởng rằng QĐNVN sẽ bị kéo căng thật mỏng khi cùng lúc chiếm giữ Căm Bốt và phòng vệ biên giới Trung Quốc – Việt Nam.  Ở mức tối thiểu, nó đã muốn cuộc sống củaViệt Nam bị khốn khổ vì sự can thiệp của Việt Nam tại Căm Bốt. <sup>18</sup></span></p>
<p style="text-align: justify" align="center"><span style="font-size: medium"><b>Các Sự Tái Sắp Xếp Chiến Lược Của Các Quyền Lực Quan Trọng</b></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Mặc dù các nhà lãnh đạo Việt Nam tin tưởng Căm Bốt là một nguyên nhân trực tiếp và đáng kể cho cuộc tấn công của QĐGPNDTQ, họ cảm thấy lý do sâu xa hơn phải liên quan đến sự tái sắp xếp chiến lược của Trung Quốc, một sự tái liên kết được thúc đẩy bởi một chiến dịch toàn dân cho sự hiện đại hóa.  Họ đã phát biểu rằng Trung Quốc nổi lên từ sự xáo trộn của Cuộc Cách Mạng Văn Hóa, nó đã tái thiết lập sự hiện đại hóa như ưu tiên quốc gia hàng đầu, sao cho trong trường kỳ, nó có thể đảm nhận “vị thế chính đáng” của nó tại Á Châu. <sup>19</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">      Phía Việt Nam tin tưởng rằng đối với Trung Quốc, vị thế chính đáng này có nghĩa, trước tiên và trên hết, sự hoàn thành trách vụ đã khởi sự trước khi có Cuộc Cách Mạng Văn Hóa – mở rộng các sự tuyên xác trên các khu vực biên giới mà nó cảm thấy đã bị mất trong các thế kỷ trước.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium"><i>Trong mười ba nước giáp ranh với Trung Quốc, Việt Nam đã chứng tỏ là kẻ khó khăn nhất.  Việt Nam trong lịch sử đã chặn đứng sự bành trướng về phía nam của Trung Quốc.  Trung Quốc đã đối phó với các nước khác trước, nay đến lượt Việt Nam.</i> <sup>20</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Thứ nhì, điều đó có nghĩa là sự xếp hàng của Trung Quốc với Hoa Kỳ chống lại Liên Bang Sô Viết, nước bị đặt tên là bá quyền cấp miền.  Trung Quốc đã sử dụng Hoa Kỳ để đối đầu với áp lực khả hữu từ LBSV dọc theo biên giới Trung Quốc – Sô Viết, và chiến thuật này ăn khớp một cách khéo léo với các nỗ lực của Hoa Kỳ muốn chơi lá bài Trung Quốc.  Các sự biến đổi then chốt đã xảy ra trong năm 1975, khi Tổng Thống Hoa Kỳ Gerald Ford đến thăm viếng Trung Quốc và Hoa Kỳ đã thừa nhận một ghế đại diện của Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc và gỡ bỏ sự cấm vấn mậu dịch của Hoa Kỳ.  Sau đó trong Tháng Mười 1975, Bộ Trưởng Ngoại Giao Henry Kissinger đã yêu câu Trung Quốc ủng hộ Hoa Kỳ chống lại Việt Nam, ghi nhận rằng Trung Quốc bị bao vây ở mọi phía – bởi Liên Bang Sô Viết, Ấn Độ, và Việt Nam. <sup>21</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Thứ ba, và quan trọng nhất trong cái nhìn của Việt Nam, Trung Quốc đã tìm kiếm các quan hệ chặt chẽ với Hoa Kỳ ngõ hầu tiếp thu được tư bản và kỹ thuật có tính cách sinh tử cho sự hiện đại hóa của nó.  Các triển vọng nâng cao về sự chuyển giao kỹ thuật đã là một lý do chính yếu cho cuộc viếng thăm của Đặng Tiểu Bình tại Hoa Kỳ trong Tháng Một 1979. <sup>22</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Cuộc thăm viếng của họ Đặng tại Hoa Kỳ cũng hệ trọng vì một lý do khác.  Trong cuộc thăm viếng, họ Đặng có nói với Tổng Thống Jimmy Carter rằng Trung Quốc sẽ phải “dạy cho Việt Nam một bài học, và rằng ông ta sẽ tấn công Việt Nam”. <sup>23</sup> Các viên chức quân sự Việt Nam cao cấp đã giải thích cuộc thăm viếng như sau, giải thích nó như đèn xanh của Hoa Kỳ cho Trung Quốc tấn công:</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium"><i>Họ Đặng đã muốn “dạy cho Việt Nam một bài học” như thế để các nước khác tại Á Châu có thể chứng kiến sự bại trận của Việt Nam trước quyền lực Trung Quốc.  Tổng Thống Carter thoạt đầu bị ngạc nhiên nhưng sau đó đã đồng ý.  {Cố Vấn An Ninh Quốc Gia} Zbigniew Brzezinski có nói với Tổng Thống Carter rằng LBSV sẽ không có hành động chống lại Trung Quốc bởi nó không có quyền lợi sinh tử bị đe dọa.  Ông ta đã đúng, và chúng tôi đã không kỳ vọng sự trợ giúp quân sự của Sô Viết.  Trong thực tế, LBSV đã bắt đầu giảm bớt viện trợ quân sự sau Hội Nghị Paris năm 1973.  Hơn nữa, đã có một sự thỏa thuận ngầm giữa Hoa Kỳ và LBSV rằng nước kể sau [LBSV] sẽ không ủng hộ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) về mặt quân sự.  Hoa Kỳ và LBSV đã theo dõi và không làm gì cả.  Bài học cho Việt Nam là tự lực.  Điều này có nghĩa là chiến tranh nhân dân và chúng tôi đã đúng khi vũ trang cho các công dân chúng tôi tại các tỉnh giáp ranh Trung Quốc. </i><sup>24</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Phía Việt Nam tin tưởng nợi sự tự lực được tăng cường bởi sự giải thích của họ về các biến cố bao quanh sự chiếm đoạt của Trung Quốc ở Quần Đảo Hoàng Sa (Paracels hay Xisha trong tiếng hán) năm 1974.  Mặc dù QĐGPNDTQ đã chiếm đoạt chúng từ các binh sĩ Nam Việt Nam, Hải Quân Hoa Kỳ (mà phía Việt Nam nói có hiện diện tại Vịnh Bắc Phần vào lúc đó) đã không phản ứng.  Trung Quốc ngầm hiểu rằng sẽ không có phản ứng bởi vì nó biết rằng Hoa Kỳ muốn có sự sáp lại gần hơn với Trung Quốc.  Trắc nghiệm thành công phản ứng của Hoa Kỳ trong vụ Quần Đảo Hoàng Sa, phía Trung Quốc cảm thấy nó có thể hành động mà không khiêu khích một phản ứng của Hoa Kỳ trong việc tấn công Việt Nam trên đất liền. <sup>25</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Tuy nhiên, lập trường tự lực của Việt Nam bị tiết chế bởi khoản viện trợ đáng kể mà nó đã nhận được trong các năm chiến tranh từ cả Liên Bang Sô Viết lẫn Trung Quốc.  Theo các chuyên viên Việt Nam, các đòi hỏi của Hoa Kỳ trong năm 1971 và 1972 rằng Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa phải cắt giảm viện trợ của họ cho Việt Nam đã đưa đến một sự cắt giảm viện trợ từ 60% đến 70%.  Phản ứng của Trung Quốc là để cho Việt Nam dựa vào viện trợ của Sô Viết.  Cách nào đi nữa, khoản viện trợ sẽ quá nhỏ bé, và Việt Nam sẽ phải quay trở lại với Trung Quốc.  Trung Quốc đã cắt bỏ hoàn toàn viện trợ kinh tế trong năm 1978 và rút về các kỹ thuật gia và các chuyên viên của nó.  Viện trợ của Sô Viết vẫn tiếp tục, dù ở các mức độ thấp hơn. <sup>26</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Bắc Kinh tiếp tục thái độ thù nghịch của nó.  Trong Tháng Sáu 1978, Bắc Kinh thông báo cho Hà Nội rằng nó cho đóng cửa các tòa lãnh sự của Việt Nam tại Quảng Châu, Nam Ninh và Côn Minh, và trong Tháng Mười Một 1978, nó đã cắt đứt các tuyến đường xe hỏa giữa Trung Quốc và Việt Nam. <sup>27</sup> Việt Nam hay biết một cuộc tấn công nhiều phần xảy ra dọc biên giới phía bắc và, như được đề cập trước đây, đã ký kết một Hiệp Ước Hữu Nghị và Hợp Tác với Liên Bang Sô Viết trong một mưu toan nhằm ngăn chặn hay giới hạn khuôn khổ của bất kỳ cuộc tấn công nào của Trung Quốc.  Bắc Kinh kế đó đã xem bản hiệp ước như một hành vi thù nghịch bởi Việt Nam, và sự ngờ vực của Bắc Kinh về Liên Bang Sô Viết đã dẫn dắt nó đến việc tin tưởng liên minh mới là một phần của một mưu toan của Sô Viết nhằm bao vây Trung Quốc.  Nhìn Việt Nam như một mặt trận trong cuộc đấu tranh chống Sô Viết của mình, Bắc Kinh đã gán nhãn hiệu cho Việt Nam là tiểu bá quyền và LBSV là đại bá quyền.  Đó là lý dó trung tâm cho Trung Quốc muốn dạy Việt Nam một bài học để các nước khác nhìn thấy. <sup>28</sup> Lo lắng về an ninh quá đáng, phía Trung Quốc đã nhìn liên minh Sô Viết – Việt Nam như một trở ngại cho sự tái khẳng định vị trí thích hợp của Trung Quốc tại Á Châu.  Cuộc tấn công đã được thiết kế để phá vỡ liên minh này và cảnh cáo Hà Nội rằng trong trường kỳ, nó sẽ cưỡng bách Việt Nam từ bỏ bất kỳ liên minh với đại cường nào. <sup>29</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Tuy nhiên, Việt Nam đã không cho phép LBSV sử dụng Việt Nam như một căn cứ chống lại Trung Quốc.  Mối quan hệ vẫn còn chặt chẽ nhưng chưa đến mức mà Việt Nam nghĩ rằng nó có thể phải lệ thuộc vào sự can thiệp quân sự của Sô Viết, ngay dù LBSV có hay biết trước rằng CHNDTQ có ý định tấn công Việt Nam.  “Việt Nam đã ký thác mình vào sự tin tưởng nơi chủ nghĩa quốc tế vô sản và nghĩ rằng tình liên đới của nó sẽ củng cố liên minh với LBSV, nhưng vào năm 1979, điều rõ ràng rằng nguyên tác này không còn có nhiều ý nghĩa với bất kỳ nước nào”. <sup>30</sup></span></p>
<p style="text-align: justify" align="center"><span style="font-size: medium"> <b>Người Hoa Như Một Nguyên Nhân Của Cuộc Xung Đột</b></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Các nhà nghiên cứu và các viên chức Việt Nam không nhìn vấn đề người gốc Trung Quốc tại Việt Nam (người Hoa) là một lý do quan trọng cho cuộc tấn công của Trung Quốc vào Việt Nam.  Họ nói phần lớn người Hoa, đặc biệt các người thuộc cộng đồng Trung Quốc to lớn ở Chợ Lớn (tại Sàigòn), đã cư trú tại Việt Nam qua nhiều thế hệ.  Lý do người Hoa được trưng dẫn như là nguyên nhân của cuộc xung đột, theo lời họ, là bởi vì cuộc chiến tranh không được lòng dân ngay tại chính Trung Quốc, và Bắc Kinh cần khuấy động sự tức giận của quần chúng nơi sự ngược đãi giả định các công dân Trung Quốc tại Việt Nam.  Theo luồng tư tưởng này, phần lớn người dân Trung Quốc cảm thấy Việt Nam là thân hữu của họ và đã không hiểu tại sao Trung Quốc sẽ tấn công.  Trong thực tế, Bắc Kinh đã sử dụng vấn đề Hoa kiều hải ngoại như một duyên cớ để biện minh sự xâm lược của Trung Quốc đối với nhân dân của chính họ. <sup>31</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Một thành tố quan trọng của quan điểm này là hàm ý rằng sự bất mãn phổ biến tại Trung Quốc có thể thực hiện một ảnh hưởng kiềm chế trên tác phong của Trung Quốc, rất giống như sự bất mãn của quần chúng tại Mỹ đã làm trong việc chấm dứt sự can dự của Hoa Kỳ tại Việt Nam.  Truyền thông Việt Nam vào thời điểm đó đã truyền đi nhiều lần các sự đề cập tới các cuộc biểu tình của người dân Trung Quốc chống đối chiến tranh.  Điển hình của sự tường thuật lúc đó như sau: “Các nhà cầm quyền Trung Quốc đã ngăn cấm mọi cuộc biểu tình, tập họp công cộng và sự ấn hành các bản tin tường thuật của nhân dân liên quan đến cuộc xâm lược của Trung Quốc tại Việt Nam”. <sup>32</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Các sự giải thích cho cuộc di cư của người Hoa khỏi Bắc Việt về Trung Quốc chú tâm đến các sự khiêu khích của Trung Quốc: “Phía Trung Quốc, thi hành một ý đồ có tổ chức và xảo trá, đã dụ dỗ và cưỡng bách hàng trăm nghìn người Hoa đi về Trung Quốc trong một mưu toan gây ra sự xáo trộn chính trị, xã hội, và kinh tế tại Việt Nam”. <sup>33</sup> Bên trên các sự khiêu khích này, Trung Quốc đã tố cáo Việt Nam đã ngược đãi các người Hoa. <sup>34</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Hà Nội có thể chính xác trong sự phán đoán rằng động thái của nó đối với người Hoa không phải là một yếu tố quyết định trong quyết định của Trung Quốc để tấn công.  Tuy nhiên, không có gì phải ngờ rằng nó đã là một yếu tố lớn hơn các lời giải thích đã được đưa ra.  Trước tiên, sự đàn áp các phần tử tư sản mại bản tại miền Nam Việt Nam trước đây vốn tập trung đông đảo tại cộng đồng người Trung Hoa to lớn trong Chợ Lớn.  Ở nơi đó, trong Tháng Ba 1978, các nhà cầm quyền Việt Nam đã tung ra một sự kiểm tra đột ngột ồ ạt trên hoạt động kinh doanh, tước đoạt của cải của các cư dân và buộc nhiều người trong họ phải lưu vong. <sup>35</sup> Thứ nhì, rõ ràng đã có các mưu toan của Việt Nam để xua đuổi nhiều người Hoa tại Bắc Việt về Trung Quốc.  Động lực của việc này thì không rõ rệt, nhưng có thể bị thúc đẩy bởi các sự lo ngại về an ninh do cảm tính chống Việt Nam trong số các người này.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Về phần mình, Bắc Kinh, đặc biệt với các tham vọng của nó về một vai trò có ảnh hưởng tại Đông Nam Á, đã không thể đứng yên và ngắm nhìn hàng trăm nghìn người gốc Trung Hoa bị xua đuổi ra khỏi Việt Nam.  Vì thế, nó đã ồn ào kết án các hành vi của Việt Nam và đã gửi ít con tàu đến Vịnh Bắc Việt trong một nỗ lực vô ích để cứu vớt những người Hoa muốn hồi hương về Trung Quốc.  Tuy nhiên, Việt Nam đã không cho phép các chiệc tàu này tiến vào các hải phận của nó, và Bắc Kinh đã rút chúng về trước khi có cuộc tấn công qua biên giới của nó. <sup>36</sup></span></p>
<p style="text-align: justify" align="center"><span style="font-size: medium"><b>Các Sự Tranh Chấp Biên Giới Đất Liền</b></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Bắc Kinh đã muốn giải quyết các vấn đề biên giới có lợi cho nó.  Sự phân định các biên giới trên đất liền là một việc khó khăn, nhưng đây chỉ là chuyện nhỏ khi so sánh với các tham vọng của Trung Quốc tại Biển Nam Hải, bao gồm cả các sự tuyên xác tại Vịnh Bắc Bộ và tại Các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Việt Nam không nhận thức các vụ tranh chấp tại biên giới đất liền như một yếu tố quan trọng trong quyết định của Trung Quốc.  Dọc theo toàn thể biên giới dài 797 dậm Anh, Trung Quốc tuyên xác ít hơn sáu mươi cây số vuông. <sup>37</sup> Việt Nam ghi nhận rằng khu vực biên giới đã được hưởng một thời kỳ hòa bình lâu dài, và các nhóm dân tộc ở hai bên biên giới đã có một mối quan hệ chặt chẽ.  Biên giới, theo lời họ, đã không phải là một vấn đề quan trọng trước khi có các sự tranh chấp trong thập niên 1970:</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium"><i>Về mặt lịch sử, biên giới luôn luôn vô định hình.  Việt Nam đã là một quốc gia triều cống nhưng độc lập trong nhiều năm, trong một tình trạng tương tự như mối quan hệ giữa Phần Lan và Nga – nó đã là một khu vực an ninh và ảnh hưởng của Trung Quốc.  Với sự trổi dậy của CHNDTQ, Trung Quốc đã tìm cách xác quyết chủ quyền của Đại Hán trên các vùng như thế, kể cả Bắc Hàn, nơi mà Trung Quốc đã bảo vệ bằng việc tiến đến chiến tranh với Hoa Kỳ.  Nhưng ít nhất VNDCCH vẫn còn chưa phải là một vùng như thế.  Điều này có lợi cho chúng tôi trong suốt cuộc chiến tranh với Hoa Kỳ.</i> <sup>38</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Sau đó, làm sao mà cuộc xung đột biên giới đã phát sinh? Rõ ràng, đã có các sự giải thích khác nhau về thỏa hiệp phân định biên giới Pháp – Hoa năm 1887.  Trong sự thi hành thỏa hiệp đó, “333 cột mốc biên giới đã được đặt vào lúc chuyển đổi thế kỷ, nhưng chúng đã không được bảo trì kỹ lưỡng.  Một số cột mốc trên đất liền đã bị di dời xuống phía nam, nhưng Việt Nam thì quá bận tâm với các cuộc chiến tranh của nó để chú ý đến việc đó.  Trong suốt hai cuộc chiến tranh Đông Dương, CHNDTQ đã nói với VNDCCH rằng biên giới trên đất liền không phải là một vấn đề và có thể được giải quyết sau này.  Cùng giọng điệu như thế đối với Vịnh Bắc Bộ”. <sup>39</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Các sự khác biệt trong các sự giải thích đã có ý nghĩa lớn hơn trong thập niên 1970.  Theo cái nhìn của Việt Nam, “bởi các quyền lợi chiến lược của nó đã biến đổi trong thập niên 1970 và 1980, Trung Quốc đã đưa ra các đòi hỏi mới trên đất liền và trên biển.  Bắc Kinh đã nói nó đã phải ‘ổn định hóa biên giới để làm cho lãnh thổ Trung Quốc an toàn hầu phát triển’.  Trung Quốc đã cáo buộc Việt Nam đang tấn công Trung Quốc, nhưng Việt Nam chưa hề có thể tấn công và chiếm cứ Trung Quốc”. <sup>40</sup> Các nguồn tài liệu khác công nhận rằng Hà Nội đã trở nên khiêu khích quá đáng tiếp theo sau sự chiến thắng của nó trên Sàigòn.  Việt Nam đã đưa ra các sự tuyên xác vượt quá biên giới được phân định trong thỏa hiệp Trung Quốc – Pháp Quốc, và đã bắt đầu nêu lên vấn đề một đường biên giới “lịch sử” để hậu thuẫn cho các sự tuyên xác đối với mười lăm khoảnh đất riêng biệt tại các tỉnh Vân Nam và Quảng Tây.  “Chúng tôi phạm phải các sai lầm trong thái độ của chúng tôi đối với Trung Quốc”, một viên chức Bộ Ngoại Giao Việt Nam thú nhận như thế. <sup>41</sup> Các sai lầm này rõ ràng khiến Trung Quốc tức giận, đổ thêm dầu vào các nguyên nhân khác của cuộc xung đột năm 1979.</span></p>
<p style="text-align: justify" align="center"><span style="font-size: medium"><b>Các Tranh ChấpTại Biển Nam Hải</b></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Các sự tranh chấp Biển Nam Hải (South China Sea) giữa Trung Quốc và Việt Nam đã hiện hữu ít nhất từ năm 1947, khi Trung Hoa [Dân Quốc] vạch đường gồm chín đoạn rời để bao gồm các sự tuyên xác trên các hòn đảo chiếm đại đa số diện tích của biển này.  “Về mặt lịch sử, Hoàng Sa (Paracels: Xishas) và Trường Sa (Spratlys: Namshas) là của Việt Nam.  Chúng được gọi là Trường Sa [sic, trong nguyên bản viết sai là Trường Xa, chú của người dịch].  Tưởng Giới Thạch tuyên xác nhưng không có hành động gì”. <sup>42</sup> Như với biên giới đất liền trong suốt hai cuộc chiến tranh Đông Dương, các tranh chấp trên biển đã được triển hoãn cho sự giải quyết tương lai.  Tuy nhiên, trong năm 1974, với sự chiếm đoạt của QĐGPNDTQ các đảo nhỏ nằm phía tây của Quần Đảo Hoàng Sa từ Nam Việt Nam, Hà Nội trở nên bối rối.  Nó đã không ủng hộ bước tiến của Trung Quốc đánh Nam Việt Nam cũng không kết án sự chiếm đóng kế đó của Nam Việt Nam trên sáu đảo tại Quần Đảo Trường Sa mà Trung Quốc đã tuyên xác.  Trong thời hậu chiến, khi các sự căng thẳng lên cao với Trung Quốc, nó bắt đầu nhìn Trung Quốc như một mối đe dọa còn lớn hơn nữa đối với các tuyên xác trên biển của nó. Bởi vì Trung Quốc rõ ràng đã hướng ra ngoài trong khi nó phát triển tiềm năng quân sự và kinh tế của nó, Hà Nội trong một bước tiến phủ đầu một cách quả quyết đã khởi sự  đồn trú trên nhiều hòn đảo khác nhau của Quần Đảo Trường Sa. <sup>43</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Mặc dù cả hai bên đều tuyên xác cả Quần Đảo Hoàng Sa lẫn Trường Sa, không bên nào có các lực lượng hải quân có khả năng phóng chiếu nhiều quyền lực trong vùng.   Hải quân QĐGPNDTQ có một hạm đội các tàu cũ có thể vuơn tới Quần Đảo Trường Sa, nhưng Việt Nam vẫn còn đang dựa vào hạm đội Sô Viết có năng lực hơn nhiều làm kẻ bảo kê an ninh cho chuỗi mở rộng từ từ các hòn đảo được củng cố.  Như một phần trong các sự chuẩn bị của nó cho việc tấn công Việt Nam, Trung Quôc đã tập họp một hạm đội nhỏ ngoài khơi đảo Hải Nam hồi đầu năm 1979.  Hạm đội đã không bao giờ được sử dụng, bởi Trung Quốc đã quyết định hạn định sự tấn công của nó đánh Việt Nam vào sự chiến đấu trên đất liền, mà nhiều phần cũng vì bốn chiếc tàu chiến của Sô Viết đã di chuyển vào Biển Nam Hải hồi đầu Tháng Hai.  Bốn chiếc tàu chiến này sau rốt đã thả neo tại Vịnh Cam Ranh, nhưmg sự hiện diện của chúng trong vùng đã là một sự cảnh cáo rõ ràng cho Bắc Kinh không được đẩy cuộc tấn công của mình vượt quá một sô lằn ranh nào đó. <sup>44</sup><br />
</span></p>
<p><a href="http://phiatruoc.info/cac-nhan-thuc-cua-viet-nam-ve-cuoc-chien-tranh-nam-1979-voi-trung-quoc/bien-dong_mapkenny2/" rel="attachment wp-att-10421"><img class="size-full wp-image-10421 aligncenter" alt="Bien Dong_MapKenny2" src="http://phiatruoc.info/wp-content/uploads/2013/02/Bien-Dong_MapKenny2.jpg" width="583" height="946" /></a></p>
<p style="text-align: center" align="center"><em><span style="font-size: medium">Bản Đồ 19: Biển Nam Hải [sic]</span></em></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Sự kiện rằng các cuộc tranh chấp Biển Nam Hải rõ ràng đã không đóng giữ một vai trò quan trọng trong việc dẫn dắt đến cuộc xung đột năm 1979 không có nghĩa là chúng không thể dẫn đến một cuộc tranh chấp giữa hai nước trong tương lai.  Theo các nguồn tin Việt Nam, Trung Quốc đã muốn mở rộng các biên giới trên biển của nó và có thể tạo ra một duyên cớ để chiếm đoạt các hòn đảo do Việt Nam nắm giữ, “giống y như nó đã làm trong việc tấn công khắp tuyến McMahon trong năm 1962, và Đảo Damamsky trong năm 1969”. <sup>45 </sup>Một người có thẩm quyền Việt Nam về vấn đề này đã phát biểu điều đó theo cách sau đây:</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium"><i>Những gì xảy ra tại Biển Nam Hải là một chức năng của các quyền lợi chiến lược.  Trung Quốc tuyên bố nó cần “không gian cho sự phát triển” và cần kiểm soát các biên giới chiến lược của nó trên biển.  Chúng tôi muốn ổn định hóa tình hình, chính yêu bằng các phương thức đa phương, nhưng cũng gồm cả song phương, xuyên qua các sự thương thảo và có lợi hỗ tương.</i> 46</span></p>
<p style="text-align: justify" align="center"><span style="font-size: medium"><b>Sự Tiến Hành Chiến Dịch</b></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Trong việc hoạch định sự xâm lăng của nó vào Căm Bốt, Hà Nội có ngờ vực Trung Quốc có thể đáp ứng bằng hành động quân sự dọc theo biên giới Trung – Việt.  Có các dấu hiệu quân sự ở đó. </span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Trước tiên, các sự xâm nhập của QĐGPNDTQ theo tường thuật, vào Việt Nam đã gia tăng một cách rõ rệt.  Theo Hà Nội, con số các biến cố dẫn đến cuộc tấn công Tháng Hai 1979 đã gia tăng từ nhịp độ trung bình trong năm 1978 là 49 vụ mỗi tháng lên 171 vụ trong Tháng Một 1979, và 230 vụ trong 16 ngày trước khi có cuộc tấn công hôm 17 Tháng Hai. <sup>47</sup> Vào ngày 1 Tháng Hai, Hà Nội đã tường thuật rằng sự gia tăng rõ rệt trong các vụ đụng độ biến giới đã buộc Việt Nam “phải duy trì một sự hiện diện quân sự mạnh mẽ trong khu vực”. <sup>48</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium"><i>Khi chúng tôi nhìn thấy Phnom Penh sắp sửa sụp đổ, chúng tôi có dự liệu cuộc tấn công của QĐGPNDTQ.  Chúng tôi có biết CHNDTQ không thể trì hoãn cuộc tấn công khi phe Khmer Đỏ sắp sửa bị đánh bại.  Chúng tôi đã thực hiện các sự chuẩn bị, trang bị và huấn luyện dân quân (citizen soldiers), và đã báo động các lực lượng địa phương quân.  Vào tối trước khi có cuộc tấn công, tôi có mặt cách biên giới ba cây số.  Học Viện Quốc Phòng của QĐNDVN đã phái tất cả nhân viên lên phía bắc làm cán bộ và để lượng giá tình hình.  Các địa phương quân sắp phải chịu lãnh áp lực chính của cuộc tấn công.  Họ có ba nhiệm vụ: đánh trả và gây tổn thất của QĐGPNDTQ ở mức tối đa, làm chậm bước tiến quân, và hướng dẫn các đường tiến quân của các lục lượng chủ lực.</i> <sup>49</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Thứ nhì, Hà Nội có tường thuật các sự chuẩn bị sâu rộng của QĐGPNDTQ cho các cuộc tấn công to lớn về mặt quy mô và phạm vi hơn chỉ là [để sử dụng cho] các vụ đụng độ nhỏ biên giới.  Nó có ghi nhận các vụ xâm nhập sâu vào các tỉnh Hoàng Liên Sơn và Lạng Sơn, các vụ đột kích vào các đồn biên giới của Việt Nam, và sự tập hợp đông đảo trọng pháo phía bên biên giới Trung Quốc. <sup>50</sup> Theo các nguồn tin Việt Nam, QĐGPNDTQ đã xúi giục các vụ đụng độ khắp toàn thể các tỉnh biên giới của Việt Nam hầu phân tán công tác quốc phòng.  Trong số 171 vụ xâm nhập được báo cáo trong Tháng Một 1979, thí dụ, 24 vụ tại Quảng Ninh, 40 vụ tại Lạng Sơn, 43 vụ tại Cao Bằng, 18 vụ tại Hà Tuyên, 39 vụ tại Hoàng Liên Sơn, và 7 vụ tại tỉnh Lai Châu. <sup>51</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Thứ ba, mặc dù có tường thuật các vụ biến cố sâu rộng suốt Tháng Một và đầu Tháng Hai, nó đã chú tâm đến sự tiến quân vào huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn một cách chi tiết khác thường, bởi Cao Lộc dẫn đường tới thị trấn Lạng Sơn, và cả hai địa điểm nằm trên con đường trực tiếp nhất từ biên giới Trung Quốc xuống Hà Nội.  Vào ngày 4 Tháng Hai, có báo cáo rằng khoảng 200 binh sĩ QĐGPNDTQ, được yểm trợ bởi pháo binh và súng máy và được hỗ trợ bởi “hàng nghìn” binh sĩ QĐGPNDTQ, đã tiến sâu 200 mét vào Việt Nam tại huyện Cao Lộc.  Các binh sĩ QĐGPNDTQ được cho hay đã chiếm cứ các địa điểm có địa hình then chốt và khai quang các tầm khai hỏa trong các sự chuẩn bị hiển nhiên đối với một sự phản công khả hữu của Việt Nam. <sup>52</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Một tuần sau đó, Hà Nội phát thanh các tin tức đáng ngại hơn: “Vào sớm hôm 10 Tháng Hai, sau khi đã bắn súng cối và súng máy hạng nặng vào các thôn xã của nhân dân chúng ta, phía Trung Quốc đã phái các binh sĩ sang xâm lấn và chiếm cứ một khu vực tại xã Thanh Loa [?] được phòng vệ bởi các dân quân chúng ta … Các kẻ xâm nhập Trung Quốc đã chiếm cứ Đồi 400, 14 cây số bắc-đông bắc tỉnh lỵ Lạng Sơn và hai cây số bên trong lãnh thổ Việt Nam”. <sup>53</sup> Giống như trong cuộc tấn công trước đây gần biên giới hơn, QĐGPNDTQ đã hậu thuẫn các hành động của nó bằng việc bố trí các lực lượng mạnh để yểm trợ.  “Phía Trung Quốc đã tạo ra một tình trạng nghiêm trọng dọc theo biên giới Trung – Việt.  Nó đã tập hợp 20 sư đoàn, hàng trăm các phi cơ chiến đấu, nhiều xe thiết giáp và các quân dụng chiến tranh khác sát gần biên giới Việt Nam”. <sup>54</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium"><i>Đã có 600,000 binh sĩ Trung Quốc nói chung liên can đến cuộc tấn công.  Ý định của QĐGPNDTQ là tiến sâu từ bốn mươi đến sáu mươi cây số trong lãnh thổ Việt Nam.  Chúng tôi đã phải chuẩn bị.  Chúng tôi không thể tin được phạm vi của cuộc tấn công.  Ngay tại Hà Nội, dân chúng được nói cần sẵn sàng.  Họ đã được báo động; hồ đào hố, và họ đã chuẩn bị các vị trí phòng thủ. </i><sup>55</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Tuy nhiên, phía người dân Việt Nam tại Hà Nội tuyên bố vẫn giữ vẻ tự tin.  Bất kỳ sự quan ngại nào về sự an toàn của thủ đô đều được dấu kín, cả trên báo chí vào lúc đó lẫn trong các sự thẩm định đương thời của Việt Nam về cuộc chiến.  “Chúng tôi có ưu thế trang thiết bị của Nga và Mỹ so với trang thiết bị của QĐGPNDTQ “, một chuyên viên nhấn mạnh, trong khi các người khác tuyên bố:</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium"><i>Cuộc Cách Mạng Văn Hóa đã hạ thâp sự sẵn sàng chiến đấu của QĐGPNDTQ.  Các binh sĩ QĐGPNDTQ đã phá hủy kinh tế của các khu vực bị chiếm đóng, nhưng đã phải trả giá với các sự tổn thất lớn lao.  Năng lực chiến dấu của QĐGPNDTQ thì thấp.  QĐGPNDTQ cũng có tinh thần thấp. </i><sup>56</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Bất kể sự nhận biết rõ ràng của nó về các dấu hiệu cảnh cáo, Hà Nội vẫn rõ ràng ở vào chỗ tin ttưởng rằng một nước xã hội chủ nghĩa anh em sẽ không bao giờ tấn công nó.  Sự tin tưởng này được tăng cường bởi một nhận thức rằng phần lớn người Trung Quốc chống đối chiến tranh và rằng sẽ có áp lực từ dân chúng Trung Quốc để ngăn chặn chiến tranh. <sup>57</sup> Tuy nhiên, có lẽ điều quan trọng nhất đối với Hà Nội là lời bình luận bởi Đặng Tiểu Bình một tuần sau khi mở chiến dịch là cuộc tiến quân của Trung Quốc sẽ không được kéo dài lâu hơn cuộc giao tranh năm 1962 với Ấn Độ (ba mươi ba ngày). <sup>58</sup> Cộng với các ý kiến trước đó của ông ta rằng cuộc xâm lăng sẽ “được hạn chế về không và thời gian”.  Hà Nội rất có thể đã kết luận rằng nó có thể cầm chân phía Trung Quốc tại các các tỉnh biên giới trong bất kỳ trường hợp nào.</span></p>
<p><span style="font-size: medium">       Một vài khuôn mẫu hành động phát sinh từ các cuộc xâm nhập “tiền chiến tranh” này.  Trước tiên, QĐGPNDTQ tạo ra các biến cố suốt một mặt trận rộng lớn, nhất thiết làm phân tán các sự phòng thủ của Việt Nam và che dấu đến một tầm mức giới hạn trục tấn công chính yếu.  Thứ nhì, QĐGPNDTQ đã tập trung các nỗ lực của nó vào việc chiếm đoạt các địa hình trọng yếu dọc theo khu vực phòng thủ trọng yếu nhất của Việt Nam, &#8212; hành lang Lạng Sơn dẫn xuống Hà Nội.  Thứ ba, trong cả cuộc tấn công biên giới hôm 4 Tháng Hai lẫn cuộc tấn công hôm 10 Tháng Hai vào Đồi 400, QĐGPNDTQ đã hành động một cách mau lẹ để chiếm đoạt các mục tiêu trước khi các lực lượng Việt Nam có thể đáp ứng.  Nó đã tức thời dựng lên các vị trí phòng thủ theo sau sự chiếm đoạt các mục tiêu của nó, và đã hậu thuẫn sự hiện diện của nó bởi lực lượng áp đảo hỗ trợ cho cuộc tấn công.  Hoạt động của QĐGPNDTQ chính vì thế đã mưu toan áp đặt “<i>sự đã rồi: a fait accompli</i>”. <a href="http://phiatruoc.info/?attachment_id=10418" rel="attachment wp-att-10418"><img class="size-full wp-image-10418 aligncenter" alt="Viet-Trung_KennyMap" src="http://phiatruoc.info/wp-content/uploads/2013/02/Viet-Trung_KennyMap.jpg" width="590" height="672" /></a></span></p>
<p style="text-align: center" align="center"><em><span style="font-size: medium">Bản Đồ 20: Cuộc Xâm Lăng Của Trung Quốc Vào Việt Nam, năm 1979</span></em></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">Sự mở màn các chiến sự hôm 17 Tháng Hai đã diễn ra không có sự bất ngờ.  Ngoài nhiều biến cố trong sự chuẩn bị cho cuộc tấn công của QĐGPNDTQ, các sự chuẩn bị quân sự thì ồ ạt.  Mười trong mười một quân khu của Trung Quốc đã đóng góp các lực lượng.  Các lực lượng này gồm khoảng 20 sư đoàn, 300,000 binh sĩ, 700-1000 máy bay, 1,000 xe tăng, và 1,500 khẩu pháo. <sup>59</sup> Các đơn vị xâm nhập Việt Nam một cách điển hình được trang súng bắn hỏa tiễn phóng lựu đạn, các súng máy, và súng 12.7 li.  Trong các tuần lễ trước khi có cuộc tấn công, Hà Nội có tuyên bố rằng các máy bay Trung Quốc đã bay qua không phận của Việt Nam, trong khi “các tàu và thuyền Trung Quốc đã thực hiện hơn 1,500 vụ đột nhập vào hải phận của Việt Nam”. <sup>60</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Cuộc tấn công thực sự đã bắt đầu vượt qua toàn thể vùng biên giới trong một cuộc công kích vào lúc rạng sáng bởi sáu sư đoàn bộ binh được yểm trợ bởi các loạt trọng pháo.  QĐGPNDTQ đã tiến vào Việt Nam tại hơn hai mười sáu địa điểm, nhưng đã sớm tập trung cuộc tấn công của họ dọc theo năm ngả tiến quân chính, tất cả đều nhắm vào tỉnh lỵ của năm trong sáu tỉnh biên giới của Việt Nam (ngoại trừ tỉnh duyên hải Quảng Ninh và tỉnh lỵ của nó là Hòn Gai).  Các mục tiêu quân sự Trung Quốc bao gồm không chỉ việc chiếm đoạt các tỉnh này, mà còn cả sự triệt hủy các đơn vị quan trọng của QĐNDVN được xem là cốt yếu cho sự phòng thủ của họ.  Bắc Kinh đã đặt tên cho các sự chuyển động của nó là một cuộc “hoàn kích tự vệ”, và đã cẩn thận không bày tỏ bất kỳ ý định nào muốn tiến quân vượt quá các tỉnh biên giới tiến xuống vùng Châu Thổ sông Hồng.   QĐGPNDTQ cũng giới hạn cuộc tấn công của nó bằng cách không sử dụng không hay hải lực. <sup>61</sup> Ở cực điểm, các lực lượng QĐGPNDTQ bên trong Việt Nam được ước lượng là tám sư đoàn và hơn 100,000 quân. <sup>62</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Việt Nam đã dựa chính yếu vào dân quân, bao gồm các binh sĩ-công dân và các lực lượng địa phương, để đối đầu với cuộc xâm lăng.  Theo các sĩ quan cao cấp của QĐNDVN, Hà Nội đã cung cấp các vũ khí nhỏ và huấn luyện cho các công dân của vùng biên giới trong vài tháng trước cuộc tấn công.  Một khi cuộc tấn công bắt đầu, các binh sĩ-công dân này và các lực lượng địa phương quân đã phải chịu đựng áp lực chính của cuộc tấn công.  Năm sư đoàn chính quy của QĐNDVN được giữ làm quân trừ bị, sẽ chỉ giao chiến nếu QĐGPNDTQ đe dọa chọc thủng xuống vùng Châu Thổ sông Hồng.  Hà Nội đã muốn phá hỏng một mục tiêu của QĐGPNDTQ nhằm tiêu diệt các đơn vị lực lượng chủ lực, nhưng cũng cảm thấy rằng nó sẽ vững mạnh hơn về mặt chiến thuật để chỉ tung ra các đơn vị quân chủ lực sau khi các tuyến đường lưu thông của các đơn vị Trung Quốc bị căng mỏng ra.  Hà Nội cũng đã giữ các đơn vị chủ lực quân đàng sau ngay từ lúc khởi đầu trong một nỗ lực nhằm giữ bất kỳ chiến sự nào phải được giới hạn ở khu vực biên giới.  Trong thực tế, một ít đơn vị QĐNDVN đã tham gia vào sự phòng thủ Lạng Sơn hồi đầu Tháng Ba, nhưng ngay ở đó các dân quân đã thực hiện việc giao tranh chính yếu.  Một số ước lượng từ 75,000 đến 100,000 dân quân Việt Nam đã tham gia vào sự giao tranh. <sup>63</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Các chiến thuật của QĐGPNDTQ đã không phải là một điểm mạnh của Trung Quốc.  Quân đội đã bị tàn phá bởi các sự rối loạn của Cuộc Cách Mạng Văn Hóa, đã không tham gia vào sự chiến đấu trong mười năm, và vẫn chưa hiện đại hóa các lực lượng của nó để chiến đấu “một cuộc chiến tranh kỹ thuật cao độ dưới các điều kiện địa phương”.  Các xe tăng và xe vận tải bị giữ chân tại một ít con đường uốn khúc giữa các ngọn núi, đồi cao, phần lớn được che phủ bởi rừng và rải rác các bờ đá vôi dốc đứng.  Địa thế hành lang Lạng Sơn không hoàn toàn gập ghềnh, nhưng bao gồm nhiều ngọn đồi dốc đứng với các khu vực khai hỏa thuận lợi bảo vệ các tuyền đường tiến tới. <sup>64</sup> Khi bộ binh QĐGPNDTQ mưu toan né tránh tuyến đường, họ có khuynh hướng đổ dồn theo đội hình hàng dọc bởi địa hình.  Ở đó, họ đã gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ bởi các lực lượng địa phương quân lưu động am tường rất rõ địa hình và thực hiện các cuộc phục kích thường xuyên với hiệu quả đích đáng.  Dọc theo các lối đi và đường lộ chính, phía Việt Nam đã sử dụng nhiều mìn nổ, cuộc tấn công bằng súng cối, và các cuộc phục kích khai hỏa trực tiếp từ các địa thế khống chế.  Chỉ sau khi gánh chịu các tổn thất nặng nề cho các đội hình mở đường của nó, các đơn vị QĐGPNDTQ mới có thể dựng lên một căn cứ hỏa lực đủ để di chuyển các lực lượng chống lại quân phòng vệ Việt Nam cố thủ tại các chiến hào. <sup>65</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium"><i>Chúng tôi đã sử dụng nhiều cuộc phục kích địa phương.  Chúng tôi đã dựa nhiều vào giới nông dân được vũ trang mà chúng tôi đã huấn luyện.  Đây là cuộc chiến tranh nhân dân.  Các lực lượng địa phương quân đã cung cấp sự phòng thủ chính yếu.  Các lực lượng chủ lực quân được giữ làm trừ bị.  Địa thế dồn các lực lượng QĐGPNDTQ vào các khe núi hẹp.  Họ không được huấn luyện và chưa sẵn sàng chiến đấu.  Họ đã chỉ phá hủy Lạng Sơn sau khi gánh chịu các tổn thất khổng lồ.</i> <sup>66</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Bất kể việc pháo kích dữ dội vào các vị trí của họ, dân quân Việt Nam đã phòng thủ một cách anh hùng các thị trấn biên giới then chốt tại Đồng Đăng, Cao Bằng, và Đồng Khê, khiến cho QĐGPNDTQ phải trả một giá đắt trước khi sau rốt chiếm cứ được chúng.  Sau khi tái tập hợp từ các sự tổn thất nặng nề tại các trận đánh đó, QĐGPNDTQ đã khởi sự điều đối với nó là trận đánh quyết định của chiến dịch, trận đánh chiếm Lạng Sơn.  Tác giả Harlan Jencks còn cung cấp sự tường thuật rõ ràng và cô đọng nhất về trận đánh đó:</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium"><i>Cuộc bao vây của Trung Quốc ở Lạng Sơn đã khởi sự hôm 27 Tháng Hai bằng một cuộc công kích của xe tăng và bộ binh, mở màn trước bằng một trận pháo kích ồ ạt vào cao điểm then chốt của Khấu Mã Sơn, phía bắc thành phố.  Trong những ngày theo sau, các đơn vị QĐGPNDTQ tới cấp trung đoàn đã tiến quân quanh các cạnh sườn của Lạng Sơn, thường giao chiến vào buổi tối và ở tầm gần cận.  Cuộc tấn công vào Lạng Sơn đã bắt đầu hôm 2 Tháng Ba, trong khi trận đánh giành một số cao điểm chung quanh đang tiếp diễn.  Ba ngày kế đó đã chứng kiến loại chiến đấu dữ tợn nhất, khi quân phòng thủ di chuyển từng ngôi nhà một, từng căn hầm một, và từng đường hào một.  “Sự thất thủ của Lạng Sơn” được tường thuật ngay từ ngày 27 Tháng Hai, và gần như hàng ngày sau đó.  Tân Hoa Xã đã công bố một ảnh chụp xác nhận sự chiếm đoạt hôm 3 Tháng Ba, nhưng sự giao tranh còn tiếp tục trong hai ngày nữa.</i> <sup>67</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Ngay sau khi sau rốt chiếm đoạt được Lạng Sơn hôm 5 Tháng Ba, Bắc Kinh đã tức thời loan báo rằng QĐGPNDTQ sẽ triệt thoái ra khỏi Việt Nam.  Trong hai tuần kế đó nó đã làm đúng như thế, tuyên bố rằng đã dạy cho Việt Nam bài học chủ định của nó.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Phần lớn các nhà quan sát Tây Phương cảm thấy bài học ở đường hướng khác, và rằng QĐGPNDTQ đã không tự chứng tỏ mình một cách mỹ mãn trong cuộc giao tranh.  Ngoài các vấn đề chiến thuật được nêu ra, sự chậm chạp của cuộc tấn công, và các số tổn thất này được tường thuật lên tới 25,000 người bị chết, các sự truyền tin giữa các đơn vị yếu kém, và trong nhiều trường hợp, QĐGPNDTQ đã dùng cờ để truyền tin giữa các trung đoàn. <sup>68</sup> Sự tiếp vận cũng bị trục trặc và đã hạn chế cuộc tiến quân của QĐGPNDTQ, khi các đơn vị chiến đấu đã phải phái lính bộ binh đi hàng chục dậm đường đến các căn cứ yểm trợ tại Trung Quốc hầu tái bổ sung thực phẩm căn bản và đạn dược.  Việt Nam có tường thuật rằng QĐGPNDTQ còn dùng cả ngựa để di chuyển quân dụng băng ngang biên giới.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Tuy nhiên, QĐGPNDTQ có phô bày một vài sức mạnh.  Thí dụ, nó đã biểu lộ một sự sẵn lòng thúc đẩy cuộc tấn công bất kể các sự tổn thất nặng nề.  Trong khi không chắc chắn về mặt chiến thuật, chiến lược tấn công với một tiểu đoàn nơi mà một đại đội bị thất bại, và với một trung đoàn nơi mà một tiểu đoàn bị thất bại, sau cùng đã dẫn đến sự chiếm đoạt năm tỉnh lỵ mục tiêu.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       QĐGPNDTQ đã thành công trong việc tập trung pháo binh của nó để hỗ trợ cho cuộc tấn công vào các vị trí cố định.  Trong khi bị hạn chế bởi các khó khăn về tiếp vận, pháo binh rõ ràng đã tạo ra một phần to lớn trong các số tổn thất của Việt Nam, được ước lượng có hơn 20,000 người bị chết.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       QĐGPNDTQ cũng đã tiếp tục sử dụng chiến tranh chính trị một cách hữu hiệu, nổi bật nhất bằng việc trang bị vũ khí cho một số nhóm dân tộc ít người có truyền thống kháng cự lại nhà cầm quyền Việt Nam.  Một số trong các người này bao gồm cả các người gốc Hoa đã từng chiến đấu chống lại Việt Minh trong Cuộc Chiến Tranh Đông Dương Thứ Nhất; nhưng phần lớn là dân miền núi đơn giản tìm cách duy trì các phương cách truyền thống của họ đối diện với sự xâm lấn văn hóa của Việt Nam. <sup>69</sup></span></p>
<p style="text-align: justify" align="center"><span style="font-size: medium"><b>Kết Cuộc</b></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Trong lúc có cuộc triệt thoái của Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình có tuyên bố rằng QĐGPNDTQ đã có thể đi trọn con đường tới Hà Nội nếu nó muốn làm như thế.  Các tướng lĩnh hàng đầu của QĐNDVN không đồng ý.  Họ vạch ra rằng QĐGPNDTQ đã không thi hành nhiệm vụ tốt và rằng QĐNDVN, được ủng hộ bởi một dân chúng Việt Nam đã được động viên, sẽ giáng cho QĐGPNDTQ một sự thất trận nghiêm trọng nếu nó di chuyển sâu hơn xuống phía nam.  Theo một tướng lĩnh cao cấp Việt Nam, Trung Quốc đã thua về mặt quân sự và đánh tháo lui vội vã: “Sau khi chúng tôi đã đánh bại họ, chúng tôi trải thảm đỏ cho họ rời khỏi Việt Nam”. <sup>70</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Phần lớn các tác giả Tây Phương đồng ý rằng Việt Nam trong thực tế đã giao chiến xuất sắc hơn QĐGPNDTQ trên chiến trường, nhưng nói rằng với sự chiếm đoạt được Lạng Sơn, QĐGPNDTQ đã cân nhắc về việc di chuyển vào địa hình thuận lợi hơn về mặt quân sự của Châu Thổ sông Hồng, và từ đó đến Hà Nội. <sup>71</sup> Các sĩ quan cao cấp QĐNVN tranh luận về sự xác quyết này.  Họ vạch ra rằng Lạng Sơn cách biên giới Trung Quốc chưa đầy 20 cây số, nhưng đường xuống tới vùng Châu Thổ còn gấp đôi đoạn đường đó.  Quốc Lộ số 1 từ Lạng Sơn xuôi nam chạy ngang qua một thung lũng được kẹp hai bên sườn bởi nhiều đồi núi cung cấp đầy cơ hội để phục kích.  Một khi tới Châu Thổ, địa hình tiếp tục thích hợp cho sự phòng thủ, với các tầm khai hỏa rộng mở cho quân phòng thủ đàng sau các bờ đê ruộng với đầy đủ cây cối để ẩn náu.  Hơn nữa, QĐGPNDTQ sẽ kéo dài một cách nguy hiểm các tuyến tiếp tế của nó bằng ngang một địa thế trong đó các lực lượng phi chính quy Việt Nam vẫn có thể phóng ra các cuộc tấn công nghiêm trọng, như đã được chứng tỏ bởi các cuộc đột kích của nó vào bên trong Trung Quốc trong trận đánh Lạng Sơn.  Vả lại, ít nhất năm sư đoàn QĐNDVN vẫn còn đang ở tư thế sẵn sàng phản công tại vùng Châu Thổ, và 30,000 binh sĩ QĐNDVN bổ túc từ Căm Bốt, cùng với vài trung đoàn từ Lào, đang di chuyển để hậu thuẫn cho chúng.  Sau cùng, dân chúng Việt Nam đã được động viên cho một cuộc “chiến tranh nhân dân” kéo dài. <sup>72</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Trong bất kỳ trường hợp nào, sự triệt thoái các binh sĩ Trung Quốc ra khỏi Việt Nam vào cuối Tháng Ba đã mang lại cho Hà Nội một sự nhẹ nhõm đáng kể.  Sự xây dựng các vị trí phòng thủ tại và chung quanh thủ đô được chấm dứt, và sự tái xây dựng Lạng Sơn và các thị trấn khác bị phá hủy bởi quân xâm lược đã khởi sự.  Sự triệt thoái cũng có nghĩa QĐGPNDTQ đã có thể tiếp tục duy trì áp lực trên Pol Pot, trong khi đám quân du kích lẩn trốn của ông ta, nhiều người trong số cán bộ của họ được huấn luyện bởi QĐNDVN tại trung tâm huấn luyện ở Hòa Bình, đã tìm cách vượt thoát mạng lưới của QĐNDVN quanh Phnom Penh và tiến vào một cuộc chiến tranh du kích kéo dài.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Tuy nhiên, sự triệt thoái của Trung Quốc đã không có nghĩa một sự chấm dứt cuộc xung đột biên giới.  Trong thập niên kế đó,  các đơn vị QĐNDVN, cùng với một lớp dân quân được tái huấn luyện và tái trang bị, bị buộc phải duy trì nhiều đến 800,000 người tại miền Bắc Việt Nam.  Các cuộc chạm súng thường xuyên tiếp tục diễn ra dọc biên giới, điển hình đi kèm bởi một cuộc pháo kích của pháo binh, tuần cảnh, và các cuộc tấn công nhỏ cách biên giới trong vòng vài cây số.   Đôi khi, việc nã trọng pháo của QĐGPNDTQ vào Việt Nam trở nên dữ dội, và một vài trận đánh quan trọng đã được giao tranh trong đó các đơn vị QĐGPNDTQ lớn đến cấp sư đoàn đã tham chiên.  Trong phần lớn trường hợp, quân phòng thủ Việt Nam đã tìm cách chống giữ các vị trí then chốt dọc biên giới, nhung các lực lượng QĐGPNDTQ đã có thể chiếm đoạt và nắm giữ trong một thời khoảng đáng kể ít nhất tám địa hình then chốt tại phía tây bắc của Hà Giang, gần con sông Lô lịch sử của Việt Nam chảy ngang qua Trung Quốc. <sup>73</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Các cuộc tấn công biên giới quan trọng của QĐGPNDTQ nói chung được ấn định thời điểm trùng hợp với hoạt động quân sự của Việt Nam tại Căm Bốt.  Vào cuối năm 1983, và lập lại trong năm 1984 và 1985, khi các binh sĩ Việt Nam đẩy mạnh các cuộc tấn công của họ đánh quân Khmer Đỏ đang chạy trốn tại các vùng biên giới Thái Lan &#8211; Căm Bốt, các lực lượng QĐGPNDTQ đã lập lại các cuộc tấn công dọc biên giới phía bắc của Việt Nam.  Trong mùa xuân 1984, và một lần nữa vào cuối năm đó, khi QĐNDVN đẩy mạnh các cuộc tấn công đánh vào các nơi ẩn náu của Khmer Đỏ ngay bên kia biên giới Thái Lan, QĐGPNDTQ đã phóng ra các cuộc tấn công nhiều sư đoàn được yểm trợ bởi hàng nghìn quả đạn trọng pháo.  Theo các nguồn tin Việt Nam, “Trung Quốc đã cảm thấy nó có thể đặt áp lực trên Việt Nam nhằm cấm chỉ áp lực của chúng tôi trên phe Khmer Đỏ, nhưng điều đó đã sai.  Áp lực của Trung Quốc đã không đưa đến bất kỳ lợi thế nào cho phe Khmer Đỏ”. <sup>74</sup> Theo các nhà ngoại giao Việt Nam đã hồi hưu, Trung Quốc cũng vẫn đang tìm cách làm suy yếu QĐNDVN:</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium"><i>Trung Quốc tiếp tục chính sách thù nghịch của nó đối với Việt Nam từ 1979 đến 1990.  QĐGPNDTQ đã phát động các cuộc tấn công nhỏ dọc theo biên giới và tạo ra các khó khăn trong một mưu toan làm suy yếu Việt Nam.  Từ 1985 trờ đi, Việt Nam đã muốn bình thường hóa các quan hệ, nhưng đã chỉ thành công vào năm 1991, bởi vì vào thời khoảng đó chúng tôi rút ra khỏi Căm Bốt, và bởi vì Hoa Kỳ và khối ASEAN đã thay đổi chính sách.</i> <sup>75</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Theo Bộ Ngoại Giao [Việt Nam], đã không có các sự trao đổi ở cấp cao cho đến năm 1989. <sup>76</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       <i>Trong năm 1989, chúng tôi bắt đầu các cuộc thuơng thảo ngoại giao về việc bình thường hóa các quan hệ.  Trong Tháng Một 1989 chúng tôi đã khởi sự các cuộc đàm phán tại Bắc Kinh ở cấp thứ trưởng ngoại giao.  Trong Tháng Mười Một 1991, Tổng Bí Thư và Bộ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam đã đến Bắc Kinh.  Các nhà lãnh đạo của hai nước đã đồng ý đặt quá khứ ở phía sau họ và hướng nhìn về tương lai, và để cải thiện và bình thường hóa các quan hệ phù hợp với các quyền lợi của cả hai dân tộc, và để phát huy hòa bình, hợp tác và phát triển.</i></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Chỉ khi đó, sau khi Việt Nam đã rút các lực lượng của nó ra khỏi Căm Bốt, hòa bình mới có thể khả hữu dọc biên giới phía bắc. <sup>77</sup></span></p>
<p style="text-align: justify" align="center"><span style="font-size: medium"><b>Nhìn Lại: Các Nguyên Nhân Tâm Lý Của Cuộc Xung Đột</b></span></p>
<p style="text-align: justify" align="center"><em><span style="font-size: medium">Các Sự Khẳng Định Của Việt Nam Về Sự Độc Lập Hoàn Toàn</span></em></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Trong năm 1975, Hà Nội đã ở trên cao độ.  Nó đã đánh bại một cách thành công “quân ngụy” ở miền nam, và đang giương cao ngọn cờ thắng lợi của “độc lập và tự do” trên một xứ sở thông nhất.  “Không gì quý hơn độc lập và tự do” đã là câu nói nổi tiếng của Hồ Chí Minh trên nóc các công thự và trên cửa miệng của các nhà lãnh đạo Việt Nam trong thời kỳ ngay sau chiến tranh. <sup>78</sup> Các sĩ quan cao cấp QĐNDVN đã lập lại câu nói này trong năm 1999, nói thêm rằng “lịch sử của Việt Nam là một lịch sử của cuộc đấu tranh giành độc lập”. <sup>79</sup> Một tướng lĩnh Việt Nam cao cấp đã tóm lược một cách cô đọng lập trường của Việt Nam: “Trong mười ba cuộc chiến tranh chính yếu suốt dòng lịch sử, chúng ta đã chặn đứng người Trung Hoa.  Bằng chứng là chúng tôi vẫn còn ở đây sau hai nghìn năm”. <sup>80</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Chống lại mọi điều bất lợi, Hà Nội đã đạt được “chính nghĩa” của nó.  Sau khi đánh bại cả người Pháp lẫn người Mỹ, nó đã sẵn sàng để bắt đầu tái xây dựng nền kinh tế tả tơi của nó và đứng lên như một kiểu mẫu phát triển cho Thế Giới Thứ Ba.  Nó đã không chịu đựng bất kỳ sự can thiệp nào từ Trung Quốc. <sup>81</sup> Tuy nhiên, trong sự nhiệt thành về vị thế mới của nó, Hà Nội đã không đánh giá đúng và giải tỏa được các sự nhậy cảm của Trung Quốc.  “Trung Quốc đã quan ngại bởi vì chúng tôi đã không phải quay trở lại với họ và khấu đầu (kow tow)”, một nhân vấn Việt Nam có nói.  “Trung Quốc đã bán đứng Việt Nam tại Hội Nghị Geneva năm 1954, và đã điều đình với Hoa Kỳ trong Cuộc Chiến Tranh chống Mỹ [tức Chiến Tranh Việt Nam] để cho phép dội bom Việt Nam Dân Chủ Công Hòa (VNDCCH).   Sau Chiến Tranh chống Mỹ, Trung Quốc chỉ tìm cách để tái khẳng quyết sự kiểm soát của nó và chúng tôi đã không nhìn nhận nó đúng lúc.  Chúng tôi đã phạm các lỗi lầm trong đường hướng của chúng tôi đối với Trung Quốc”. <sup>82</sup></span></p>
<p style="text-align: justify" align="center"><em><span style="font-size: medium">Các Quan Điểm Của Việt Nam Về Các Sự Kỳ Vọng Của Trung Quốc</span></em></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Các nhận thức của Việt Nam về chính họ như một dân tộc, và đặc biệt trong vai trò mới của họ như một gương mẫu cho cuộc tranh đấu của các nước Thế Giới Thứ Ba giành độc lập và phát triển kinh tế, mâu thuẫn một cách rõ rệt với các quan điểm của Trung Quốc.  Trước tiên, theo phía Việt Nam, Trung Quốc cảm thấy Việt Nam mắc nợ nó tiếp theo sau các năm có sự ủng hộ của Trung Quốc cho cuộc “cách mạng”.  Trung Quốc đã trợ giúp cho phe Việt Minh luu vong, cung cấp các trang bị trọng yếu cho cuộc chiến thắng tại Điện Biên Phủ, đã cung cấp một “hậu cứ to lớn” cho việc huấn luyện và tiếp vận trong cả hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, và đã đóng góp các xe vận tải, các vũ khí nhỏ, và năm mươi nghìn binh sĩ cho cuộc chiến tranh chống Mỹ.  Có lẽ điều quan trọng nhất cho sự chiến thắng của Hà Nội là sự ủng hộ của Trung Quốc đã thuyết phục Hoa Thịnh Đốn rằng bất kỳ cuộc tấn công trên đất liền nào đánh vào Bắc Việt Nam sẽ đưa đến việc tham gia của các chí nguyện quân Trung Quốc vào cuộc chiến tranh. <sup>83</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Thứ nhì, Trung Quốc đã cảm thấy rằng Việt Nam phải tham khảo với Trung Quốc trên các vấn đề quốc phòng và chính sách ngoại giao quan trọng.  Theo một nhà nghiên cứu cao cấp tại Hà Nội, Trung Quốc đã muốn biến Việt Nam thành một thuộc địa và kiểm soát chính sách ngoại giao và quốc phòng của Việt Nam.  Điều này đặc biệt đúng khi liên quan đến Đông Nam Á, nơi mà Bắc Kinh đã nhìn vai trò tương lai của nó như lấp đầy khoảng trống được để lại bởi sự triệt thoái của Mỹ.  Trong khi các sự căng thẳng song phương phát sinh với Việt Nam, Trung Quốc đã đóng vai trò “kẻ bảo vệ” cho các nước Đông Nam Á chống lại Việt Nam trong một nỗ lực làm gia tăng ảnh hưởng cấp vùng của nó.  Theo phía Việt Nam, Trung Quốc đã muốn là không có quyết định quốc phòng hay chính sách ngoại giao quan trọng nào sẽ được lấy mà không có sự tán đồng của Trung Quốc. <sup>84 </sup>          </span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Thứ ba và quan trọng nhất, Bắc Kinh đã tìm cách tái khẳng quyết tham vọng đế quốc trong nhiều thế kỷ của nó để kiểm soát Việt Nam xuyên qua một mối quan hệ cha con kiểu Khổng học.  Một sĩ quan cao cấp của QĐNDVN có trích dẫn một câu nói của một hoàng đế Trung Hoa về vấn đề này: “Trong ngôi nhà của chính bạn, bạn không thể vứt bỏ chính sách trừng trị các đưa con của chính bạn”.  Tương tư, theo lời ông ta, “Bắc Kinh đã không thể bỏ sang một bên chính sách phóng ra chiến tranh đánh Việt Nam.  Nó chỉ có vấn đề đánh như thế nào”. <sup>85</sup>  Một viên chức Việt Nam khác nói rằng Trung Quốc có một cái nhìn từ lâu về Việt Nam như “một đứa con hỗn hào tại ranh giới phía nam của nó.  Cuộc tấn công của nó đã tìm cách cưỡng hành các quan điểm Trung Quốc được gìn giữ sâu đậm về chủ quyền của nó trên Việt Nam”.  Trích dẫn một ngạn ngữ Trung Hoa cổ xưa, ông ta nói;” “Cơn lạnh lẽo của một ngày duy nhất không thể làm đông đặc một dòng sông sâu ba bộ Anh (feet) (nói rõ hơn, Trung Quốc đã không thể trở nên thù nghịch với Việt Nam chỉ qua một đêm). <sup>86</sup></span></p>
<p style="text-align: justify" align="center"><span style="font-size: medium"><b>Các Bài Học Lĩnh Hội Được</b></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Trong khi điều được công nhận một cách tổng quát rằng Việt Nam đã dạy cho Trung Quốc một bài học quân sự trong năm 1979, điều cũng đúng không kém là Trung Quốc đã dạy cho Việt Nam một bài học chính trị.  Bài học đầu tiên mà Việt Nam học được là Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực khi cần thiết để đạt được các mục tiêu chính trị quan trọng, bất kể các lời tuyên bố trong quá khứ về nguyên tắc.  Một viên chức Việt Nam đã giải thích bài học này như sau: “Bất kể ‘sự sông chung hòa bình’, CHNDTQ sẽ lượng định tình hình, và khi ở vào đúng thời cơ, sẽ lợi dụng các cơ hội để tiến đánh cho các mục tiêu chính trị”. <sup>87</sup>  Một viên chức khác đã bác bỏ bất kỳ khái niệm nào về một ý thức hệ chính trị chung của Trung Quốc – Việt Nam: “Lập trường ý thức hệ của Trung Quốc không có nghĩa gì cả.  Trước khi có cuộc chiến, chúng tôi đã tin tưởng nơi chủ nghĩa quốc tế vô sản.  Sau cuộc chiến, chúng tôi nhận thấy các quyền lợi quốc gia của Trung Quốc là trên hết.  Chủ nghĩa quốc tế vô sản là một phần trong hành lý ý thức hệ của Việt Nam”. <sup>88</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Bài học thứ nhì các viên chức Việt Nam lĩnh hội được rằng Trung Quốc nhiều phần sẽ chỉ viện dẫn đến vũ lực khi nó chắc chắn rằng nó sẽ không bị đánh bại và khi nó biết rằng QĐGPNDTQ sẽ không phải nhận các sự tổn thất nặng nề.  Với các tiền lệ quân sự lịch sử khác, số ước lượng được trưng dẫn ttrước đây về 25,000 binh sĩ QĐGPNDTQ bị chết trong khi hoạt đông có thể có nghĩa ít nhất 50,000 người khác chịu tổn thương nghiêm trọng, cho một tổng số 75,000 tổn thất trên một lực lượng xâm lăng  khoảng 100,000 quân.  Trung Quốc chắc chắn lấy làm kinh ngạc về các sự tổn thất mà nó phải gánh chịu ở Việt Nam, và có thể đã lùi lại khỏi các cuộc tấn công thêm nữa ít nhất một phần nhằm tránh các sự tổn thất bổ túc.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Thứ ba, Trung Quốc nhiều phần sẽ chỉ sử dụng vũ lực khi nó nhân thấy tình trạng đã hoàn toàn chín mùi.  Điều này đòi hỏi sự phân tích tình hình quốc tế liên hệ &#8212; cuộc tấn công năm 1979 được phán đoán là thuận lợi bởi Bắc Kinh đã ước tính rằng LBSV sẽ không can thiệp và QĐNDVN bị buộc chân tại một mặt trận thứ nhì ở Căm Bốt.  Sự phân tích của Trung Quốc trải rộng cho đến sự ấn định thời biểu chính xác của cuộc tấn công: nó sẽ theo sau sự bình thường hóa với Hoa Kỳ nhưng đi trước các trận mưa to theo gió mùa đổ xuống miền bắc Việt Nam bắt đầu trong mùa xuân.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Thứ tư, phía Việt Nam bị phân hóa về việc QĐGPNDTQ đã hoạch định và chuẩn bị cuộc tấn công năm 1979 trong bao lâu.  Các vị chỉ huy quân đội có khuynh hướng tin tưởng rằng Trung Quốc đã không hoạch định cuộc tấn công từ rất lâu bởi một cách đơn giản QĐGPNDTQ thật là quá thiếu chuẩn bị để chiến đấu.  Tuy nhiên, các nguồn tin ngoại giao nhấn mạnh rằng cuộc tấn công có mưu tính trước.  Một cựu viên chức ngoại giao Việt Nam cao cấp có nói “chúng tôi giờ đây hay biết họ đã chuẩn bị tấn công chúng tôi trong một thời gian dài, tương tự như tất cả các cuộc chiến tranh khác mà Trung Quốc đã tham dự ngoại trừ tại Triều Tiên.  Trong tất cả các cuộc chiến tranh khác – Triều Tiên, Tây Tạng, Ấn Độ, LBSV, chống lại người Mỹ tại Việt Nam &#8211; chỉ có Triều Tiên là không được hoạch định trước”. <sup>89</sup> Chính vì thế, trong khi bài học cho giới quân sự là một cuộc tấn công có thể xảy ra đột ngột, các nhà ngoại giao nhìn thấy một thời kỳ đáng kể của sự chuẩn bị cần thiết trong đó họ có thể kỳ vọng để nhìn thấy các sự cảnh báo chính trị.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Thứ năm, mọi người Việt Nam đều đồng ý rằng viễn ảnh một sự kháng chiến mạnh mẽ của Việt Nam đã là yếu tố giới hạn trong cuộc tấn công của Trung Quốc.  Việt Nam hứa hẹn sẽ giao chiến đến cùng.  “Các cha ông chúng tôi, chỉ dùng cung tên, các con voi, các con ngựa, dao và kiếm, đã đập tan nhiều đội quân của các kẻ xâm lược thuộc nhà Nam Hán, nhà Tống, Nguyên-Mông, và nhà Thanh Mãn Châu.   Giờ đây [1979] QĐNDVN với các vũ khí tương đối hiện đại chắc chắn sẽ đánh bại các kẻ bành trướng  Đại Hán tại Bắc Kinh”. <sup>90</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Thứ sáu, Việt Nam lĩnh hội được là đừng ỷ vào các đại cường.  Trong khi ca ngợi sự trợ giúp của Sô Viết vào lúc đó, Việt Nam rõ ràng đã thất vọng về mức độ của các sự trợ giúp như thế.  Một cựu viên chức chính phủ có nói thông điệp mà Trung Quốc tìm cách chuyển đi là: “Chúng tao có thể trừng phạt mày bất kỳ khi nào, ngay cả khi mày liên minh với một đại cường.  Mày không thể chạy trốn được tư thế địa chính trị của mày như một nước triều cống”. <sup>91</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Thứ bảy, đối với nhiều người Việt Nam, bài học chính yếu của năm 1979 là Trung Quốc sẽ không cho phép sự độc lập hoàn toàn của Việt Nam.  “Thái độ của Trung Quốc, như được phản ảnh trong “việc dạy cho Việt Nam một bài học”, có gốc rễ trong văn hóa chính trị Trung Quốc của mối quan hệ của Vương Quốc Trung Tâm với các nước triều cống.  Loại bài học mà Trung Quốc đã tìm cách để truyền đạt là “ mày không thực sự độc lập”. <sup>92</sup></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">       Sau cùng, mọi người Việt Nam đều đồng ý rằng việc đối phó với Trung Quốc sẽ là vấn đề khó khăn nhất đối diện dân tộc họ trong thế kỷ thứ hai mươi mốt: “Chúng tôi đã phải giao tranh mười ba cuộc chiến tranh lớn với Trung Quốc trong lịch sử chúng tôi.  Tổ tiên chúng tôi đã biết cách chống trả Trung Quốc và chúng tôi phải chuẩn bị giống như thế.  Tổ tiên chúng tôi cũng đã phải thực hiện các biện pháp để loại trừ chiến tranh, và chúng tôi phải có các biện pháp tương tự trong tương lai”. <sup>93</sup> Và, “Chúng tôi phải học để sống với lân bang to lớn của chúng tôi.  Chúng tôi giờ đây có một mối quan hệ nhiều mặt với Trung Quốc, và đã tăng cường mọi khía khía cạnh của các quan hệ của chúng tôi.  Chính sách của chúng tôi là tìm các phương cách để sống chung với Trung Quốc” [sic]. <sup>94</sup>   </span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: medium">__</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small"><strong>CHÚ THÍCH</strong></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">1. “He who sows the wind will reap the whirlwind” [“Kẻ gieo gió sẽ gặt bão”], <i>Quân Đội Nhân Dân</i>, từ giờ trở đi viết tắt là <i>QĐND</i>, Hà Nội, <i>Việt Nam Thông Tấn Xã</i> (Viêtnam News Agency: VNA), 18 Tháng Hai, 1979, như được tường thuật trong bản tin của <i>Foreign Broadcast Information Service</i> (Sở Thông Tin Đài Phát Thanh Ngoại Quốc), Washington D. C., (từ giờ trở đi viết tắt là <i>FBIS</i>), các trang K25, K28.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">2.  Đúng thực có cả hàng nghìn quyển sách và bài viết đề cập đến các biến cố này; quyển <i>The Two Vietnams: A Political and Military Analysis</i> (New York: Praeger, 1967) của Bernard Fall và quyển <i>The Lost Crusade: America in Vietnam của Chester Cooper</i> (New York: Dodd, Mead, 1970) vẫn nổi bật trong số các tác phẩm hay nhất.  Các phi công Hoa Kỳ bị cấm không được dội bom trong vòng hai mươi lăm dậm của biên giới Trung Quốc; các cuộc thảo luận của tác giả với các phi công của Hải Quân Hoa Kỳ và Không Quân Hoa Kỳ.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">3. Người ta có thể lập luận rằng chiến tranh Hoa Kỳ bắt đầu với sự du nhập các đơn vị chiến đấu Mỹ trong năm 1965 và kết thúc với sự triệt thoái chúng vào năm 1973.  Tuy nhiên, thời khoảng được lựa chọn ở đây đi theo điều được tìm thấy trên Bức Tường Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam tại Hoa Thịnh Đốn.  Nó bao gồm thời kỳ cố vấn trước năm 1965 và một thời kỳ ủng hộ về quân dụng và kỹ thuật của Hoa Kỳ sau các Hiệp Định Paris năm 1973.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">4. Phỏng vấn với nhà nghiên cứu cao cấp và một cựu đại sứ Việt Nam, Hà Nội, 1999 (từ giờ trở đi, viết tắt là <i>cựu đại sứ Việt Nam</i>).</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">5. Muốn có một cuộc thảo luận về “Bản Chúc Thư Cuối Cùng” của Hồ Chí Minh, xem Thái Quang Trung, <i>Collective Leadership and Factionalism: An Essay on Ho Chi Minh’s Legacy</i> (Singapire: Institute of Southeast Asian Studies, 1985).</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">6. <i>Cựu đại sứ Việt Nam</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">7. <i>Cùng nơi dẫn trên</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">8. Phỏng vấn với các nhà nghiên cứu cao câp, Bộ Ngoại Giao (BNG), Hà Nội, 1999 (từ giờ trở đi viết tắt là <i>các nhà nghiên cứu cao cấp (BNG).</i></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">9. Phỏng vấn với các thượng tá của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, Hà Nội, 1999 (từ giờ trở đi viết tắt là <i>các thượng tá QĐNDVN</i>).</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">10. Phỏng vấn với cựu nhân viên ngoại giao Việt Nam cao cấp, Hà Nội, 1999 (từ giờ trở đị gọi tắt là <i>nhân viên ngoại giao cao cấp</i>).  Các cuộc tấn công vào các làng xã Việt Nam dọc theo biên giới được kiện chứng rất đầy đủ bởi tác giả Nayan Chanda trong quyển sách tuyệt hảo của ông ta, <i>Brother Enemy: The War After The War</i> (San Diego: Harcourt Brace Jovanovich, 1986).</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">11. Phỏng vấn với các nhà nghiên cứu cao cấp, Học Viện Quan Hệ Quốc Tế (HVQHQT), Hà Nội, 1999 (từ giờ trở đi, viết tắt là <i>HVQHQT</i>).  </span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">12. Phía Việt Nam đề cập đến chiến lược này là dang [đánh?] nam ra bắc, “đánh phương nam và đi ra phương bắc”, có nghĩa điều cần thiết trong suốt dòng lịch sử là phải bảo toàn sườn phía nam của Việt Nam trước khi đối đầu với Trung Quốc.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">13. <i>Các Thượng Tá QĐNDVN</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">14. <i>Nhân viên ngoại giao cao cấp</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">15. <i>Các Thượng Tá QĐNDVN</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">16. <i>Các nhà nghiên cứu cao cấp, HVQHQT</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">17. <i>Nhân viên ngoại giao cao cấp</i>; sự giải thich này mâu thuẫn với quan điểm quân sự cao cấp rằng QĐGPNDTQ lo sợ các đơn vị QĐNDVN ưu tú đã là lý do áp đảo khiến cho QĐGPNDTQ không tiến sâu hơn vào Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">18. <i>Cùng nơi dẫn trên</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">19. <i>Các nhà nghiên cứu cao cấp, BNG</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">20. Phỏng vấn với cựu nhân viên ngoại giao cao cấp và các sĩ quan cao cấp QĐNDVN, 1999.  Các lời bình luận này dĩ nhiên đã bỏ quên một cách thuận tiện sự đề cập đến các khó khăn biên giới nghiêm trọng chưa được giải quyết của Trung Quốc vào lúc đó với LBSV.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">21. Phỏng vấn với tướng lĩnh QĐNDVN, Hà Nội, 1999 (từ giờ trở đi, gọi tắt là <i>tướng lĩnh QĐNDVN</i>).</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">22. Phỏng vấn với các phụ khảo của Bộ Ngoại Giao, Hà Nội, 1999.  Các nhà nghiên cứu Việt Nam nhấn mạnh nhiều lần nhu cầu về kỹ thuật và tư bản như động lực chính yếu của Trung Quốc trong việc tìm kiếm sự hòa hoãn với Hoa Kỳ.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">23<i>. Các Thượng Tá QĐNDVN</i> và <i>tướng lĩnh QĐNDVN</i>.  Henry Kissinger được nói có nhận xét: “<i>Chúng ta sắp được nhìn các Anh Em Đỏ đánh nhau</i>”.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">24. <i>Các sĩ quan cao cấp QĐNDVN</i>, 1999.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">25. <i>Các nhà nghiên cứu Việt Nam</i> và <i>cựu đại sứ Việt Nam</i>.  Trung Quốc đã sẵn chiếm cứ phần phía đông của Quần Đảo Hoàng Sa, nhưng trong năm 1974 đã đanh đuổi binh sĩ Nam Việt Nam ra khỏi phân nửa phía tây của quần đảo.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">26. Phỏng vấn với các cựu viên chức và các viên chức tại chức của Bộ Ngoại Giao, Hà Nội, 1999.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">27. <i>Các viên chức Bộ Ngoại Giao</i>, Hà Nội, 1999.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">28. <i>Các nhà nghiên cứu cao cấp, BNG</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">29. <i>Cựu đại sứ Việt Nam</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">30. <i>Các Thượng Tá QĐNDVN</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">31. <i>Các nhà nghiên cứu cao cấp, HVQHQT</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">32. <i>Đài Phát Thanh Hà Nội</i>.  “Các nhà cầm quyền Ngăn Cấm Các Bản Tường Thuật của Các Công Dân Về Chiến Tranh”, 21 Tháng Hai, 1979, <i>FBIS</i>, 21 Tháng Hai, trang K21.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">33. Giác Thư Bộ Ngoại Giao Về Các Sự Thù Nghịch Của CHNDTQ, 14 Tháng Hai, 1979, <i>FBIS</i>, 15 Tháng Hai, trang K2.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">34. <i>Viên chức Bộ Ngoại Giao</i>, Hà Nội, 1999.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">35. Xem Chanda, <i>Brother Enemy</i>, 1986, các trang 231-47.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">36. Các viên chức Bộ Ngoại Giao đã viện dẫn câu chuyện chuyến tàu như một thí dụ về sự can thiệp của Trung Quốc vào các công việc nội bộ của Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">37. Pao-min Chang, <i>The Sino-Vietnamese Territorial Dispute</i> (New York: Praeger, 1986), các trang 11-12.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">38. <i>Các Thượng Tá QĐNDV</i>N.  Các sĩ quan QĐNDVN đã nhận xét một cách tình cờ rằng LBSV trợ lực việc xúi bẩy cuộc Chiến Tranh Triều Tiên nhằm tạo hố phân cách sâu xa giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">39. <i>Cùng nơi dẫn trê</i>n; và Pao-min Chang, <i>The Sino-Viêtnamese Territorial Dispute</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">40. <i>Nhân viên ngoại giao cao cấp</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">41. Gặp gỡ với các viên chức Bộ Ngoại Giao tại Hà Nội, Tháng Mười 1993.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">42. <i>Viên chức Bộ Ngoại Giao,</i> Hà Nội, 1999.  Trong năm 1947, Trung Hoa đã vẽ đường chín vạch bỉ ổi trên bản đồ Biển Nam Hải của nó, để chỉ sự kiểm soát bất kỳ khu vực hải đảo nào được vây quanh trong đó.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">43. Pao-min Chang, <i>The Sino-Vietnamese Territorial Dispute</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">44. <i>Cùng nơi dẫn trên</i>; và <i>The Daily Telegraph</i>, “Soviet Warships Heading for Cam Ranh Bay”, London, 9 Tháng Hai, 1979, <i>FBIS</i>, 9 Tháng Hai, trang K1.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">45. Gặp gỡ với các chuyên viên Việt Nam về các vấn đề an ninh, Hà Nội, Tháng Một 1999.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">46. <i>Cùng nơi dẫn trên</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">47. <i>Đài Phát Thanh Hà Nội</i>, 6, 9, và 14 Tháng Hai, 1979, FBIS, 7 Tháng Hai, trang K1, ngày 9 Tháng Hai, trang K9, và ngày 15 Tháng Hai, trang K1.  Các sự việc bắt đầu gia tăng khi Hà Nội tiến xuống và sau đó đạt được thắng lợi tại Nam Việt Nam.  Hà Nội đã tường thuật 179 vụ trong năm 1974, 294 vụ trong năm 1975, 812 vụ trong năm 1976, và 873 vụ trong năm 1977.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">48. <i>Thông Tấn Xã Việt Nam</i>, 1 Tháng Hai, 1979.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">49. <i>Tướng lĩnh QĐNDVN</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">50. Hà Nội, <i>Thông Tấn Xã Việt Nam</i>, “SRV Defies Economic ‘Trilateral’ Washington-Peking Axis”, và “QĐND Tố Cáo CHNDTQ về các sự vi phạm biên giới”, 1 Tháng Hai, 1979, <i>FBIS</i>, các trang K1-5.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">51. <i>Các Thượng Tá QĐNDVN</i>; và <i>Đài Phát Thanh Hà Nội</i>, 6 Tháng Hai, 1979, <i>FBIS</i>, 7 Tháng Hai, trang K1.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">52. <i>Đài Phát Thanh Hà Nội</i>, “Các Vụ Đột Nhập Vũ Trang của CHNDTQ được tường thuật”, 5 Tháng Hai, 1979, <i>FBIS</i>, trang K1.  Các binh sĩ Trung Quốc đã dùng dao và rìu để khai quang các khu rừng, hủy hoại thảo mộc, và tháo gỡ và di chuyển các cột mốc biên giới.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">53. <i>Đài Phát Thanh Hà Nội</i>, 13 Tháng Hai, 1979 và Tuyên Bố Của Bộ Ngoại Giao, 14 Tháng Hai, 1979, như được tường thuật trong <i>FBIS</i>, trang K1.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">54. <i>Đài Phát Thanh Hà Nội</i>, “Các Nhà Cầm Quyền Bắc Kinh Đang Gia Tăng Khiêu Khích và Đe Dọa Chiến Tranh”, 13 Tháng Hai, 1979, <i>FBIS</i>, trang K4.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">55. <i>Tướng lĩnh QĐNDVN</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">56. Trích dẫn đầu tiên từ một nhà nghiên cứu Việt Nam tại Học Viện Quan Hệ Quốc Tế, trích dẫn thứ nhì từ một viên chức của Bộ Ngoại Giao, Tháng Một, 1979.  </span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">57. Sự tin tưởng này rất có thể phát sinh từ các cảm nghĩ của Hà Nội về phong trào phản chiến mạnh mẽ tại Hoa Kỳ trong thời gian Chiến Tranh Việt Nam, <i>Tướng lĩnh QĐNDVN</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">58. David Bonovia, <i>Far Eastern Economic Review (FEER)</i>, (9 Tháng Ba, 1979). 12.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">59. Harlan W. Jencks, “China’s ‘Punitive’ War on Vietnam: A Military Assessment”, <i>Asian Survey</i> 19 (August 1979), 807, và Russell Spurr, <i>FEER</i>, “Holding Back the Angry Giant” (9 Tháng Ba, 1979), 14-15.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">60. <i>Đài Phát Thanh Hà Nội</i>, 14 Tháng Hai, 1979, <i>FBIS</i>, 15 Tháng Hai, trang K2.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">61. Russell Spurr, <i>FEER</i> (2 Tháng Ba, 1979), 10.  Cũng xem King C. Chen, <i>China’s War with Vietnam, 1979: Issues, Decisions and Implications</i> (Stanford: Hoover Institution Press, 1987).</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">62. <i>Guang Jiao Jing</i>, Hong Kong, số 78, 16 Tháng Ba, 1979 (như được tham chiếu trong bài của tác giả Jencks, “China’s War with Vietnam”, các trang 807-8, có trích dẫn một con số là 80,000, nhưng tác giả Nayan Chanda, viết trong tờ <i>FEER </i>một tuần sáu đó, trích dẫn sự phân tích tình báo Tây Phương khi ước lượng con số là 125,000 người.  Cũng xem, Bonovia, <i>FEER</i> (9 Tháng Ba, 1979), 12.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">63. <i>Cựu đại sứ Việt Nam</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">64. Phỏng vấn với Đại Tá Edward O’Dowd, cựu Tùy Viên Quân Sự, Tòa Đại Sứ Mỹ tại Hà Nội, 1999, và với các sĩ quan Việt Nam và Pháp đã đánh lẫn nhau trên địa hình này trong cuộc Chiến Tranh Đông Dương Thứ Nhất, 1946-54.  Cũng xem, B. P. Mahony, <i>Nha Tình Báo Cảnh Sát Liên Bang Úc Đại Lợi</i>, “Sino-Vietnamese Security Issues: Second Lesson Versus Stalemate”, 12 Tháng Năm, 1986.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">65. <i>Các Thượng Tá QĐNDVN</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">66. Phỏng vấn với tướng lĩnh QĐNDVN đã hiện diện tại trận đánh, Hà Nội, 1999.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">67. Jencks, “China’s War on Vietnam”, trang 811.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">68. Phỏng vấn với các thông tín viên Nhật Bản, hãng thông tấn <i>Kyodo News </i>và tờ <i>Asahi Shimbun</i>, Tháng Tư, 1979.  Các con số tổn thất từ cả hai bên đáng ngờ vực, nhưng các quan sát viên Tây Phương nói chung đồng ý rằng QĐGPNDTQ đã có khoảng 20,000 đến 30,000 người bị chết.  Trong một luận án tiến sĩ được kiện chứng một cách kỹ lưỡng, tác giả Paul Marks có ước lượng số quân nhân bị chết trong khi hoạt động của QĐGPNDTQ là 26,000 người.  Paul Marks, “The Sino-Vietnamese War of 1979 and China’s Military Modernization” (Luận án tiến sĩ chưa được ấn hành, Far East Department, School of Oriental and African Studies, University of London, 30 Tháng Chín, 1988).</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">69. Các tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn gồm nhiều người Nùng.  Nhóm chủng tộc Trung Hoa [sic] này trước tiên đã đánh nhau với Việt Minh và sau đó một số người Nùng đã chạy trốn trong năm 1954 xuống Miền Nam Việt Nam nơi họ sau này đã phục vụ sát cánh với Lực Lượng Đặc Biệt và Lực Lượng tinh nhuệ Delta Force của Lục Quân Hoa Kỳ.  Nhiều quân nhân chuyên nghiệp đã xem họ là những chiến sĩ giỏi giang nhất của cuộc chiến.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">70. <i>Các Thượng Tá QĐNDVN; tướng lĩnh QĐNDVN</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">71. Thí dụ, tác giả Jencks đã viết rằng sự chiếm đoạt Lạng Sơn đã mở con đường tiến vào Châu Thổ Sông Hồng (“China’s War on Vietnam”, trang 813), nhưng ông thừa nhận rằng QĐGPNDTQ sẽ phải nhận lãnh các sự tổn thất khổng lồ trong bất kỳ sự chuyển động nào tới Hà Nội.  Muốn có sự lượng giá hơn nữa về đề tài này, xem Ann Gilkes, <i>The Breakdown of the Sino-Vietnamese Alliance, 1970-1979</i> (Berkeley: Institute of East Asian Studies, University of California, 1992), và Douglas Pike, <i>Vietnam and China</i> (Lubbock, TX|: Vietnam Center, Texas Tech University, 1998).</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">72. Phỏng vấn với tướng lãnh và nhân viên cao cấp của QĐNDVN, Hà Nội, 1999.  Cũng xem Russell Spurr, <i>FEER</i>, 2 Tháng Ba, 1979, trang 10.  30,000 binh sĩ QĐNDVN được tường thuật đã được không vận từ Căm Bốt lên vùng Châu Thổ miền bắc trong khi nhiều trung đoàn QĐNDVN di chuyển từ Lào vào tỉnh Lào Cai; <i>AFP</i>, Hông Kông, 23 Tháng Hai, 1979.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">73. Tác giả B. P. Mahony có một sự phân tích tuyệt hảo về các trận đánh này trong bài “Sino-Vietnamese Security Issues: Second Lesson Versus Stalemate”.  Địa thế Sông Lôtrong các truyền kỳ nổi tiếng của Việt Nam, như được thấy, thí dụ, trong tác phẩm Ai Biết Sông Lô.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">74. Phỏng vấn với tướng lĩnh Việt Nam cao cấp, Hà Nội, 1999.  Tác giả đã ở Hà Nội trong năm 1984 và có thể chứng thực rằng sự lưu thông xe chở hàng duy nhất trong thành phố là của quân đội, hoặc hướng đên hay trở về từ mặt trận phương bắc.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">75. <i>Cựu đại sứ Việt Nam</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">76. Phỏng vấn vơi viên chức ngoại giao cao cấp của Bộ Ngoại Giao, Hà Nội, 1999.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">77. Từ 1989 đến 1991, có các sự tường thuật rằng vài trăm “cố vấn” Việt Nam vẫn còn ở lại tại Căm Bốt.  Cũng có ít cuộc tấn công riêng rẽ của QĐGPNDTQ dọc theo biên giới phía bắc cho đến 1991.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">78. Các nhận xét của tác giả từ các buổi gặp mặt với Thủ Tướng Phạm Văn Đồng, Bộ Trưởng Ngoại Giao Trường Trinh [? Nguyễn Duy Trinh], và các viên chức khác của chính phủ Việt Nam tại Hà Nội, Tháng Mười Hai, 1975.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">79. <i>Các thượng tá QĐNDVN</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">80. <i>Cùng nơi dẫn trên</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">81. Không cần để giải thích từ ngữ “can thiệp: interference”.  Hồ Chí Minh đã mô tả nó một cách giản dị trong quyết định của ông ta không chấp nhận các chí nguyện quân Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Đông Dương Thứ Nhất: “Thà rằng ngửi phân Pháp trong ít năm còn hơn cứt Tàu trong nhiều thế hệ”, phỏng vấn của tác giả với các viên chức chính phủ, Hà Nội, 1975.  Tầm quan trọng của “chính nghĩa: just cause” như động lực thúc đẩy của Hà Nội trong Cuộc Chiến Tranh Với Mỹ không thể bị nhấn mạnh một cách thái quá.  Các từ ngữ [just cause] là sự phiên dịch từ ngữ Việt Nam <i>chính nghĩa</i>, có nghĩa “ý nghĩa vĩ đại của cuộc sống: the great meaning of life” [sic, sự giải thích có phần chưa được chính xác, chú của người dịch].  Thực hiện được một Việt Nam độc lập, thống nhất chính là <i>chính nghĩa</i> này.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">82. <i>Các nhà nghiên cứu cao cấp, HVQHQT</i>.  Dĩ nhiên, Trung Quốc đã có các lý do bổ túc cho sự ủng hộ của nó một Việt Nam bị phân chia trong năm 1954, bao gồm đường lối chính sách của nó về sự chung sống hòa bình và quan ngại về sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">83. Theo cựu Thủ Tướng Nam Việt Nam Nguyễn Cao Kỳ, việc này đã quyết định số phận của Nam Việt Nam.  Ông đã so sánh cuộc chiến tranh với một trận đấu banh bầu dục (football) trong đó bên Hoa Thịnh Đốn – Sàigòn không được phép vượt qua lằn ranh năm mươi thước Anh (yards).  Các cuộc thảo luận tại West Point, New York, 1972.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">84. Phỏng vấn với một nhà nghiên cứu cao cấp và một viên chức của Bộ Ngoại Giao, Hà Nội, Tháng Một, 1999.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">85. Sĩ quan cao cấp QĐNDVN.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">86. Phỏng vấn với viên chức cao cấp thuộc Bộ Ngoại Giao, Hà Nội, 1999.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">87. <i>Các nhà nghiên cứu cao cấp, BNG</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">88. <i>Cùng nơi dẫn trên</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">89. <i>Cựu đại sứ Việt Nam</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">90. QĐND, “Cương Quyết Đánh Bại Cuộc Chiến Tranh Xâm Lược Phát Động Bởi Bọn Bành Trướng Bắc Kinh”, 17 Tháng Hai, 1979, <i>FBIS</i>, 18 Tháng Hai, trang K13.  Cũng xem, <i>Đài Phát Thanh Hà Nội</i>, 23 Tháng Hai, 1979, <i>FBIS</i>, 23 Tháng Hai, trang K8.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">91. <i>Cựu đại sứ Việt Nam.</i></span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">92. <i>Các nhà nghiên cứu cao cấp, HVQHQT</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">93. <i>Cùng nơi dẫn trên</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">94. <i>Tướng lĩnh QĐNDVN</i>./-   </span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">____</span></p>
<p style="text-align: justify"><span style="font-size: small">Nguồn: <b>Henry J. Kenny</b>, Vietnamese Perceptions of the 1979 War with China, <i>Chinese Warfighting: The PLA Experience Since 1949</i>, đồng biên tập bởi Mark A. Ryan, David Michael Frakelstein, Michael A. McDevitt, Chapter 10, các trang 217-241.</span></p>
<p class="facebook"><a href="http://www.facebook.com/share.php?u=http://phiatruoc.info/cac-nhan-thuc-cua-viet-nam-ve-cuoc-chien-tranh-nam-1979-voi-trung-quoc/" target="_blank"><img src="http://phiatruoc.info/wp-content/plugins/add-to-facebook-plugin/facebook_share_icon.gif" alt="Share on Facebook" title="Share on Facebook" /></a><a href="http://www.facebook.com/share.php?u=http://phiatruoc.info/cac-nhan-thuc-cua-viet-nam-ve-cuoc-chien-tranh-nam-1979-voi-trung-quoc/" target="_blank" title="Share on Facebook">Share on Facebook</a></p>
<p><iframe src='http://www.facebook.com/plugins/like.php?href=http%3A%2F%2Fphiatruoc.info%2Fcac-nhan-thuc-cua-viet-nam-ve-cuoc-chien-tranh-nam-1979-voi-trung-quoc%2F&amp;layout=button_count&amp;show_faces=true&amp;width=280&amp;action=recommend&amp;colorscheme=light&amp;height=30' scrolling='no' frameborder='0' style='border:none; overflow:hidden; height:30px' allowTransparency='true'></iframe>
<div class="bottomcontainerBox" style="background-color:#F0F4F9;">
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<iframe src="http://www.facebook.com/plugins/like.php?href=http%3A%2F%2Fphiatruoc.info%2Fcac-nhan-thuc-cua-viet-nam-ve-cuoc-chien-tranh-nam-1979-voi-trung-quoc%2F&amp;layout=button_count&amp;show_faces=false&amp;width=85&amp;action=like&amp;font=verdana&amp;colorscheme=light&amp;height=21" scrolling="no" frameborder="0" allowTransparency="true" style="border:none; overflow:hidden; width:85px; height:21px;"></iframe></div>
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<g:plusone size="medium" href="http://phiatruoc.info/cac-nhan-thuc-cua-viet-nam-ve-cuoc-chien-tranh-nam-1979-voi-trung-quoc/"></g:plusone>
			</div>
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<a href="http://twitter.com/share" class="twitter-share-button" data-url="http://phiatruoc.info/cac-nhan-thuc-cua-viet-nam-ve-cuoc-chien-tranh-nam-1979-voi-trung-quoc/"  data-text="Các nhận thức của Việt Nam về cuộc chiến tranh năm 1979 với Trung Quốc" data-count="horizontal"></a>
			</div>
</p></div>
<div style="clear:both"></div>
<div style="padding-bottom:4px;"></div>
<p><i>Scridb filter</i><!-- Scridb filter--></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phiatruoc.info/cac-nhan-thuc-cua-viet-nam-ve-cuoc-chien-tranh-nam-1979-voi-trung-quoc/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>6</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Cuộc chiến tranh năm 1979 của Trung Quốc với Việt Nam: Một sự tái lượng định</title>
		<link>http://phiatruoc.info/cuoc-chien-tranh-nam-1979-cua-trung-quoc-voi-viet-nam-mot-su-tai-luong-dinh/</link>
		<comments>http://phiatruoc.info/cuoc-chien-tranh-nam-1979-cua-trung-quoc-voi-viet-nam-mot-su-tai-luong-dinh/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 11 Jan 2013 05:27:32 +0000</pubDate>
		<dc:creator>tapchiphiatruoc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Lịch sử]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến tranh Biên giới]]></category>
		<category><![CDATA[Ngô Bắc]]></category>
		<category><![CDATA[việt-trung]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phiatruoc.info/?p=10111</guid>
		<description><![CDATA[
Zhang Xiaoming
Ngô Bắc dịch, trích từ Gió-O
Đại ý: Bài viết này cố gắng phát hiện các nhận thức riêng của Trung Quốc về cuộc chiến tranh năm 1979 với Việt Nam.  Bài viết bao gồm các quan hệ lịch sử của Trung Quốc với Việt Nam và ảnh hưởng của chúng trên khuynh hướng của Bắc Kinh đối với chiến ...]]></description>
	
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: right;"><span style="font-size: medium;"><strong>Zhang Xiaoming<br />
Ngô Bắc dịch</strong></span>,<span style="font-size: small;"><em> trích từ <a href="http://www.gio-o.com/NgoBac/NgoBacZhangXiaoming19792.htm">Gió-O</a></em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Đại ý: <i>Bài viết này cố gắng phát hiện các nhận thức riêng của Trung Quốc về cuộc chiến tranh năm 1979 với Việt Nam.  Bài viết bao gồm các quan hệ lịch sử của Trung Quốc với Việt Nam và ảnh hưởng của chúng trên khuynh hướng của Bắc Kinh đối với chiến tranh, cũng như vai trò của Đặng Tiểu Bình, chiến lược quân sự của Trung Quốc và các sự chuẩn bị cho cuộc tấn công.  Bài viết cho thấy phương cách mà khuynh hướng của Bắc Kinh đối với chiến tranh đã có một loạt riêng biệt các đặc tính Trung Quốc ra sao: việc tính toán thời điểm và sự sử dụng sức mạnh quân sự như thế nào, mục tiêu thầm kín trong suốt cuộc chiến  và căn bản trên đó sự thành công được lượng giá.  Bài viết tái duyệt các tác động của cuộc xung đột, cả về mặt chính trị lẫn quân sự, và các bài học rút ra như được nhận thấy bởi chính người Trung Quốc.<span id="more-10111"></span></i></span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"><span style="font-size: medium;">***</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Vào đầu năm 1979, Trung Quốc đã xâm lăng Việt Nam, theo lời của giới lãnh đạo Trung Quốc, để “dạy cho Việt Nam một bài học” mà nó sẽ không sớm quên.  Bất kể sự tuyên xác chiến thắng của Bắc Kinh, giới học giả hiên nay nói chung đồng ý rằng cuộc chiến đã không diễn tiến tốt như Trung Quốc đã kỳ vọng và rằng QĐGPNDTQ (Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc) đã thi hành nhiệm vụ một cách kém cỏi trong cuộc xung đột.  Chính Trung Quốc, chứ không phải Việt Nam, đã nhận được bài học. <sup>1</sup> Tài liệu của Trung Quốc về cuộc chiến tranh vẫn còn được bảo mật cao độ, và tin tức cung ứng không chỉ rời rạc và thiên lệch, mà còn đáng ngờ vực về mức độ chân thật.  Hiện có ít bài viết bằng Anh ngữ và phần lớn những gì đang hiện hữu chứa đầy sự ức đoán và không chính xác, được chống đỡ bởi lời đồn đãi ở Hồng Kông và Đài Loan.  Tuy nhiên, giờ đây sự kiểm soát thông tin của Bắc Kinh xem ra đang được nới lỏng.  Nhiều tài liệu lưu hành nội bộ liên quan đến sự thi hành và các kinh nghiệm của  QĐGPNDTQ trong cuộc chiến tranh năm 1979 đã tới được các thư viện Mỹ và khả dĩ tiếp cận để sử dụng trên mạng internet.  Ngoài ra, các hồi ký của các sĩ quan quân đội cao cấp cũng được cung cấp. <sup>2</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><a href="http://phiatruoc.info/cuoc-chien-tranh-nam-1979-cua-trung-quoc-voi-viet-nam-mot-su-tai-luong-dinh/mapxiaoming-viet-trung/" rel="attachment wp-att-10112"><img class="alignleft size-full wp-image-10112" alt="MapXiaoming Viet-Trung" src="http://phiatruoc.info/wp-content/uploads/2013/01/MapXiaoming-Viet-Trung.jpg" width="617" height="495" /></a>       Bài viết này gắng sức để phát hiện các nhận thức của chính phía Trung Quốc về cuộc chiến tranh năm 1979 với Việt Nam dựa trên một sự khảo sát các tài liệu có nguồn gốc nguyên thủy và sự nghiên cứu của các học giả hàng đầu.  Bài viết bắt đầu với một sự thảo luận các quan hệ lịch sử của Trung Quốc với Việt Nam và ảnh hưởng của chúng trên đướng hướng của Bắc Kinh tiến tới chiến tranh, cũng như vai trò của Đặng Tiểu Bình.  Kế tiếp, bài viết khảo sát vai trò của QĐGPNDTQ, bao gồm chiến lược quân sự và các sự chuẩn bị của Trung Quốc cho cuộc tấn công và các quan điểm của chính QĐGPNDTQ về các cuộc hoạt động quân sự.  Sau cùng, bài viết duyệt xét các tác động của cuộc xung đột, cả về mặt chính trị lẫn quân sự, và các bài học lĩnh hội được như được nhìn bởi chính người Trung Quốc.  Bài viết diễn giải đường hướng tiến tới chiến tranh của Bắc Kinh, trình bày một loạt riêng biệt các đặc tính Trung Quốc: giới lãnh đạo Bắc Kinh đã không ngần ngai sử dụng vũ lực sau khi đã tính toán kỹ lưỡng thời điểm và phương cách sử dụng quyền lực quân sự; mục tiêu căn bản của QĐGPNDTQ là nắm giữ và duy trì thế chủ động hành quân; và căn bản chính yếu trên đó phía Trung Quốc đã lượng giá sự thành công quân sự là địa chính trị chứ không phải là thi hành công tác. <sup>3</sup> QĐGPNDTQ đã bị đối xử một cách thô bạo bởi phía Việt Nam, nhưng đã hoàn thành các mục đích chiến lược của Bắc Kinh, chuyển hướng sự chú tâm của Việt Nam đến áp lực quân sự mới tại biên giới phía bắc của nó, điều làm giảm bớt chính sách phiêu lưu của Việt Nam tại Đông Nam Á.  Song QĐGPNDTQ đã thất bại trong việc phân cách các bài học lĩnh hội được từ cuộc xung đột ra khỏi triết lý và truyền thống quân sự lỗi thời, có thể kiềm chế sự hiện đại hóa và biến đổi của nó.</span></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><span style="font-size: medium;"><b>Một Quan Điểm Lịch Sử Văn Hóa</b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Bắc Kinh và Hà Nội đã từng là các đồng minh thân cận kể từ cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất hồi đầu thập niên 1950.  Như thế, tại sao CHNDTQ đã quyết định đi đến chiến tranh với CHXHCNVN (Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam) vào cuối năm 1978? Các lý do của Bắc Kinh rõ ràng bao gồm “giấc mộng đế quốc” bá quyền của Hà Nội tại Đông Nam Á; sự vi phạm biên giới Trung Quốc và theo sau là sự xâm nhập vào lãnh thổ Trung Quốc; sự ngược đãi người gốc Hoa đang sinh sống tại Việt Nam; và sự thân mật của Việt Nam với Liên Bang Sô Viết, nước đang mở rộng khu vực ảnh hưởng của nó vào vùng Đông Nam Á. <sup>4</sup> Các quan sát viên đương thời và vài cuộc nghiên cứu sau này cho rằng các mục tiêu đích thực (bona fide) [sic] của Bắc Kinh là nhằm chuyển hướng áp lực quân sự của Hà Nội trên Căm Bốt và buộc chân các lực lượng của Hà Nội tại một mặt trận thứ nhì. <sup>5</sup> Tác giả Robert Ross tranh luận rằng sự sử dụng vũ lực của Trung Quốc đánh Việt Nam không chỉ là một sự đáp ứng đối với sự xâm lược của Hà Nội tại Đông Dương mà cũng là một sự đáp ứng trước sự hợp tác của Việt Nam vào sự bao vây Trung Quốc ra khỏi Đông Nam Á của Sô Viết. <sup>6</sup> Các cuộc nghiên cứu khác lập luận rằng cuộc xâm lăng của Trung Quốc vào Việt Nam có chủ ý nhằm làm mất tín nhiệm Liên Bang Sô Viết như một đồng minh đáng tin cậy trong trường hợp có khủng hoảng. <sup>7</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Trong cuộc nghiên cứu của mình về mối quan hệ của Bắc Kinh với Việt Nam trước khi có cuộc chiến thắng của Hà Nội năm 1975, tác giả Zhai Qiang kết luận rằng “chính trị thực tế đã không là ngôn ngữ đuy nhất được nói bởi các nhà lãnh đạo Trung Quốc trong các quan hệ quốc tế.  Mặc dù họ tự nhận là các kẻ theo chủ nghĩa quốc tế Mác-xít và Lê-nin-nít, họ đã thừa kế trọn vẹn di sản lịch sử của Trung Hoa: một thế giới quan lấy Trung Hoa làm trung tâm, vốn nhìn các nước nhỏ ở ngoại vi Trung Hoa, bao gồm cả Việt Nam, là thấp kém và nằm trong quỹ đạo ảnh hưởng của Trung Quốc.  Mặt khác, ‘sự tự hào lịch sử và sự nhạy cảm văn hóa’ đã là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thái độ của Việt Nam đối với Trung Quốc.  Trong suốt lịch sử của họ, người Việt Nam đã ưa thích việc vay mượn và thích nghi văn minh và các định chế Trung Quốc cho sự áp dụng của chính họ, trong khi vẫn cương quyết về việc bảo toàn nền độc lập và di sản văn hóa của mình.  Họ đã tìm kiếm sự giúp đỡ của Trung Quốc khi họ bị suy yếu về mặt nội bộ và trở nên thù nghịch khi họ thống nhất và thoát khỏi sự xâm lược từ bên ngoài. <sup>8 </sup>Các hình ảnh lịch sử tương ứng được ghi khắc bởi các nhà lãnh đạo và nhân dân của hai nước về mối quan hệ Trung – Việt rõ ràng đã đóng một vai trò có ý nghĩa trong quyết định của Bắc Kinh nhằm phát động một cuộc tấn công trừng phạt đánh vào Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Kể từ đầu thập niên 1950, Trung Quốc đã từng là một kẻ ủng hộ quân sự và chính trị mạnh mẽ của Hà Nội, trợ giúp Việt Nam trong cuộc đấu tranh cách mạng chống lại người Pháp và đánh bại người Mỹ “xâm lược”.  Các cuộc nghiên cứu hiện thời cho thấy rằng chính sách của Trung Quốc đối với Hà Nội trong hai cuộc chiến tranh Đông Dương đầu tiên được hướng dẫn bởi các sự cứu xét đa diện từ truyên thống lịch sử cho đến ý thức hệ cách mạng và an ninh quốc gia.  Tuy nhiên, trong suốt diễn tiến, cảm nghĩ của Trung Quốc về sự ưu việt đã chế ngự sự nhận thức của họ về mối quan hệ của họ với Việt Nam. <sup>9</sup> Mặc dù các nhà lãnh đạo Trung Quốc lập lại nhiều lần các lời tuyên bố rằng phía Việt Nam phải được đối xử như “kẻ bình đẳng”, tác giả Chen Jian nhận xét rằng mỹ từ như thế đã tự phản ảnh niềm tin mạnh mẽ của họ rằng “họ đã chiếm cứ một vị thế từ đó truyền phán các giá trị và các quy luật cư xử sẽ khống chế các tương quan của họ với các lân bang”. <sup>10</sup> Bắc Kinh có tuyên bố rằng nó chưa hề áp đặt các điều kiện kinh tế và chính trị trên khoản viện trợ vật liệu và quân sự khổng lồ của nó cho Hà Nội.  Nó muốn Hà Nội phải thừa nhận vai trò lãnh đạo của Trung Quốc trong phong trào giải phóng dân tộc trong vùng và trên thế giới.  Thái độ này của Trung Quốc đã gây tức giận đối với phía Việt Nam, những kẻ đặc biệt nhạy cảm về quá khứ nhiều khó khăn của họ với Trung Hoa.  Cho dù Bắc Kinh và Hà Nội có gọi nhau là “các đồng chí anh em” vào lúc đó, tiếng thì thầm là ác cảm gia tăng của Việt Nam đối với phiên bản hiện đại của Trung Quốc về mối quan hệ của họ. <sup>11</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Một sự duyệt xét tài liệu bằng tiếng Hán liên quan đên cuộc chiến tranh năm 1979 phát hiện rằng các sự tường thuật về sự cư xử sai trái của Việt Nam đối với Trung Quốc kể từ 1975 còn làm tổn thương hơn nữa cảm giác ưu việt của Trung Quốc.  Giới lãnh đạo trung tâm Việt Nam đã chấp nhận một chính sách sẽ xem chủ nghĩa đế quốc Mỹ như một “kẻ thù trong trường kỳ”, nhưng Trung Quốc là “kẻ thù nguy hiểm, trực tiếp nhất”, và một “đối thủ tương lai mới” mà Việt Nam phải chuẩn bị để giao chiến. <sup>12</sup> Để đáp ứng, Tổng Cục Chính Trị của QĐNDVN đã thúc giục các lực lượng vũ trang Việt Nam tiếp nhận một chiến lược tấn công đối với Trung Quốc, tấn công và phản công một cách tích cực vào kẻ thù bên trong và bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, và biến các vùng biên giới thành một mặt trận chống Trung Quốc. <sup>13</sup> Sự coi thường của Việt Nam dành cho QĐGPNDTQ và sự tự tin quá đáng vào quyền lực quân sự của chính họ cũng tạo thành một chất xúc tác thúc đẩy giới quân sự Trung Quốc hành động.  Các lực lượng được tôi luyện bởi chiến trận của QĐNDVN đã giao tranh gần như liên tục trong nhiều thập niên và đã có thể tuyên bố chiến thắng trên hai quyền lực Tây Phương quan trọng, trong khi các chuyên viên của Việt Nam đã nhận định rằng QĐGPNDTQ có năng lực chiến đấu thấp và tinh thần kém. QĐNDVN đặc biệt tự hào về các khí giới do Nga chế tạo và các trang bị của Mỹ tịch thu được của nó, mà theo tin tức truyền thông của Việt Nam, vượt xa bất kỳ thứ gì được sở đắc bởi QĐGPNDTQ. <sup>14 </sup>   </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Trong hơn hai thập niên, Trung Quốc đã cung cấp cho Hà Nội 20 tỷ [mỹ kim] viện trợ, nhiều hơn bất kỳ nước nào khác.  Khi Việt Nam bắt đầu cưỡng bách hồi hương người gốc Hoa tại miền bắc Việt Nam và gia tăng sự vi phạm lãnh thổ Trung Quốc tại biên giới, nhiều người Trung Quốc đã nghĩ rằng Hà Nội đã vô ơn trước sự trợ giúp và hy sinh này.  Đã có một sự biểu lộ công khai nỗi tức giận đối với Việt Nam. <sup>15</sup> Những kẻ đã từng trợ giúp phe cộng sản Việt Nam trong các cuộc chiến tranh của họ chống lại người Pháp và người Mỹ đặc biệt cảm thấy bị phản bội và hăm hở để”dạy cho Việt Nam một bài học”.  Trong số này có Đặng Tiểu Bình, phó thủ tướng kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng  QĐGPNDTQ, kẻ có sự bực bội với thái độ không tử tế của Việt Nam đối với sự trợ giúp của Trung Quốc có thể truy tìm ngược lại từ giữa thập niên 1960. <sup>16</sup> Khi mà sự thù hận giữa hai nước gia tăng vào cuối thập niên 1970, ông ta càng trở nên cảm xúc hơn, có lần còn gọi Việt Nam là <i>wangbadan</i> (theo nghĩa đen là “<i>trứng con rùa</i>” nhưng có thể phiên dịch như “<i>đồ chó đẻ</i>” [s[on] o[f] b[itch] trong nguyên văn, chú của người dịch] trước mặt một nhà lãnh đạo nước ngoài. <sup>17</sup> Các lý thuyết gia quân sự nói chung đồng ý rằng “với ý định thù nghịch ở cả hai bên, sự tức giận và oán ghét … cổ vũ” cho sự giao chiến. <sup>18</sup> Sự xấc láo của Việt Nam cùng với các vụ đụng độ biên giới không ngừng gia tăng và cuộc di cư đang diễn tiến của cư dân gốc Hoa làm phát sinh xúc cảm cao độ trong các nhà lãnh đạo quân sự và chính trị Trung Quốc, và sự cứu xét việc sử dụng vũ lực.</span></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><span style="font-size: medium;"><b>Bước Tiến Khởi Sự Đến Chiến Tranh Của Trung Quốc</b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Vẫn không có chứng liệu chắc chắn về thời điểm và phương cách mà Bắc Kinh đã lấy quyết định cho hành động quân sự đánh Việt Nam.  Tác giả Nayan Chanda, một thông tín viên Đông Nam Á lâu năm của tạp chí <i>Far Eastern Economic Review</i>, tường thuất với ít chi tiết rằng giới lãnh đạo Trung Quốc đã lấy quyết định “dạy cho Việt Nam một bài học” vì tác phong “vô ơn và ngạo mạn” của nó trong một phiên họp hàng tuần của Bộ Chính Trị hồi đầu Tháng Bảy 1978.  Tuy nhiên, ông ta nghĩ rằng chính tại cuộc họp này mà giới lãnh đạo Trung Quốc đã liên kết “một cách đanh thép” quyết định của họ tiến hành hành động quân sự như một biện pháp  nhằm “làm suy yếu vị thế của Sô Viết trong Thế Giới Thứ Ba”. <sup>19 </sup>Các nguồn tin Trung Quốc mới khiến ta nghĩ rằng sự suy ngẫm về một đáp ứng quân sự đối với cuộc khủng hoảng giữa Trung Quốc và Việt Nam là một tiến trình chậm chạp; không quyết định nào đã được đạt tới cho mãi khá lâu sau này.  Hơn nữa, hành động được cứu xét ban đầu như một cuộc xung đột liên quốc gia được địa phương hóa chứ không như một phần của chiến lược chống bá quyền trên toàn cầu của Trung Quốc.  Trong những năm khởi đầu của thời hậu-Mao, Bắc Kinh đã áp dụng một loại giới lãnh đạo đồng thuận thường liên can đến một tiến trình kéo dài của các sự tham khảo không chính thức trong các nhà lãnh đạo cao cấp và các thuộc cấp, kể cả các viên chức chính phủ và sĩ quan quân đội cấp thấp chịu trách nhiệm về vấn đề, trước khi có một quyết định chung quyết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Zhou Deli, tham mưu trưởng Quân Khu Quảng Châu, có nhớ lại rằng, trong Tháng Chín 1978, một phiên họp về “cách thức giải quyết lãnh thổ của chúng ta bị chiếm đóng bởi các lực lượng Việt Nam” được tổ chức tại Bộ Tổng Tham Mưu QĐGPNDTQ. <sup>20</sup> Tiêu điểm khởi thủy là về sự xung đột biên giới, được nhận thức như là một nguồn cội chính yếu của sự leo thang căng thẳng đương thời giữa hai nước kể từ 1976. <sup>21</sup> Một đề xuất thăm dò đã khuyến cáo một cuộc hành quân quy mô nhỏ đánh vào một trung đoàn địa phương quân Việt Nam ở Trùng Khánh, một huyện biên giới giáp ranh với tỉnh Quảng Tây.  Tuy nhiên, tiếp theo sau một sự duyệt xét tin tức tình báo cập nhập thông báo về một cuộc xâm lăng của Việt Nam sắp xẩy ra vào Căm Bốt, đa số các tham dự viên đã lập luận rằng bất kỳ hành động quân sự nào được lấy phải có một tác động quan trọng trên Hà Nội và tình hình Đông Nam Á.  Họ đã khuyến cáo một cuộc công kích vào một đơn vị quân đội chính quy Việt Nam trên một khu vực địa dư rộng lớn hơn. <sup>22</sup> Mặc dù phiên họp đã kết thúc mà không có một quyết định cụ thể nào, nó đã ấn định cho nhịp độ của kế hoạch chiến tranh chung cuộc của Trung Quốc đánh Hà Nội, và có thể đã là bằng chứng đầu tiên của một sự liên kết hành động quân sự tại biên giới phía bắc của Việt Nam với sự xâm lăng của Việt Nam tại Đông Nam Á.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Dù thế, một cuộc hoạt động quân sự trên quy mô rộng lớn đánh Việt Nam có rủi ro tạo tác động cho hình ảnh quốc tế của Trung Quốc trong vùng và thế giới.  Cuộc thăm viếng chính thức đã được sắp xếp thời biểu của Đặng Tiểu Bình đến Thái Lan, Mã Lai và Singapore vào đầu Tháng Mười Một cung cấp cơ hội để tìm kiếm sự ủng hộ của các nước này cho chính sách về Việt Nam của Trung Quốc.  Trong suốt cuộc du hành, họ Đặng đã tạo ấn tượng trên các vị chủ nhà ngoại quốc rằng Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực chống lại sự xâm lược của Việt Nam nếu Việt Nam tấn công Căm Bốt. <sup>23</sup> Trong nước, truyền thông đầy những bài xã luận và bình luận kết án sự xâm lấn của Việt Nam vào lãnh thổ Trung Quốc và cảnh cáo về sự trả đũa khả hữu. <sup>24</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Vào ngày 23 Tháng Mười Một, Bộ Tổng Tham Mưu đã triệu tập một phiên họp khác trong đó một ý đồ mới về chiến tranh đã được nghị luận.  Cứu xét các khuyến cáo trước đây, Bộ Tổng Tham Mưu đã mở rộng phạm vi và thời hạn của các hoạt động.  Các kế hoạch đã biến tất cả các thành phố và các vị trí quân sự Việt Nam quan trọng ngang biên giới các tỉnh Quảng Tây và Vân Nam thành các mục tiêu cho các sự tấn công, dự liệu rằng điều này sẽ gián chỉ sự xâm lược của Việt Nam.  Một lần nữa, một số tham dự viên cảm thấy rằng các hoạt động này đã không đủ xa khi chúng vẫn còn bị hạn chế ở một khu vực xa xôi và không đặt ra sự đe dọa trực tiếp lên Hà Nội.  Tuy nhiên, họ đã không lên tiếng phản đối, giả định rằng giới lãnh đạo trung ương đã có sự cứu xét tỉ mỉ trên vấn đề đó.  Phiên họp đã giao phó chiến dịch sẽ được thực hiện bởi các Quân Khu Quảng Châu và Vân Nam. <sup>25</sup> Phiên họp cũng đã đề nghị sự thuyên chuyển lực lượng trừ bị chiến lược của QĐGPNDTQ, tổng cộng gồm bốn quân đoàn và một sư đoàn, từ các Quân Khu Vũ Hán và Thành Đô để tăng cường cho các mặt trận Quảng Tây và Vân Nam. <sup>26</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Vào ngày 7 Tháng Mười Hai, Quân Ủy Trung Ương (QUTƯ) đã triệu tập một phiên họp, được tường thuật đã kéo dài từ bốn đến năm tiếng đồng hồ, và đã quyết định phóng ra một cuộc chiến tranh hạn chế trên biên giới phía nam của Trung Quốc để “hoàn kích” Việt Nam. <sup>27</sup> Ngày kế tiếp, QUTƯ đã đưa ra một mệnh lệnh giao phó các Quân Khu Quảng Châu và Vân nam thực hiện chiến dịch quân sự với tất cả binh sĩ sè phải sẵn sàng hành động vào ngày 10 Tháng Một 1979.  Các chỉ thị ghi rõ rằng cuộc chiến tranh sẽ được hạn chế một cách nghiêm ngặt, thực hiện trong vòng 50 cây số kể từ biên giới và kéo dài trong hai tuần lễ.  Kế đó QUTU đã nhấn mạnh đến các giáo điều nòng cốt của học thuyết hoạt động truyền thống của QĐGPNDTQ yêu cầu hai bộ chỉ huy quân khu phải tập trung một lực lượng vượt trội để bao vây các lực lượng địch từ các cạnh sườn, để tiêu diệt từng lực lượng địch riêng biệt với các trận đánh hủy diệt quyết định mau chóng, và rồi triệt thoái tức thời”. <sup>28</sup> Thời điểm của mệnh lệnh này cho thấy Trung Quốc đang đáp ứng với cuộc xâm lăng sắp xảy ra của Việt Nam vào Căm Bốt, nhưng bằng việc phóng ra một chiến dịch quân sự quan trọng ngay trước khi các lực lượng Việt Nam băng qua sông Mekong cũng là để phản ứng đối với vài năm tức giận gây ra bởi động thái vô ơn của Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><span style="font-size: medium;"><b>Đặng Tiểu Bình Đưa Ra Quyết Định</b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Mặc dù guồng máy chiến tranh của Tryng Quốc đã sẵn sang vào đầu Tháng Mười Hai, nhật kỳ xác định cho các cuộc tấn kích vẫn chưa được ấn định.  Các cuộc nghiên cứu trước đây phỏng định rằng quyết định chiến tranh của Bắc Kinh đã được đưa ra tại Hội Nghị Công Tác Trung Ương giữa 10 Tháng Mười Một cho đến 15 Tháng Mười Hai 1978. <sup>29</sup> Trong thực tế, phiên họp này, được triệu tập để cứu xét một nghị trình cải cách kinh tế cho mười năm sắp tới, đã được kết thúc nhằm vào các di sản của cuộc Cách Mạng Văn Hóa.  Vẫn chưa rõ là liệu đã có một sự thảo luận đáng kể về tình hình Đông Dương hay không. <sup>30</sup> Tuy nhiên, phiên họp đã củng cố vị thế của Đặng Tiểu Bình trong giới lãnh đạo trung ương, giúp ông ta, mặc dù chỉ là một trong năm phó chủ tịch Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) và Tổng Tham Mưu Trưởng, sẽ là người lấy quyết định về Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Tại một phiên họp QUTƯ tối đón Năm Mới, họ Đặng đã đề nghị một cách chính thức một cuộc chiến tranh trừng phạt đánh Việt Nam.  Mọi người tham dự, kể cả Hoa Quốc Phong, chủ tịch QUTƯ, được tường thuật đều đã ủng hộ cho đề nghị này.  Họ Đặng đã chỉ định Hứa Thế Hữu chỉ huy các hoạt động từ Quảng Tây bên phía đông, <sup>31</sup> và Dương Đắc Chí (Yang Dezhi), tư lệnh Quân Khu Vũ Hán, chỉ huy các hoạt động từ Vân Nam bên phía tây, gạt sang một bên Wang Bicheng, tư lệnh Quân Khu Côn Minh. <sup>32 </sup>Rõ ràng quan ngại về sự thay đổi cấp chỉ huy vào lức sắp sửa có chiến tranh, họ Đặng sau đó đã phái hai tổng tham mưu phó của ông đến Côn Minh để giám sát sự chuyển tiếp và các sự chuẩn bị chiến tranh.  Không có một bộ chỉ huy tập trung hóa, hai quân khu sẽ thực hiện cuộc chiến tranh một cách độc lập, gần như không có sự phối hợp hay cộng tác.  Phiên họp cũng đã lập lại rằng cuộc xâm lăng phải mau lẹ và tất cả các binh sĩ phải được rút về sau khi đã đạt được các mục tiêu hành quân. <sup>33</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Các bài viết hiện nay nêu ý kiến rằng một số các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã chống đối một cuộc tấn công vào Việt Nam, nhưng các bài viết này lại không đồng ý về những nhà lãnh đạo nào và về hình thức mà sự chống đối đã có. <sup>31</sup> Bởi Đặng Tiểu Bình là kiến trúc sư chính của ý đồ, nhiều phần là không có bất kỳ ai sẽ thách đố quyết định của ông với tư thế cao cấp và nhiều uy tín của ông ta trong Đảng.  Sự kiểm soát của họ Đặng Bộ Tổng Tham Mưu mang lại cho ông một băng tần thuận tiện để làm cho guồng máy quân sự của Trung Quốc chuyển động trước khi giới lãnh đạo trung ương đưa ra một quyết định chính thức.  Làm giống như họ Mao, họ Đặng đã tham khảo một cách kín đáo với các phụ tá tin cậy trước khi đưa ra một quyết định, và chỉ sau đó mới mang quyết định của ông cho sự tán đồng chính thức bởi Bộ Chính Trị.  Một trong những phụ tá thân cận nhất của ông là Chen Yun (Trần Vân), một phó chủ tịch khác của ĐCSTQ và một đảng viên lão thành của Đảng, kẻ được tường thuật đã đóng góp đáng kể vào quyết định chiến tranh với Việt Nam. <sup>35</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Đã có vài quan ngại chính yếu: liệu Liên Bang Sô Viết sẽ đáp ứng với các cuộc tấn công trả đũa từ phía bắc để buộc Trung Quốc phải giao tranh trong một cuộc chiến hai mặt trận hay không; liệu Hoa Kỳ sẽ lợi dụng cơ hội để thủ lợi từ tình hình hay không; dư luận thế giới sẽ phản ứng như thế nào; và liệu chiến tranh với Việt Nam sẽ cản trở nghị trình mới của Trung Quốc về sự hiện đại hóa kinh tế hay không. <sup>36</sup> Trở ngại gây lo sợ nhất là phản ứng của Sô Viết.  Theo sự phân tích tình báo bởi Bộ Tổng Tham Mưu, Mạc Tư Khoa sẽ có ba sự lựa chọn quân sự trong sự đáp ứng với cuộc xâm lăng: một cuộc xâm nhập vũ trang ồ ạt kể cả một cuộc tấn công trực tiếp vào Bắc Kinh; xúi giục nhân viên dân tộc ít người vũ trang, những kẻ lưu vong tại Liên Bang Sô Viết, để tấn công các tiền đồn của Trung Quốc tại Tân Cương và Nội Mông; hay sử dụng các sự đụng độ nhỏ để đẩy lên cao các sự căng thẳng biên giới giữa hai nước.  Tuy nhiên, bởi Liên Bang Sô Viết đã không có đủ các lực lượng để thực hiện bất kỳ các hoạt động quân sự quy mô nào đánh Trung Quốc ngay lập tức, các nhà lãnh đạo Trung Quốc, đặc biệt họ Đặng, đã tin tưởng rằng một hành động quân sự ngắn hạn, giới hạn và có tinh chất phòng thủ chống Việt Nam sẽ không khiêu khích sự can thiệp của Mạc Tư Khoa và một sự công phẫn quốc tế. <sup>37</sup> Hai cuộc xung đột biên giới trước đây, với Ấn Độ trong năm 1962 và với Sô Viết trong năm 1969, đã chứng thực cho sự tính toán này.  Ước muốn về một cuộc chiến tranh ngắn cũng trợ lực trong việc làm dịu bớt sự chống đối trong nước và biện minh cho sự lựa chọn chính sách của Bắc Kinh.  Dù thế, các nhà lãnh đạo Trung Quốc không thể hạ thấp sự cảnh giác của họ, và đã đồng thời ra lệnh cho các binh sĩ tại các quân khu phía bắc và tây bắc xúc tiến sự ứng chiến đối với các cuộc tấn kích khả hữu của Sô Viết. <sup>38</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Phiên họp tối đón Năm Mới đã triển hạn việc ấn định thời điểm của hành động quân sự.  Các nhà phân tích Tây phương lập luận rằng Bắc Kinh vẫn còn bị kiềm hãm bởi sự quan ngại về phản ứng quốc tế.  Các cuộc du hành đã được xếp lịch của họ Đặng sang Hoa Kỳ và Nhật Bản chính vì thế đã được thu xếp để “trắc nghiệm trào lưu”. <sup>39</sup> Tuy nhiên, các kẻ liên hệ mật thiết với họ Đặng nghĩ rằng phản ứng giật lùi của quốc tế sẽ không ngăn cản ông bởi vì ông ta sẽ không nhường bước trước bất kỳ điều gì một khi ông đã quyết đoán trong tư tưởng. <sup>40</sup> Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã lo ngại nhiều hơn về việc liệu các lực lượng của họ có đủ thời giờ để thực hiện các sự chuẩn bị thích đáng cho cuộc xâm lăng hay không.  Các binh sĩ Trung Quốc đã không tham dự vào bất kỳ cuộc chiến tranh nào trong một thời khoảng lâu dài, trong khi nhiều kẻ trong chúng đã không hiểu được việc đi dến chiến tranh chống lại một đồng minh truyền thống và một lân bang nhỏ bé. <sup>41</sup> Không lâu sau phiên họp tối đón Năm Mới, họ Đặng đã phái Yang Yong, tổng tham mưu phó, và Zhang Zhen, chỉ huy Tổng Cục Hậu Cần (Tiếp Vận), lần lượt đên Quảng Yây và Vân Nam để thanh tra các điều kiện chiến đấu của các binh sĩ.  Kinh sợ về sự thiếu sẵn sàng của họ, họ Zhang đã tức thời khuyến cáo sự triển hoãn chiến tranh trong một tháng.  Ông ta sau này nhớ lại rằng QUTƯ đã đồng ý đẩy lùi cuộc phản công cho đến giữa Tháng Hai. <sup>42</sup> Họ Yang đã lập bản báo cáo, cùng với các đề nghị về kế hoạch chiến tranh, vào ngày 22 Tháng Một tại nhà riêng của họ Đặng với sự hiện diện của các nhà lãnh đạo chính yếu của QUTƯ. <sup>43</sup> Nhiều phần là chính tại phiên họp này giới lãnh đạo Trung Quốc đã tái khẳng định quyết định chiến tranh và đã ấn điểm một khung thời gian cho ngày D.  Vào ngày kế đó, Bộ Tổng Tham Mưu đã tổ chức một phiên họp trong đó kế hoạch chiến tranh được chung quyết và các binh sĩ được lệnh sẵn sàng hành động vào ngày 15 Tháng Hai. <sup>44</sup> Để ngăn chặn tình hình trở nên nằm ngoài sự kiểm soát, giới lãnh đạo trung ương đặc biệt yêu cầu Hứa Thế Hữu đình chỉ các hoạt động quân sự và rút quân về sau khi chiếm đoạt được Lạng Sơn và Cao Bằng, hai thành phố Việt Nam quan trọng tại biên giới. <sup>45</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Vào ngày 11 Tháng Hai 1979, hai ngày sau khi Đặng Tiểu Bình quay trở về Bắc Kinh từ cuộc du hành của ông ta sang Hoa Kỳ và Nhật Bản, một hội nghị Bộ Chính Trị mở rộng đã được triệu tập.   Họ Đặng đã phát biểu rành mạch lý luận căn bản cho cuộc tấn công vào Việt Nam, và sau đó một lệnh tiến hành để phóng ra các cuộc tấn công vào Việt Nam hôm 17 Tháng Hai đã được truyền ra cho các cấp chỉ huy quân sự địa phương tại Quảng Tây và Vân Nam. <sup>46</sup> Đây là ngày mà các quan sát ba thứ ba đã dự liệu từ lâu.  Họ đồn đãi, một cách khả tín, rằng việc ấn định thời biểu của một cuộc công kích có thể liên hệ chặt chẽ với các yếu tố thời tiết: nó sẽ không thuận lợi để thực hiện các hoạt động quân sự trong mùa mưa, thường bắt đầu trong Tháng Tư, hay để tấn công quá sớm khi các lực lượng Sô Viết có thể băng ngang các con sông đông lạnh dọc biên giới Trung Quốc – Sô Viết. <sup>47</sup> Họ Đặng và các nhà lãnh đạo Trung Quốc khác đã sẵn tính toán một cách cẩn thận mọi sự phân nhánh [mũi tấn công] khả dĩ một khi các binh sĩ của họ băng qua biên giới Việt Nam.  Họ đã giới hạn phạm vi, thời gian và không gian cho cuộc chiến tranh và đặt tên cho nó là một cuộc “hoàn kích tự vệ”, trong nỗ lực làm giảm thiểu bất kỳ các phản ứng tiêu cực nào trong và ngoài nước. <sup>48 </sup>Tuy nhiên, một khi cuộc chiến tranh đã được khởi động, họ Đặng, trong khi chăm chú theo dõi những gì đang diễn ra, đã chỉ đưa ra ít mệnh lệnh và chỉ thị cụ thể (trái với phong cách lãnh đạo của họ Mao). <sup>49</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><span style="font-size: medium;"><b>Chiến Lược, Các Mục Tiêu và Các Sự Chuẩn Bị</b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Tác giả Gerald Segal cho rằng động lực chủ yếu của Trung Quốc cho việc tấn công Việt Nam là nhằm chặn đứng tham vọng và sự xâm lược của Việt Nam tại Đông Nam Á và sự đe dọa của Việt Nam đối với an ninh quốc gia Trung Quốc, cũng như để phơi bày sự yếu kém của Sô Viết.  Nhưng sự tính toán chính trị yếu kém có nghĩa rằng các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tự đặt mình vào vị thế khó khăn của việc tạo lập một chiến lược để trừng phạt Việt Nam và họ đã chưa hề có một cơ may để thành công. <sup>50</sup> Ước vọng được phát biểu một cách rõ ràng của Trung Quốc nhằm “dạy cho Việt Nam một bài học” đã chuyên chở mục tiêu chiến tranh hàng đầu của nó sẽ là “một hành vi trả thù”. <sup>51</sup> Ngay từ khởi đầu, Bắc Kinh đã giới hạn các mục tiêu và sự tiến hành chiến tranh sẽ không vượt quá một vụ xung đột biên giới song phương.  Giới lãnh đạo quân sự của Quảng Châu và Côn Minh được yêu cầu hãy đề xuất một chiến lựoc hành quân sẽ không chỉ nhằm hoàn thành mục tiêu trừng phạt, mà còn hạn chế chiến sự trong không và thời gian.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Câu hỏi thực sự cho các nhà hoạch định quân sự Trung Quốc địa phương là đến mức độ nào mục tiêu dạy cho Việt Nam một bài học có thể được đạt tới hay đo lường được.  Sự hiểu biết thông thường về QĐGPNDTQ luôn luôn đặt sự nhấn mạnh đặc biệt vào sự tiêu diệt các lực lượng sinh tử (yousheng liliang) của địch.  Một trong những truyền thống hoạt động của QĐGPNDTQ là sự sử dụng một lực lượng có ưu thế tuyệt đối để bảo đảm thắng lợi.  Vào giữa Tháng Một 1979, hơn một phần tư các quân đoàn tác chiến của QĐGPNDTQ đã được tập hợp tại biên giới Trung – Việt, một tổng số hơn 320,000 binh sĩ.  Rút ra từ kinh nghiệm chiến đấu của chính mình và dựa trên kiểu chiến thuật và hành quân mà QĐGPNDTQ đã phát triển trong quá khứ, Hứa Thế Hữu đã đáp ứng các đòi hỏi chiến tranh của giới lãnh đạo trung ương với một đường hướng đựoc biết đến là <i>niudao shaji</i> (dùng một con dao mổ trâu để giết gà).  Sự thực hiện sự giao chiến này bao hàm ba thành tố căn bản: các cuộc công kích phải tập trung vào các bộ phận sinh tử của sự phòng thủ của địch, nhưng không phải trên điểm mạnh của địch; lực lượng và hỏa lực áp đảo phải được sử dụng để đập tan sự phòng thủ của địch tại điểm giao tranh; bộ đội tấn công phải di chuyển một cách mau lẹ tối đa khả dĩ để tiến sâu, và công kích trong mọi hướng vào trọng tâm của địch.  Bằng cách này, họ Hứa đã kỳ vọng rằng các lực lượng của ông ta sẽ cắt sự phòng thủ của địch ra thành từng mảnh nhỏ, phá vỡ sự kháng cự của đối phương, và sau đó tiêu diệt phe địch. <sup>52</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Chiếu theo các nguyên tắc này, các Quân Khu Quảng Châu và Côn Minh đã phát triển các kế hoạch chiến tranh liên hệ của chúng với một sự nhấn mạnh trên sự tiêu diệt các sư đoàn chính quy của Việt Nam trên biên giới với Trung Quốc.  Chiến tranh sẽ được giao đấu trong hai giai đoạn.  Trong giai đoạn đầu tiên, một cuộc tấn công hai mũi sẽ được mở ra nhắm vào Cao Bằng và Lào Cai, để bao vây hai sư đoàn Việt Nam tại đó và để tiêu diệt chúng, trong khi phóng ra một cuộc tấn công cùng lúc vào Đồng Đăng nhằm gây hoang mang cho Hà Nội về mục tiêu chiến tranh của Trung Quốc.  Sau đó, các lực lượng QĐGPNDTQ tại Quảng Tây sẽ tập trung vào việc tấn công Lạng Sơn, trong khi các đối tác của chúng tại Vân Nam sẽ mưu tính giao chiến với một sư đoàn Việt Nam tại khu vực Sa Pa.  Một tổng số tám quân đoàn QĐGPNDTQ sẽ can dự tức thời, với một quân đoàn được giữ làm quân trừ bị.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Bắc Kinh cũng có phác họa một chiến lược về thời điểm và phương cách mà không lực sẽ phải được sử dụng.  Không Lực QĐGPNDTQ sẽ đưa 18 trung đoàn không quân cùng với sáu phi đoàn bay bổ túc để chuẩn bị trợ giúp các cuộc hành quân trên đất liền.  Để tránh leo thang cuộc xung đột, QUTƯ hạn chế sự sử dụng không lực trong phạm vi lãnh thổ của chính Trung Quốc, trong khi ra lệnh cho các đơn vị không quân phải chuẩn bị yểm trợ cho các cuộc hành quân trên bộ “nếu cần thiết”, mặc dù không đưa ra một định nghĩa rõ ràng đâu và khi nào một tình trạng “cần thiết” có thể phát sinh.  Mệnh lệnh quy định rằng bất kỳ hoạt động nào bên ngoài không phận của Trung Quốc phải được cho phép bởi QUTƯ.  Dựa trên nguyên tắc này, chiến lược đã yêu cầu tất cả các đơn vị không quân ở vào tình trạng ứng chiến để phòng thủ không phận và yểm trợ trên bộ, và trong lúc đó cho bay càng nhiều phi vụ càng tốt trên không phận biên giới khi các cuộc tấn công trên bộ khởi sự nhằm ngăn chặn không quân Việt Nam hoạt động đánh lại Trung Quốc.  Nhân viên kiểm soát và chỉ huy không quân và các bộ phận kiểm soát chiến thuật được phái đến các bộ chỉ huy tiền phương của các Quân Khu Quảng Châu và Côn Minh, các tổng hành dinh lục quân và vài sư đoàn lực lượng trên bộ sẽ đảm trách các nhiệm vụ tấn công chính yếu. <sup>53</sup>   </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Từ cuối năm 1978 cho đến suốt Tháng Một 1979, binh sĩ Trung Quốc đã vội vã huấn luyện chiến đấu và thao diễn.  Nhiều người trong họ là các tân binh mới tuyển mộ vốn từng tham gia vào sự sản xuất nông nghiệp trong một thời gian lâu dài, một nỗ lực giờ chót điên rồ như thế, dù có hữu ích, nhất định là không đủ.  Sự huấn luyện phần lớn tập trung vào các kỹ năng căn bản của người lính chẳng hạn như bắn súng và ném lựu đạn, với một ít đơn vị có thể thực hiện bất kỳ sự huấn luyện hay thao diễn chiến thuật có ý nghĩa nào ở các cấp sư đoàn và trung đoàn.  Nhiều sĩ quan đã báo cáo rằng họ không chắc chắn về năng lực giao chiến của binh sĩ của họ.  Sau cùng, các binh sĩ QĐGPNDTQ được chỉ định cho cuộc xâm lăng được huấn luyện tồi và không được chuẩn bị một cách thích đáng cho một cuộc chiến tranh hiện đại chống lại các lực lượng của Việt Nam, các kẻ với kinh nghiệm chiến đấu thu thập được trong 25 năm chiến tranh trước khi có cuộc xung đột này rõ ràng đã không được chú ý tới. <sup>54</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Bất kể nhu cầu khẩn cấp về sự huấn luyện, QĐGPNDTQ vẫn tiếp tục truyền thống quân sự của nó, sử dụng sự nhồi sọ chính trị để nâng cao tinh thần và cải thiện hiệu năng chiến đấu.  Một guồng máy tuyên truyền đã được vận hành để thuyết phục các người lính rằng quyết định đi đến chiến tranh của giới lãnh đạo trung ương là cần thiết và đúng đắn.  Việt Nam đã thoái hóa thành “Cuba ở Phương Đông”, “bọn côn đồ của Á Châu” và “đàn chó săn của Liên Bang Sô Viết”, đang cố gắng theo đuổi các tham vọng bành trướng của nó.  Ý thức hệ chính trị Mác-Xít, mặc dù được chia sẻ bởi hai nước, đã không ngăn cản Trung Quốc khỏi việc phóng ra các hành động tự vệ chống lại một lân bang nhỏ bé hơn khi các quyền lợi dân tộc tối thượng có liên can đến.  Các buổi diễn giảng, các phiên họp tố cáo, và các cuộc triển lãm hình ảnh và chứng liệu phục vụ cho việc truyền thụ lòng yêu nước và căm thù kẻ địch.  Ít nhất chúng cung cấp một sự giải thích xem ra có hiệu lực cho các người lính Trung Quốc bình dân và ít học về lý do tại sao Trung Quốc phải phóng ra các cuộc tấn công quân sự vào Việt Nam, một nước đã từng là một nước anh em, đồng chí trong thời gian rất lâu.</span></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><span style="font-size: medium;"><b>Chiến Dịch Quân Sự</b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Các cuộc “hoàn kích tự vệ” của QĐGPNDTQ đã được thực hiện trong ba giai đoạn.  Giai đoạn thứ nhất từ ngày 17 đến 25 Tháng Hai, trong đó các lực lượng Trung Quốc đã phá tan sự kháng cự ở tuyền thứ nhất của Việt Nam và chiếm đoạt các tỉnh lỵ Cao Bằng và Lào Cai, và các thị trấn biến giới then chốt tại Cam Đường và Đồng Đăng, cửa ngỏ dẫn đến Lạng Sơn.  Giai đoạn thứ nhì là một chiến dịch đánh Lạng Sơn và các khu vực chung quanh nó ớ phía đông, và Sa Pa cùng Phong Thổ ở phía tây bắc, từ 26 Tháng Hai đến 5 Tháng Ba.  Giai đoạn cuối cùng là một nỗ lực khác nữa để bình định các lực lượng địch tàn dư trong khi phá hủy các cơ sở quân sự tại vùng biên giới với Trung Quốc trước khi có sự triệt thoái hoàn toàn vào ngày 16 Tháng Ba.  Các hoạt động quân sự được thực hiện bên trong lãnh thổ Việt Nam dọc theo biên giới kéo dài 900 cây số từ đông sang tây.  Trong 30 ngày, các lực lượng Trung Quốc đã giao tranh các trận đánh đẫm máu nhất kể từ sau Chiến Tranh Triều Tiên; sau này, nó đã trở thành một đường ranh phân chia rõ rệt cho QĐGPNDTQ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Cuộc tấn công của Trung Quốc khiến Hà Nội bị bất ngờ.   Tình báo Việt Nam rõ ràng đã không cảnh báo giới lãnh đạo Hà Nội để chuẩn bị cho một cuộc xâm lăng của Trung Quốc.  Bất kể sự “rung kiếm” của Bắc Kinh trong vài tháng, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã không thể tin rằng “một nước xã hội chủ nghĩa anh em” sẽ lại đi tấn công nó bao giờ.  Khi các số lượng đông đảo các binh sĩ Trung Quốc vượt qua biên giới, Thủ Tướng Phạm Văn Đồng và Tổng Tham Mưu Trưởng QĐNDVN đang thăm viếng Phnom Penh.  Cung cách mở rộng của các cuộc công kích của QĐGPNDTQ cũng gây hoang mang cho bộ chỉ huy cao cấp của Việt Nam về việc xác định trục chính của các lực lượng xâm lăng và các mục tiêu thực sự của cuộc tấn công. <sup>55</sup> Trong khi đưa ra một lời yêu cầu khẩn cấp cho Mạc Tư Khoa về việc chu toàn các nghĩa vụ của Nga chiếu theo bản hiệp ước hữu nghị và hợp tác vừa mới được ký kết giữa hai nước, sự đáp ứng tức thời của Hà Nội là “ứng biến, thẩy ra bất kỳ sự kháng cự nào có thể trì hoãn sự tiến quân của Trung Quốc”. <sup>56</sup> Các trận đánh quan trọng đã được giao tranh chung quanh các thị trấn biên giới tại Sóc Giang, Đông He [Đồng Hà?], Đồng Đăng, Cao Bằng, Lào Cai và Cam Đường, liên can đến việc giao tranh từng đường hầm một và từng ngọn đồi một.  Cả hai phía đều bày tỏ một sẵn sàng để đẩy mạnh cuộc tấn công và phản công bất kể các số tổn thất nặng nề.  Vào ngày 20 Tháng Hai, các cố vấn Sô Viết đã kết luận rằng sự phòng thủ kiểu du kích và không có phối hợp của Việt Nam sẽ không có khả năng chặn đứng các lực lượng Trung Quốc khỏi việc tiến quân.  Một khuyến cáo đã được đưa ra để không vận một đoàn quân (30,000 binh sĩ) tức thời từ Căm Bốt nhằm tăng cường sự phòng thủ giữa Lạng Sơn và Hà Nội.  Các nguồn tin Sô Viết cho thấy rằng các cố vấn của họ đã thực hiện các nỗ lực lớn lao để đi tìm nhà lãnh đạo Việt Nam và thuyết phục ông ta hành động. <sup>57 </sup>Thiếu sự hiểu biết về các mục tiêu chiến tranh của Bắc Kinh, Hà Nội rõ ràng chậm chạp trong sự đáp ứng với tình hình thay đổi mau chóng trên chiến trường.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Bất kể sự khai thông ban đầu của QĐGPNDTQ, địa hình, đặc biệt việc thiếu các đường lộ, và sự kháng cự dữ dội từ các lực lượng chính quy, các đơn vị an  ninh địa phương và dân quân Việt Nam, đã sớm đặt các bộ đội Trung Quốc vào một tình trạng chiến đấu không ngờ, làm bộc lộ nhiều nhược điểm và sự vô hiệu năng của QĐGPNDTQ về mặt chỉ huy, truyền thông, và tiếp vận.  Phần lớn các vấn đề có tính chất nội tại trong truyền thống của QĐGPNDTQ.  Trong vài dịp, bộ chỉ huy mặt trận Trung Quốc đã thúc giục sự yểm trợ của không quân khi các cuộc công kích trên bộ gặp phải sự chống đối dữ dội từ phía Việt Nam.  Bộ Tổng Tham Mưu [QĐGPNDTQ] đã từ chối chấp thuận sự cho phép như thế, thay vào đó ra lệnh cho họ chỉ dựa chuyên độc vào pháo binh để yểm trợ hỏa lực. <sup>58</sup> QĐGPNDTQ và các tướng lĩnh của nó được sinh ra từ một truyền thống định chế vốn quen thuộc với việc giao tranh loại chiến tranh bộ binh hạng nhẹ với hỏa lực của pháo binh và ưu thế về quân số.  “Tinh thần của lưỡi lê” vẫn tiếp tục chế ngự.  Hậu quả, Cuộc Chiến Tranh Trung – Việt 1979 thì nhiều chết chóc và bạo tàn trên đất liền.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Sự thành công của cuộc xâm lăng “giáo trừng” của QĐGPNDTQ lệ thuộc vào các chiến thuật xâm nhập, đánh vào cạnh sườn và bao vây Cao Bằng.  Tuy nhie6n, hai sư đoàn tấn công thọc sâu đã không đến được nơi hẹn của chúng trong vòng 24 tiếng đồng hồ.  Địa thế núi đồi, với rừng rậm và không đường xá, và các cuộc phục kích bởi dân quân và các lực lượng địa phương Việt Nam, đã tạo ra các khó khăn bất ngờ cho các binh sĩ Trung Quốc.  Sự chậm trễ của chúng đã buộc Hứu Thế Hữu phải kiềm giữ một cuộc tấn công tức thời vào Cao Bằng, ngay dù một đoàn quân dưới sự chỉ huy của một viên phụ tá, Wu Zhong, đã sẵn tiến sát đến thành phố từ hướng đông và nam. <sup>59</sup> Tuy nhiên, một cuộc điều tra đang tiếp diễn về sự liên hệ chính trị của ông ta trong Cuộc Cách Mạng Văn Hóa đã đình chỉ vị thế chỉ huy của họ Wu vào giữa lúc đang có chiến dịch.  Trong một điện tín ngày 20 Tháng Hai, họ Hứu đã lập lại sự phân công trước đó rằng chiến dịch sẽ tiếp tục nằm dưới sự chỉ huy của một viên tự lệnh phó khác của ông, cho dù viên tự lệnh phó kể sau cùng binh sĩ của ông ta vẫn còn đang đánh mở đường tiến vào Cao Bằng từ hướng bắc.  Mãi cho đến ba ngày sau, họ Hứa và các sĩ quan tham mưu của ông ta mới đi đến việc nhận thức rằng thành phố chỉ được phòng thủ bởi một quân số nhỏ của Việt Nam, che chắn cho bộ chỉ huy của họ và chính quyền tỉnh rút lui.  Ông ta khi đó đã ra lệnh các cuộc công kích vào thành phố, nơi mà các lực lượng Trung Quốc đã chiếm cứ sau vài tiếng đồng hồ giao tranh. <sup>60</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Sự chiếm cứ chậm trễ Cao Bằng đã làm đảo lộn kế hoạch chiến dịch nguyên thủy của QĐGPNDTQ, vốn được thiết kế để mưu tìm các vụ giao chiến quyết định và mau lẹ.  Các lực lượng Việt Nam được phân tán thành các đơn vị cấp đại đội và trung đội, ẩn trốn trong các ngọn núi, rừng rú và hang động, và tiếp tục phóng ra các cuộc phản công.   Sự kháng cự kiên cường bởi các người lính và dân quân Việt Nam đã buộc phía Trung Quốc phải xét lại các chiến thuật hành quân của họ, phân chia binh sĩ thành các đội hình cấp tiểu đoàn và đại đội để tham gia vào các hoạt động lùng và diệt địch ở các khu vực Cao Bằng, Trà Lĩnh, Trùng Khánh và Quảng Hoa [?] [nguyên bản ghi sai là Trung Khang và GuangHoa, chú của người dịch].  Các chiến thuật mới bao gồm việc chặn đường, khai quang các ngọn đồi, lục soát các hang động, tiêu thổ và phá nổ các đường hầm. <sup>61</sup> Các sự giao tranh ác liệt vẫn tiếp tục và hàng trăm binh sĩ và thường dân Việt Nam đã bị giết chết.  Nhưng phải chờ mãi đến ngày 6 Tháng Ba khi các tài liệu Việt Nam tịch thu được dường như cho thấy rằng sư đoàn QĐNDVN được chỉ định để phòng thủ Cao Bằng đã bị đánh bại.  Không có sự kiện đó, các tổn thất nặng nề của QĐGPNDTQ trong giai đoạn đầu tiên sẽ có nghĩa rằng cuộc hành quân xem ra ít thành công hơn nhiều. <sup>62</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Bắc Kinh ngày càng trở nên lo ngại về diễn tiến của cuộc chiến tranh, thúc đẩy viên tư lệnh chiến trường tại Quảng Tây khởi sự trận đánh quyết định vào Lạng Sơn, một cửa ngõ che chắn cho Hà Nội từ phía bắc, càng sớm càng tốt. <sup>63</sup> Rõ ràng không thỏa mãn với những gì đã xảy ra tại Cao Bằng, họ Hứa đã tái tổ chức kế hoạch hành quân và thúc giục các binh sĩ của ông ta phải kịch liệt hơn nữa để đánh chiếm Lạng Sơn.  Sáu sư đoàn Trung Quốc đã tham gia trong trận đánh quyết định này, khởi sự từ ngày 27 Tháng Hai, được mở màn bởi một trận pháo kích ồ ạt.  Sau các trận đánh dữ dội, các lực lượng Trung Quốc trước tiên đoạt được sự kiểm soát trên phần lớn cao điểm bao quanh và sau đó chiếm cứ phần phía bắc thành phố hôm 2 Tháng Ba, vốn là ngày được dự trù để đình chỉ các hoạt động quân sự.  Bởi vì guồng máy tuyên truyền của Hà Nội từ khước không chịu nhìn nhận sự thất trận của Việt Nam tại Lạng Sơn, họ Hứa đã quyết định tiếp tục cuộc hành quân, đẩy các binh sĩ của ông vượt qua sông Kỳ Cùng, vốn phân cách Lạng Sơn thành các huyện phía bắc và phía nam, chiếm đoạt toàn thể thành phố, và sau đó tiến quân xa hơn về hướng nam để tạo lập một tư thế quân sự de dọa Hà Nội. <sup>64</sup> Mặc dù Bắc Kinh ủng hộ quyết định của họ Hứa, nó đã loan báo sự rút quân hôm 5 Tháng Ba, ngay sau khi các binh sĩ Trung Quốc chiếm cứ phần phía nam của Lạng Sơn, tuyên bố rằng họ đã đạt được các mục đích chiến tranh của họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><span style="font-size: medium;"><b>Lượng Định Chiến Tranh Của Trung Quốc Với Việt Nam</b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Cuộc chiến tranh của Trung Quốc với Việt Nam năm 1979 là hoạt động quân sự lớn nhất mà QĐGPNDTQ đã phát động kể từ sau cuộc Chiến Tranh Triều Tiên.  Được dựa trên chiến lược của Mao Trạch Đông rằng “trong mọi trận đánh, tập trung một lực lượng áp đảo tuyệt đối trên địch quân”, Bắc Kinh đã điều động chín quân đoàn chính quy cùng với các đơn vị địa phương quân và đặc biệt, với tổng số hơn 300,000 binh sĩ, để thực hiện một cuộc chiến tranh trừng phạt đánh Việt Nam trong một tháng.  Các đơn vị chiến đấu cơ của Không Quân đã bay 8500 phi vụ trong các nhiệm vụ tuần không, trong khi các đơn vị vận tải và trực thăng thực hiện 228 phi vụ trong các công tác không vận, <sup>65</sup> Hải Quân đã phái một lực lượng đặc nhiệm (bao gồm hai khu trục hạm trang bị hỏa tiễn và ba đội tàu tấn công nhanh trang bị hỏa tiễn và thủy lôi) đến quần đảo Hoàng Sa (Paracels) [Xisha trong nguyên bản, chú của người dịch] để chuẩn bị cho sự can thiệp hải quân của Sô Viết.  Ngoài ra, các tỉnh Quảng Tây và Vân Nam đã động viên hàng chục nghìn dân quân và dân công để yểm trợ cho các hoạt động quân sự của chúng. <sup>66 </sup>Trong suốt cuộc xung đột, các lực lượng Trung Quốc đã chiếm đoạt được ba tỉnh lỵ của Việt Nam và hơn một tá các thành phố và thị trấn biên giới, tuyên bố đã giết và làm bị thương 57,000 binh sĩ Việt Nam và gây tổn hại nặng nề cho bốn sư đoàn chính quy và mười trung đoàn khác cùng với việc tịch thu một số lượng lớn vũ khí.  Bắc Kinh khẳng định rằng cuộc chiến tranh năm 1979 đánh Việt Nam được kết thúc với sự thắng lợi của Trung Quốc. <sup>67</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Tuy nhiên, phần lớn các cuộc nghiên cứu đương thời ghi nhận rằng “Việt Nam trong thực tế đã chiến đấu tốt hơn” các lực lượng Trung Quốc trên chiến trường bởi có các khó khăn của QĐGPNDTQ trong cuộc hành quân và các tổn thất nặng nề được báo cáo. <sup>68</sup> Hà Nội tuyên bố rằng chỉ có các lực lượng địa phương và dân quân đã tham gia vào cuộc xung đột, và đã không sử dụng các chiến thuật phòng thủ ngoài việc tấn công thường trực chống lại quân xâm lược Trung Quốc.  Họ đã chỉ mất Lạng Sơn và các thành phố khác sau khi đã gây ra các tổn thất khổng lồ trên các lực lượng Trung Quốc. <sup>69</sup> Đài Phát Thanh Hà Nội lúc đó đã loan báo rằng phía Việt Nam đã hạ sát và làm bị thường 42,000 binh sĩ Trung Quốc. <sup>70 </sup>Chỉ có ít tài liệu phía Việt Nam được cung cấp cho các nhà nghiên cứu về thành quả và sự tổn thất của họ trong cuộc xung đột ngoài các thông tin được đưa ra bởi các cá nhân trên mạng tin không gian, cho thấy ngược lại sự can dự sâu xa bởi các lục lượng chính quy QĐNDVN và các sự tổn thất nặng nề hơn. <sup>71</sup> Một  sự tái lượng định về cuộc chiến tranh của Trung Quốc với Việt Nam chỉ dựa độc nhất trên các nguồn tin Trung Quốc là một chiều nhưng có thể soi sáng hơn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Một khảo hướng cho sự lượng giá các điều thắng và thua của Trung Quốc là tập trung vào số tổn thất.  Bắc Kinh khởi thủy nhìn nhận rằng 20,000 binh sĩ Trung Quốc hoặc bị chết hay bị thương trong cuộc xung đột biên giới với Việt Nam. <sup>72</sup> Giới học thuật hiện nay có khuynh hướng đi đến một số ước lượng nhiều đến 25,000 binh sĩ QĐGPNDTQ bị chết khi giao chiến và 37,000 người khác bị thương. <sup>73</sup> Các nguồn tin Trung Quốc cung ứng gần đây phân loại các sự tổn thất của QĐGPNDTQ là 6,900 bị chết và khoảng 15,000 bị thương, đưa lại một tổng số tổn thất à 21,900 binh sĩ trên một lực lượng xâm lăng hơn 300,000 người.  Các sự tổn thất của Trung Quốc trong một cuộc chiến tranh ngắn ngủi như thế là khá cao trong bất kỳ trường hợp nào, tiếp tục cho thấy một trong các đặc điểm dai dẳng trong kiểu cách hoạt động và chiến thuật của QĐGPNDTQ: một sự sẵn lòng để chịu nhận các tổn thất nặng nề khi được xem là cần thiết. <sup>74</sup> Các nhà lãnh đạo Trung Quốc xem các sự tổn thất sẽ là một tiêu chuẩn tương đối không quan trọng cho việc đo lường sự thành công quân sự chừng nào họ còn tin tưởng tình hình chiến lược tổng quát vẫn nằm trong tầm tay và sự kiểm soát của họ. <sup>75</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Từ một cái nhìn Trung Quốc, cuộc chiến tranh năm 1979 với Việt Nam đã là một sự đáp ứng quân sự được điều hợp một cách đắn đo trước chính sách của Việt Nam đối với Trung Quốc và sự bành trướng của Việt Nam tại Đông Nam Á cũng như các khát vọng toàn cầu của Sô Viết. <sup>76</sup> Mặc dù chiến dịch này làm phát lộ các khiếm khuyết của QĐGPNDTQ trong học thuyết và các chiến thuật hiện đại, từ lúc khởi đầu cho đến khi kết thúc, Trung Quốc đã nắm chắc sự chủ động và nhịp độ của cuộc xung đột.  Bắc Kinh làm Hà Nội sửng sốt không chỉ bởi việc phóng ra các cuộc tấn công ồ ạt, mà còn bởi sự triệt thoái mau lẹ của nó mà không bị sa lầy tại Việt Nam. <sup>77</sup> Sư thăm dò của nó về sự đáp ứng của Sô Viết đối với cuộc xâm lăng cũng đã thành công trong việc phơi bày sự vô khả năng hay không sẵn lòng của Mạc Tư Khoa để hậu thuẫn cho Việt Nam.  Sự nương tựa của Việt Nam vào Liên Bang Sô Viết về an ninh rõ ràng đã là một kinh nghiệm thất vọng.  Điều sau rốt trở nên quan yếu hơn nữa là cuộc chiến tranh năm 1979 đã là sự khởi đầu của chính sách của Bắc Kinh “làm rỉ máu” Việt Nam trong một nỗ lực nhằm ngăn chặn sự bành trướng của Hà Nội tại Đông Nam Á.  Một sự triệt thoái của Việt Nam ra khỏi Căm Bốt tiếp theo sau cuộc tấn công của Trung Quốc thì đáng mong ước đối với giới lãnh đạo Trung Quốc, nhưng họ không bao giờ dự liệu một sự triệt thoái tức thời.  Trung Quốc vẫn còn điều khiển một sự lựa chọn chiến lược bằng việc duy trì áp lực quân sự trên Việt Nam vốn bao gồm cả sự đe dọa bằng mồm thường trực về một cuộc tấn công thứ nhì, và việc bắn phá bằng trọng pháo dữ dội từng chập và các trận đánh biên giới to lớn trong gần như toàn thể thập niên của các năm 1980. <sup>78</sup> Một cuộc nghiên cứu hồi đầu thập niên 1990 kết luận: “Cuộc chiến tranh thì thành công nhiều nhất khi được nhìn như một chiến thuật trong chiến lược của Trung Quốc về một cuộc chiến tranh tiêu hao kéo dài”. <sup>79</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Tương tự, cuộc chiến tranh đã không tạo ra các hậu quả quốc tế đáng kể cho Trung Quốc.  Sự sử dụng lực lượng quân sự đánh Việt Nam đã nâng cao các mối nghi ngờ của Nam Dương và Mã Lai, các nước luôn luôn cảnh giác về ảnh hưởng của Trung Quốc trong vùng.  Sự chiếm đóng của Việt Nam tại Căm Bốt, điều đã đe dọa Thái Lan, đã giúp sức cho sự tăng trưởng liên tục liên hiệp chống đối mạnh mẽ bởi các nước thuộc khối ASEAN đối với Việt Nam. <sup>80</sup> Liên quan đến mối quan hệ Trung Quốc – Hoa Kỳ, cuộc xâm lăng trừng phạt của Trung Quốc rõ ràng thành công một cách đặc biệt.  Trong khi Hoa Thịnh Đốn công khai kết án cả cuộc xâm lăng của Việt Nam vào Căm Bốt lẫn cuộc xâm lăng của Trung Quốc vào Việt Nam, nó đã chia sẻ cùng quan tâm của Trung Quốc trong việc ngăn chặn ảnh hưởng của Sô Viết tại Đông Nam Á.  Sự sẵn lòng sử dụng vũ lực của Bắc Kinh, bất kể các sự tổn thất đến đâu mà nó phải gánh chịu, đã biến Trung Quốc thành “một kẻ gián chỉ có giá trị” trước chính sách bành trướng của Sô Viết – Việt Nam; Hoa Thịnh Đốn đã tiếp tục tìm kiếm một mối quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc để đối cân với Liên Bang Sô Viết. <sup>81</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Giới lãnh đsạo Việt Nam chưa bao giờ có vẻ làm như thông hiểu chiến lược và các mục tiêu chiến tranh của Trung Quốc, nhưng khăng khăng cho rằng cuộc xâm lăng năm 1979 sẽ là một màn mở đầu của ý đồ trường kỳ của Bắc Kinh nhằm xâm phạm chủ quyền và nền độc lập của Việt Nam. <sup>82 </sup>Sau khi có sự loan báo sự rút quân của Trung Quốc vào ngày 5 Tháng Ba, Hà Nội đã kêu gọi một cuộc tổng động viên toàn quốc trong khi thúc giuc sự xây dựng các vị trí phòng thủ trong và chung quanh Hà Nội.  Vào cuối Tháng Năm, QĐGPNDTQ đã phục viên lại tình trạng bình thường. <sup>83 </sup>Tuy nhiên, Việt Nam tiếp tục phải canh chừng, duy trì các lượng quân số lớn lao dọc theo biên giới phía bắc của nó đôi diện với Trung Quốc vào một thời điểm khi nền kinh tế của nó ở “vào một tình trạng tồi tệ hơn bất kỳ lúc nào khác kể từ 1975”. <sup>84</sup> Hậu quả, các mưu toan của Hà Nội để chiến đấu hai cuộc chiến tranh cùng lúc, một tại Căm Bốt và một tại biên giới phía bắc của nó, rõ ràng đã đưa đến giá phải trả lên cao về mặt xã hội và kinh tế quốc gia, thu hút mất nỗ lực của Hà Nội để hiện đại hóa nền kinh tế của nó, và quan trọng hơn, triệt hạ các tham vọng địa chính trị của nó.  Tuy nhiên, giới lãnh đạo Việt Nam đã không nắm được sự nghiêm trọng của tình hình, và tiếp tục sự lệ thuộc của xứ sớ của họ vào Liên Bang Sô Viết cho đến khi có sự sụp đổ của Sô Viết vào năm 1991.  Nếu có bất kỳ bài học nào mà phía Việt Nam phải rút ra từ cuộc chiến tranh năm 1979 với Trung Quốc, bài học đó là Việt Nam, như một tướng lĩnh Việt Nam nhận định sau này, “phải học cách sống với lân bang to lớn của chúng ta”. <sup>85</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Liên quan đến câu hỏi tại sao Trung Quốc đã lo lắng để sử dụng lực lượng chuẩn mực đánh Việt Nam trong năm 1979, sự phân tích ở đây phù hợp với sự khẳng định bởi các cuộc nghiên cứu khác rằng các sự đe dọa nhận thức được đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ thì đặc biệt quan trọng đối với Bắc Kinh, đủ để mở rộng các trách nhiệm của QĐGPNDTQ vượt xa ngoài sự phòng thủ chống lại sự tấn công. <sup>86</sup> Các tranh chấp lãnh thổ và sự căng thẳng biên giới đã là các thành tố châm ngòi bề ngoài để thúc đẩy Bắc Kinh cứu xét sự sử dụng vũ lực chống lại lân bang phía nam của nó, trong khi sự bộc phát của chủ nghĩa dân tộc nhiều xúc cảm có xu hướng tăng cường một tâm trạng Trung Quốc rằng một số loại trừng phạt trên một đồng minh khi xưa phản bội đã quay lại chống Trung Quốc là cần thiết.  Cảm tính này cũng đã đóng một vai trò đáng kể trong việc mang lại một sự đồng thuận rộng rãi trong các nhà lãnh đạo quân sự và chính trị Trung Quốc để ủng hộ họ Đặng, nhân vật trung tâm trong việc đưa ra các quyết định điều động quân đội đánh Việt Nam.  Trên các vấn đề về chủ quyền lãnh thổ, vốn luôn luôn nâng cao các xúc động của người dân Trung Quốc, quan điểm quân sự xem ra sẽ là yếu tố xác định trong các quyết định để khởi phát các chiến sự thực sự.  Phiên họp tham mưu Tháng Chín, từ việc đưa ra các khuyến cáo cho giới lãnh đạo trung ương để đối phó với các quan hệ đang ngày càng tồi tệ hơn giữa Trung Quốc và Việt Nam, đã là khởi điểm của một hoạt động quân sự quan trọng.  Sự phân tích của quân đội về phản ứng của Sô Viết cũng trợ lực cho sự giải tỏa bất kỳ ngờ vực nào về việc chấp nhận rủi ro, nếu có bất kỳ rủi ro nào hiện hữu.  Dù thế quân đội tự đặt mình dưới các ước muốn của giới lãnh đạo trung ương.  Một khi quyết định đã được đưa ra để phát động một cuộc xâm lăng trừng phạt Việt Nam, các tướng lĩnh QĐGPNDTQ đã hăng hái để đảm nhận các nhiệm vụ của họ với sự ưa thích sử dụng lực lượng tối đa.</span></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><span style="font-size: medium;"><b>Các Bài Học Lĩnh Hội Được</b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Bất kể sự thành công chiến lược của Trung Quốc, vài câu hỏi trọng yếu vẫn còn cần phải giải đáp, chẳng hạn như QĐGPNDTQ đã nhận thức ra sao về thi hành công tác của nó tại Việt Nam, đâu là những bài học mà nó đã lĩnh hội được từ chiến dịch, và đến mức độ nào kinh nghiệm này đã ảnh hưởng đến sự suy tư của QĐGPNDTQ về tương lại của nó.  Như một phần trong truyền thống của QĐGPNDTQ, tất cả các binh sĩ tham dự vào cuộc xung đột đều được lệnh phải viết các bản tóm lược về kinh nghiệm chiến đấu của họ.  Khi nhìn lại quá khứ, giới lãnh đạo QĐGPNDTQ nhận thấy chính mình ở vào một vị thế mâu thuẫn.  Trong khi tuyên bố Trung Quốc đã chiến thắng cuộc chiến, họ đã phải thừa nhận các giá nặng nề mà QĐGPNDTQ đã phải trả.  Trong quan điểm của giới lãnh đạo QĐGPNDTQ, một sự lượng giá vô tư về các khiếm khuyết của QĐGPNDTQ có tính cách bắt buộc.  Tuy nhiên, họ lo sợ về một xu hướng đánh giá quá mức thành quả và các khả năng quân sự của Việt Nam. <sup>87</sup> Theo đúng lẽ, sự tự hào dân tộc và thành kiến văn hóa của họ tất nhiên đã ngăn cản họ đưa ra các kết luận thẳng thắn về kinh nghiệm của QĐGPNDTQ trong cuộc chiến, điều có thể được tổng hợp thành sáu chủ điểm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Chủ điểm thứ nhất nhắm vào một châm ngôn của QĐGPNDTQ theo truyền thông, rằng bất kỳ quyết định quân sự và chiến lược đứng dắn nào phải rút ra từ một sự nắm vững tình hình trong mọi khía cạnh.  Cuộc chiến tranh năm 1979 đã cho thấy rằng QĐGPNDTQ đã chỉ chú ý sơ sài về học thuyết chiến đấu và các chiến thuật của QĐNDVN trước chiến tranh.  Hậu quả, quân đội Trung Quốc đã ước lượng thấp năng lực giao chiến của các đối phương của nó.  Có thể từ sự lo sợ về việc dành quá nhiều uy tín cho quân đội Việt Nam, tài liệu của QĐGPNDTQ kết luận rằng các lực lượng chính quy của địch đã không có sự kiên cường trong sự phòng thủ và tấn công, và đã có ít hoạt động được phối hợp, nhưng đã phải công nhận rằng các chiến thuật loại du kích, các đặc công, và và dân công Việt Nam đã thành công một cách bất ngờ trong việc khiến cho các lực lượng Trung Quốc bị mất thăng bằng trong khi chúng đang tìm kiếm một cách âu lo các trận đánh quyết định với các lực lượng chủ lực của QĐNDVN trong một cuộc chiến tranh tóe lửa. <sup>88</sup>  Một sĩ quan Hoa Kỳ từng có lần tóm tắt kinh nghiệm Mỹ trong Chiến Tranh Việt Nam, ghi nhận rằng không thể nào “để xâm nhập, thọc vào bên sườn và bao vây” các vị trí công sự phòng thủ của Việt Nam “mà không chịu các tổn thất cực kỳ nặng nề”. <sup>89</sup> Các chiến thuật của QĐGPNDTQ về việc xua lính bộ binh của nó vào sự chiến đấu cận chiến đông đảo với các đối phương của họ và sự chấp nhận của nó các tổn thất nhân mạng cao có thể giúp để giải thích tại sao phía Trung Quốc đã đưa ra các sự khẳng định này về sự vô khả năng của QĐNDVN để phòng thủ các vị trị của nó. <sup>90</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Các khó khăn không  ngờ trong cuộc hành quân đã dẫn dắt phía Trung Quốc đến việc rút ra một bài học thứ nhì từ cuộc xung đột liên quan đên tình báo và việc lập kế hoạch.  Sự thiếu thốn từ lâu tin tức về một đồng minh truyền thống đã đặt ra một thách đố chính yếu cho việc hoạch định chiến tranh và các cuộc hành quân của Trung Quốc.  Sự lượng định của QĐGPNDTQ về địa dư và địa hình của miền bắc Việt Nam thường dựa trên các bản đồ và thông tin địa dư lỗi thời, trong khi năng lực thám thính của nó bị giới hạn trên chiến trường. <sup>91</sup> Một thất bại quan trọng của quân đội Trung Quốc là không cứu xét đến số lượng khổng lồ các lực lượng dân quân trong sự tính toán của nó về sức mạnh quân sự của Việt Nam.  Kinh nghiệm của QĐGPNDTQ cho thấy rằng dân quân Việt Nam đã dựng lên một sự kháng cự kiên quyết hơn và đã thực hiện nhiều cuộc đột kích ngạc nhiên hơn vào các lực lượng xâm lăng so với quân chính quy QĐNDVN.  Các nhà hoạch định QĐGPNDTQ khởi thủy đã nghĩ rằng họ đã tập hợp một lực lượng áp đảo với tỷ số 8:1 đối với các lực lượng Việt Nam.  Đã có 40,000 đến 50,000 dân quân trong khu vực Cao Bằng không thôi, sự kiện này đã làm thay đổi một cách đáng kể tỷ số lực lượng xuống 2: 1.  Trong suốt chiến dịch, QĐGPNDTQ không hề có vẻ có khả năng duy trì ưu thế lực lượng để đưa ra một cuộc tấn kích phân định thắng bại.  Cuộc hành quân cũng chứng tỏ sự khó khăn biết bao để thi hành các hoạt động quân sự tại một nước ngoài nếu dân chúng địa phương được động viên để kháng cự. <sup>92</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Cuộc xung đột với Việt Nam đã giúp cho QĐGPNDTQ rút ra được một bài học thứ ba về các năng lực giao chiến của nó.  Đó là lần đầu tiên mà giới lãnh đạo QĐGPNDTQ đã thực hiện các cuộc hành quân liên binh chủng với xe tăng và pháo binh trợ lực cho các cuộc tấn công của bộ binh, trong khi tập hợp các lực lượng không và hải quân để cung cấp yểm hộ.  Sự lạc hậu trong học thuyết và các chiến thuật đã ngăn cản các lực lượng Trung Quốc trong việc thực hiện một cuộc hành quân phối hợp cụ thể.  Trong khi các sự kiềm chế chính trị và tư tưởng quân sự lỗi thời của Bắc Kinh đã cấm chỉ sự tham gia của các lực lượng không quân để trợ lực các cuộc hành quân, các lực lượng diện địa cũng phô bày sự thi hành yếu kém giữa các đơn vị bộ binh, thiết giáp và pháo binh để thực hiện trọn vẹn các chiến thuật liên binh chủng.  Một thí dụ rõ rệt là bộ binh chưa bao giờ được huấn luyện với sự hiểu biết thích đáng về cách thức vận hành cùng với các đơn vị thiết giáp.  Các người lính bộ binh, tự buộc mình vào tháp của xe tăng bằng dây thừng để tránh khỏi bị rơi xuống khi di chuyển, đã bị kẹt cứng khi bị bắn bởi địch quân.  Mặt khác, các đơn vị xe tăng, thường hoạt động không có sự trợ lực của bộ binh và sự truyền tin trực tiếp giữa hai bên, đã phải gánh chịu nhiều tổn thất và hư hại bất ngờ. <sup>93</sup> Kinh nghiệm chiến tranh năm 1979 đã dạy cho QĐGPNDTQ các bài học quý báu trong các kỹ năng liên binh chủng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Bài học thứ tư là vấn đề chỉ huy và kiểm soát vốn đã phát sinh phần lớn từ các truyền thống và văn hóa của QĐGPNDTQ.  Các mối quan hệ cá nhân giữa các sĩ quan chỉ huy và các binh lính, vốn đã được vun xới trong quá khứ, vẫn còn quan trọng đối với QĐGPNDTQ.  Bởi các mối quan hệ  liên cá nhân thì quan trọng hơn các quan hệ định chế, điều không gây ngạc nhiên rằng các nhà lãnh đạo của Quân Khu Quảng Châu đã thừa nhận sau này là họ cảm thấy không thoải mái khi chỉ huy các binh sĩ được chuyển giao từ Các Quân Khu Vũ Hán và Thành Đô suốt trong chiến dịch. <sup>94</sup> Các nhà lãnh đạo này cũng đã nhận được nhiều lời phàn nàn từ lớp binh lính cấp dưới về cung cách lãnh đạo của họ Hứa bởi vì ông ta trước đây chưa từng chỉ huy họ.  Các vấn đề chỉ huy của QĐGPNDTQ đã bị hỗn tạp bởi sự thiếu thốn các sĩ quan có kinh nghiệm chiến đấu.  Bất kể việc phái các sĩ quan cao cấp hơn, các kẻ lão luyện trong chiến tranh, xuống các đơn vị binh sĩ cấp thấp hơn để trợ giúp việc chỉ huy, các hoạt động của QĐGPNDTQ vẫn còn bị thất bại bởi sự vô khả năng của các sĩ quan cấp thấp hơn để đưa ra các phán đoán độc lập và các hoạt động phối hợp vào các lúc nguy kịch.  Dù thế, cuộc chiến tranh năm 1979 với Việt Nam đã khai sinh một thế hệ trẻ các cán bộ quân đội trên chiến trường, và ngày nay nhiều người trong họ đang phục vụ ở các chức vụ cao cấp của QĐGPNDTQ. <sup>95</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       QĐGPNDTQ đã thiếu khá nhiều một hệ thống vận chuyển tiếp tế hiện đại và cơ cấu để trợ lực một hoạt động tấn công, cách xa, di chuyển mau lẹ.  Các thống kê điều hành cho thấy rằng số tiêu dùng trung bình hàng ngày số đạn dược và nhiên liệu là 700 tấn mỗi loại. <sup>96</sup> Các hoạt động tiếp vận đã là một lãnh vực quan trọng cho QĐGPNDTQ rút ra các bài học.  Không có các cơ sở vận tải và nhà kho thích đáng, cả hai Quân Khu Quảng Châu và Côn Minh đã phải gộp chung thành một hệ thống tiếp tế, vốn kbông bao giờ điều hành một cách trôi chảy và có hiệu năng.  Các số lượng đáng kể các đồ tiếp tế đã bị mất mát vì hoặc do sự quản lý yếu kém hay bởi sự phá hoại của Việt Nam.  Trong khi các lực lượng của chúng tiến sâu hơn vào trong lãnh thổ Việt Nam, các sĩ quan tiếp vận cũng nhận thấy khó khăn để giữ các tuyến giao thông mở ngỏ mà không phải di chuyển một số lớn các lực lượng để bảo vệ chúng.  QĐGPNDTQ đã kết luận rằng điều thiết yếu phải tạo lập một bộ chỉ huy vận tải để đối phó với các vấn đề mà các binh sĩ của nó gặp phải trong các cuộc hành quân. <sup>97</sup> Kinh nghiệm này rõ ràng vẫn hệ trọng tại Trung Quốc ngày nay khi viên phó chỉ huy Đại Học Quốc Phòng QĐGPNDTQ nói chuyện tại một cuộc hội thảo về “sự kiểm soát giao thông” trong năm 2002. <sup>98</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Bài học cuối cùng là một sự giải thích về phương cách học thuyết cũ về chiến tranh nhân dân đã được áp dụng như thế nào cho một cuộc xung đột được giao tranh bên ngoài các biên giới của Trung Quốc.  Một nguyên tắc của học thuyết chiến tranh nhân dân là sự động viên thường dân để ủng hộ chiến tranh.  Kinh nghiệm chiến tranh năm 1979 cho thấy rằng gần như là điều bất khả cho các lực lượng QĐGPNDTQ khổng lồ hoạt động bên ngoài xứ sở mà không khuấy động sự ủng hộ của quần chúng cho chiến tranh trong quốc nội.  Các guồng máy tuyên truyền của Bắc Kinh đã khiêu gợi lòng yêu nước và sự kiêu hãnh của công chúng nơi các người lính Trung Quốc.  Các sự biểu lộ mạnh mẽ lòng yêu nước đã giúp QĐGPNDTQ có được sự ủng hộ trực tiếp cho các hoạt động từ người dân sinh sống tại hai tỉnh biên giới.  Riêng trong tỉnh Quảng Tây không thôi, hơn 215,000 cư dân địa phương đã được động viên để phục vụ như các kẻ khiêng cáng, canh gác an ninh và phu khuân vác đồ tiếp liệu đến mặt trận; và hơn 26,000 thành viên dân quân từ vùng biên giới đã thực sự can dự vào các hoạt động chiến đấu trực tiếp.  QĐGPNDTQ vào lúc đó đã có một hỗn hợp hổ lốn của một hệ thống tiếp tế đòi hỏi mọi đơn vị phải tự túc trong việc “tiếp vận đơn lẻ”, hệ thống tiếp tế trên bãi chiến trường. <sup>99</sup> Các chính quyền địa phương đã tạo dễ dàng cho các binh sĩ bằng việc đơn giản hóa các thủ tục ttrưng thu, đã giúp họ nhận được đầy đủ vật liệu và thực phẩm tươi trong thời gian ngắn nhất khả dĩ.  Một kinh nghiệm như thế đã thuyết phục giới lãnh đạo QĐGPNDTQ rằng sự động viên các chính quyền và thường dân địa phương để ủng hộ một cuộc chiến tranh vẫn còn là chìa khóa đi đến chiến thắng. <sup>100</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Các bài học này lĩnh hội được từ cuộc chiến tranh năm 1979 với Việt Nam có thể không mạch lạc, bao quát và hoàn toàn khách quan bởi QĐGPNDTQ không lượng giá sự thành công của nó trong một hoạt động quân sự trên căn bản kết cuộc hành quân mà đúng hơn trên căn bản tác động của cuộc xung đột trên tình hình tổng quát.  Ảnh hưởng sâu xa bởi lời dạy của họ Mao rằng chiến tranh tự nền tảng là một công tác chính trị, chừng nào Trung Quốc còn có thể tuyên xác là thành công trong việc đạt được các mục tiêu quân sự và chiến lược của nó, QĐGPNDTQ sẽ xem các vấn đề phát sinh từ các sự thất bại chiến thuật là thứ yếu.  Đây cũng là lý do tại sao các bài học này biến đổi một cách đáng kể so với những gì được rút ra từ các cuộc nghiên cứu Tây Phương, vốn chính xác và nhiều thông tin hơn ở mức độ nào đó, song có vẻ hơi thái quá một chút qua việc kéo căng các nguồn tài liệu hạn chế của chúng cho các kết luận trên một đề tài cực kỳ phức tạp. <sup>101</sup> Các cuộc nghiên cứu của QĐGPNDTQ xem Cuộc Cách Mạng Văn Hóa (1966-76) sẽ là yếu tố nguy hại đã triệt hủy các truyền thống tốt đẹp của QĐGPNDTQ, và hậu quả, các lực lượng Trung Quốc đã thi hành một cách yếu kém trong chiến tranh.  Các bài học mà QĐGPNDTQ lĩnh hội đặt tiêu điểm nhiều trên trình độ chiến thuật của cuộc chiến với sự nhấn mạnh về chỉ huy và kiểm soát, sự phối hợp giữa các binh lính, cơ cấu lực lượng và vũ khí, hơn là trên triết lý có tính chất học thuyết và chiến lược.  Trong cuộc lượng giá của nó về kinh nghiệm chiến tranh năm 1979, QĐGPNDTQ rõ ràng không có nỗ lực để che đậy hay lướt qua các khuyết điểm và khó khăn của chính nó vào lúc đó; tuy thế, nó đã không cứu xét đến các truyền thống và tư tưởng quân sự sai lầm của chính nó. <sup>102</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Các cuộc nghiên cứu Tây Phương đã nối kết các bài học Việt Nam của QĐGPNDTQ với sự tái lượng giá năm 1985 của giới lãnh đạo Trung Quốc về bản chất của chiến tranh hiện đại và các mối đe dọa đối diện với Trung Quốc, và các nỗ lực sau đó để tinh giản và chuyên nghiệp hóa QĐGPNDTQ trong suốt thập niên 1980. <sup>103</sup> Các bài học Việt Nam của QĐGPNDTQ và sự bùng nổ tiếp tục tại biên giới Trung – Việt trong suốt thập niên 1980 có thể đã giúp cho giới lãnh đạo Trung Quốc thực hiện sự chuyển tiếp chiến lược từ sự nhấn mạnh đến sự chuẩn bị để giao tranh chiến tranh toàn diện sang sự chuẩn bị cho chiến tranh địa phương và hạn chế như chiều hướng của thời đại. <sup>104</sup> Ít nỗ lực đã được thực hiện trong sự biến đổi của QĐGPNDTQ thành một lực lượng hiện đại trong thập niên 1980 để sửa chữa tư tưởng quân sự khiếm khuyết của nó, vốn luôn luôn xem nhẹ vai trò của không lực.  Hậu quả, nếu có bất kỳ điều gì mà QĐGPNDTQ vẫn còn xem ra chưa thẳng thắn, đó là các bài học về ưu thế trên không hay sự trợ lực không quân cận chiến.  Tài liệu và các sách giáo khoa của QĐGPNDTQ tiếp tục trung dẫn “năng lực gián chỉ” của không lực Trung Quốc như nguyên do chính yếu khiến Không Quân Việt Nam đã không tham gia vào cuộc xung đột. <sup>105</sup> Thống Chế Diệp Kiêm Anh (Yi Jianying) còn bình luận một cách diễu cợt rằng các hoạt động trên không giả tạo của Trung Quốc trong cuộc chiến đánh Việt Nam đã là một “phương cách tài tình của việc sử dụng không lực”. <sup>106</sup> Một nhận định như thế không chứng tỏ điều gì khác hơn sự khiếm khuyết của giới lãnh đạo Trung Quốc để tán thưởng vai trò trọng yếu của không lực trong chiến tranh hiện đại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Dù thế, một tổng quan về kinh nghiệm của QĐGPNDTQ trong cuộc chiến tranh năm 1979 với Việt Nam cung cấp các cái nhìn quán triệt hữu ích vào phương cách mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tiến đến các vấn đề chiến tranh và chiến lược ra sao, thì phù hợp với các sự khám phá của các cuộc nghiện cứu hiện có khác. <sup>107</sup> Trước tiên, các nhà lãnh đạo thì cân nhắc và tính toán về thời điểm và cách thức mà sức mạnh quân sự sẽ được sử dụng, nhưng đã không ngần ngại đi đến chiến tranh một khi họ đã quyết định rằng các quyền lợi quốc gia của Trung Quốc bị nguy hiểm hay va chạm.  Thứ nhì, QĐGPNDTQ đã phô bày một sự ưu tiên cho việc chiếm giữ và duy trì sự chủ động hoạt động bằng việc điều động một lực lượng vượt trội.  Thứ ba, cảm nghĩ của Trung Quốc về sự chiến thắng quân sự đặt nhiều vào sự lượng giá của họ các kết cuộc địa chính trị hơn là vào các phán đoán của họ trên thành quả hoạt động tại chiến trường.  Kể từ cuộc chiến tranh năm 1979 với Việt Nam, QĐGPNDTQ đã tến hành các sự tu chỉnh bao quát trong học thuyết phòng thủ, chỉ huy và kiểm soát, các chiến thuật hành quân, và cơ cấu lực lượng, trong khi thế giới của các hoạt động quân sự đã được biến đổi một cách đáng kể kể từ cuộc chiến tranh năm 1979.  Ngày nay, không ai sẽ kỳ vọng các lực lượng vũ trang Trung Quốc lập lại những gì nó đã làm trong cuộc chiến tranh biên giới với Việt Nam.  Từ một quan điểm lịch sử, chuỗi khác biệt của các đặc điểm Trung Quốc bị phát lộ trong cuộc chiến tranh năm 1979 với Việt Nam vẫn còn liên hệ đến định chế quân đội Trung Quốc và với sự hiểu biết của các quan sát viên về chiều hướng của Trung Quốc để sử dụng sức mạnh quân sự không chỉ trong quá khứ mà còn trong hiện tại và tương lai nữa./-      </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">___</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">* Tôi thu thập được rất nhiều từ các sự bình luận và ý kiến của các tác giả Nick Sarantakes, Andrew Scobell, Toshi Yoshihara và Zhai Qiang.  Các quan điểm phát biểu trong bài viết này là của riêng tôi và không nhất thiết phản ảnh chính sách hay lập trường chính thức của Bộ Không Lực, Bộ Quốc Phòng hay chính phủ Hoa Kỳ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em><strong>CHÚ THÍCH:</strong></em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>1. Gerald Segal, Defending China (New York: Oxford University Press, 1985), các trang 211-227; Nayan Chanda, Brother Enemy: the War after the War (New York: Harcourt Brace Jovanovich, 1986); King C. Chen, China’s War with Vietnam, 1979 (Stanford: Hoover Institution Press, 1987); Steven J. Hood, Dragons Entangled: Indochina and the China-Vietnam War (Armonk, NY: M. E. Sharpe, 1992); Bruce Elleman, Modern Chinese Warfare, 1785-1989 (London: Routledge, 2001), chương 17.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>2. Thí dụ, các tài liệu nội bộ được biên soạn bởi Văn Phòng Tổng Quát của Tổng Cục Chính Trị, Zhong Yue bianjing ziwei huanji zuozhan zhengzhi gongzuo jingyan xuanbian (Biên Soạn Các Tài Liệu Về Công Tác Cán Bộ Trong Cuộc Hoàn Kích Tự Vệ Tại Biên Giới Trung – Việt) (Guangzhou: xuất bản bởi ban biên soạn, 1979), từ giờ trở đi được viết tắt là GGZH; các trang trên mạng internet của Trung Quốc chứa đựng tài liệu, các hồi ký, các hồi ức cá nhân và các trích đoạn từ các ấn phẩm Trung Quốc về cuộc chiến tranh năm 1979 với Việt Nam.  Có nhiều báo cáo về các trận đánh gương mẫu bởi các đơn vị cá biệt.  Hữu dụng nhất là “Zhongyue zhanzheng beiwanglu” (Trung-Việt Chiến Tranh Bị Vong Lục: Các Văn Thư về Chiến Tranh Trung – Việt) được cung cấp tại: <a href="http://jngs.3322.org/mymemo/war79/part_1.htm">http://jngs.3322.org/mymemo/war79/part_1.htm</a>, từ giờ trở đi được viết tắt là ZZB.  Các tài liệu đáng chú ý nhất là các hồi ức và hồi tưởng của Zhou Deli về Xu Shiyou (Hứa Thế Hữu) và vai trò của ông ta trong cuộc chiến tranh với Việt Nam: Yi ge guoji canmouzhang de zishu (Các Hồi Ức Cá Nhân Của Một Tham Mưu Trưởng Cao Cấp) (Nanjing: Nanjing Press, 1992), và Xu Shiyou di zuihou yizhan (Trận Đánh Cuối Cùng Của Hứa Thế Hữu) (Nanjing: Jiangsu People Press, 1990).</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>3. Về ba sự phát hiện này, xem Andrew Scobell, “Is there a Chinese way of war”, Parameters, tập 35, Số 1 (Mùa Xuân 2005), các trang 118-121.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>4. Renmin ribao (Nhân Dân Nhật Báo), 19 Tháng Ba 1979.  Muốn có bản tiêng Anh, xem Beijing Review, 23 Tháng Ba 1979.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>5. Harlan W. Jencks, “China’s ‘punitive’ war on Vietnam: A Military Assessment”, Asian Survey, Tập 19, số 8 (Tháng Tám 1979), các trang 802-803; Hood, Dragons Entangled, các trang 50-57; Segal, Defending China, các trang 213-14; Carlyle A. Thayer, “Security issues in Southeast Asia: The Third Indochina War”, bài tham luận được đọc tại Hội Nghị An Ninh và Kiểm Soát Vũ Khi Tại Bắc Thái Bình Dương, Canberra, ACT, 12-14 Tháng Tám 1987.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>6. Robert S. Ross, The Indochina Tangle: China’s Vietnam Policy, 1975-1979 (New York: Columbia University Press, 1988), trang 253.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>7. Thayer, “Security issues in Southeast Asia”, Elleman, Modern Chinese Warfare, trang 285.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>8. Qiang Zhai, China and The Vietnam Wars, 1950-1975 (Chapel Hill, NC: The University of North Carolina Press, 2000), các trang 6, 219.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>9. He Di, “The most respected enemy: Mao Zedong’s perception of the United States”, trong sách đồng biên tập bởi Michael Hunt và Liu Jun, Toward a History of Chinese Communist Foreign Relations, 1920s – 1960s: Personalities and Interpretative Approaches (Washington, DC: Woodrow Wilson International Center for Scholars Asian Program, 1995), các trang 27-66; Chen Jian, “China’s involvement in the Vietnam War, 1964-1969”, The China Quarterly, No. 142, (June 1995), các trang 356-387.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>10. Chen Jian, Mao’s China and the Cold War (Chapel Hill, NC: The University of North Carolina Press, 2001), trang 237.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>11. Cũng xem, Xiaoming Zhang, “China’s involvement in Laos during the Vietnam War, 1963-1975”, The Journal of Military History, số 66 (Tháng Mười 2002), các trang 1141-66.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>12. Wang Taipung (biên tập), Zhonghua renmin gongheguo waijiaoshi (Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Ngoại Giao Sử) (Beijing: World Knowledge Press, 1999), trang 68.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>13. Han Huanzhi, Dangdai Zhongguo jundui de junshi gongzuo (Các Sự Vụ Quân Sự Của Trung Quốc Đương Đại), Tập I, (Beijing: Social Science Press, 1988), các trang 559-560.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>14. Henry J. Kenny, “Vietnamese perceptions of the 1979 war with China”, trong sách đồng biên tập bởi Mark A. Ryan, David M. Finkelstein, và Michael A. McDevitt, Chinese Warfighting: The PLA Experience since 1949 (Armonk, NY: M. E. Sharpe, 2003), trang 228.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>15. Guo Ming (biên tập), Zhong Yue guanxi yanbian sishi nian (A 40-Year Development of the China-Vietnam Relationship) (Nanning: Guangxi People Press, 1992), trang 106.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>16. Xem Arne Odd Westad và các tác giả khác (đồng biên tập), “77 conversations between Chinese and foreign leaders on the wars in Indochina, 1964-1977”, Cold War International History project, Working Paper 22 (Washingtoin, DC: Woodrow Wilson Center, 1998), các trang 94-98, và các trang 194-95.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>17. Lee Kuan Yew, From the Third World to First: The Singapore Story: 1965-2000 (New York: Harper Collins, 2000), trang 595.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>18. Raymond Aron, Peace and War: A Theory of International Relations (Garden City, NY: Anchor Press, 1973), trang 19.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>19. Chanda, Brother Enemy, trang 261.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>20. Phiên họp được chủ tọa bởi Zhang Caiqian, phó tổng tham muu trưởng, với sự tham dự của các sĩ quan tham mưu của các phòng tính báo và hành quân Bộ Tổng Tham Mưu cũng như các sĩ quan của các Quân Khu Quảng Châu và Côn Minh, Zhou Deli, Personal Recollections, các trang 239-240.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>21. Theo tác giả quyển tiểu sử của Wang Shangrong (Dương Thượng Côn), một vấn đề chính yếu mà Bộ Tổng Tham Mưu đã phải đối phó thường xuyên là sự xung đột biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam sau năm 1976, Luo Yuansheng, Baizhan jiangxing Wang Shangrong (The Biography of General Wang Shangrong) (Beijing: PLA Art Press, 1999), các trang 375-77.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>22. Zhou Deli, Personal Recollections, các trang 239-243.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>23. Lee Yuan Yew, The Singapore Story, trang 601.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>24. Thí dụ, xem bình luận của Tân Hoa Xã ngày 27 Tháng Mười, Beijing Review, số 44 (3 Tháng Mười Một 1978), các trang 25-26; Các Báo cáo, Beijing Review, số 45(10 Tháng Mười Một 1978), các trang 26-27.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>25. Zhou Deli, Personal Recollections, các trang 244-45.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>26. Đây là các Quân Đoàn 43, 54, và sư đoàn 58 của Quân Đoàn 20 từ Vũ Hánvàcác Quân Đoàn 13và 50từ Thành Đô.  Tin tức này được dựa trên lịch sử đơn vị rải rác được cung ứng trên trang mạng của ZZB.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>27. Min Li, ZhongYue zhanzheng shinian (Ten Years of Sino-Vietnam War) (Chengdu: Sichuan University Press, 1993), trang 15.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>28. Zhou Deli, Personal Recollections, trang 246; Han Huaizhi, Contemporary China’s Military Affairs, Tập I, các trang 663-678.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>29. Chen, China’s War, các trang 85-86.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>30. Sun Dali, “A turning point in the history of new China”, trong sách biên tập bởi Lin Zhijian, Xin Zhongguo yaoshi shuping (Duyệt Xét Các Biến Cố Quan Trọng Của Tân Trung Quốc) (Beijing: CCP History Press, 1994), các trang 476-500).</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>31. Jin Ye, Hu Juchen, và Hu Zhaocai, Baizhan jiangxing Xu Shiyou (Tiểu Sử Tướng Hứa Thế Hữu) (Beijing: PLA Art Press, 1999), trang 332; Wang Xuan, Mao Zedong zhi jian – minjiang zhixing Xu Shiyoun (Thanh Kiếm của Mao Trạch Đông: Một Vị Tướng Xuất Sắc Hứa thế Hữu) (Nanjing: Jiangsu People Press, 1996), trang 132.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>32. Đã có sự đồn đãi rằng sự thay đổi cấp chỉ huy này một phần vì một sự xung khắc cá nhân giữa họ Hứa và họ Wang khi người kể tên sau, tư lệnh phó của người kể tên trước tại Quân Khu Nam Kinh, đã công khai gia nhập phái chính trị đối lập ở địa phương chống lại họ Hứa trong Cuộc Cách Mạng Văn Hóa hồi năm 1966.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>33. “Lecture notes on the 1979 counterattack in self-defence on the Sino-Vietnamese border” (“Các ghi nhận của bài thuyết giảng về cuộc hoàn kích tự vệ năm 1979 tại biên giới Trung – Việt”) không đề tên tác giả nhưng rõ ràng có sự chính xác trong các chi tiết, trong ZZB.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>34. Chen, China’s War, các trang 85-87; Ross, Indochina Tangle, các trang 230-31; Andrew Scobell, China’s Use of Military Force: Beyond the Great Wall and the Long March (Cambridge: Cambridge University Press, 2003), các trang 130-32.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>35. Họ Trần đã không chỉ ủng hộ quyết định của họ Đặng mà còn đưa ra các khuyến cáo về cách thức điều hành.  Zhu Jiamu, Chen Yun nianpu (A Chronicle of Chen Yun’s Life, 1905-1995), Tập 2 (Beijing: Central Document Press, 2000), các trang 235-36.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>36. Zhou Deli, The Last Battle (Trận Đánh Cuối Cùng), trang 16.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>37. Giới quân sự Trung Quốc đã tính toàn người Nga sẽ phải cần tới 14 ngày hay lâu hơn để đưa ra một sự đáp ứng quân sự, vào lúc đó Trung Quốc hẳn đã đạt được các mục tiêu chiến tranh của nó. </em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>38. Min Li, Ten Years of Sino-Vietnam War, các trang 15-17, Jin Ye, Hu Juchen, và Hu Zhaocai, Xu Shiyou, trang 332; Zhang Weiming, Jin Hui và Zhang Huizheng, Zhong Yue zhanzheng milu (The Secret Account of the China-Vietnam War: Bí mật Chiến Tranh Trung-Việt) (Hong Kong: Tiandi Books, 1993), các trang 27-28.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>39. Segal, Defending China, trang 214.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>40. Nhiều thuộc cấp của ông ta có ghi nhớ rằng họ Đặng sẽ không thay đổi ý nghĩ một khi đã suy nghĩ thấu đáo và đưa ra quyết định.  Thí dụ, xem Chen Zaidao, Chen Zaidao huiyilu (Chen Zaidao’s Memoirs: Hồi Ký của Chen Zaidao) (Beijing: PLA Press, 1991), trang 462.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>41. ZGJX, Tập 1, các trang 2-19.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>42. Zhang Zhen, Zhang Zhen huiyilu (Hồi Ký của Zhang Zhen) (Beijing: PLA Press, 2003), các trang 170-71.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>43. Họ là Xu Xiangqian, Nei Rongzhen và Geng Biao, Jiang Feng và các tác giả khác, Yang Yong jiangjun zhuan (Yang Yong Tướng Quân Truyện) (Beijing: PLA Press, 1991), trang 495.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>44. Zhou Deli, Personal Recollections, trang 257.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>45. Zhang Zhen, Memoirs (Hồi Ký), trang 166.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>46. Zhou Deli, Personal Recollections, các trang 259-260; Jiang Feng và các tác giả khác, Yang Yong, các trang 496-97.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>47. Jencks, “China’s ‘punitive’ war”, các trang 804-805; Herbert Yee, “The Sino-Vietnamese border war”, trong China Report, Tập 16, số 1 (Tháng Một – Tháng hai 1980), trang 22.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>48. Theo Zhou Deli, tên của cuộc hành quân được chọn trong phiên họp ngày 23 Tháng Một.  Zhou Deli, Personal Recollections, trang 258.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>49. Luo Yuansheng, Wang Shangrong, trang 378.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>50. Segal, Defending China, các trang 213-17.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>51. Ross, Indochina Tangle, trang 224.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>52. Zhou Deli, The Last Battle, các trang 123-24.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>53. Zhang Zhizhi, “Air Force troops in the self defensive counterattacks against Vietnam: Các binh sĩ Không Lực Trong Cuộc Hoàn Kích Tự Vệ Chống Việt Nam”, trong sách biên tập bởi Cục Chính Trị của Không Quân, Lantian zhi lu (Con Đường Dẫn Đến Trời Xanh) (Beijing: Cục Chính Trị Không Quân, 1992), các trang 350-52; Wang Hai, Wang Hai shangjiang: Wo de zhandou shengya (General Wang hai: My Combat Career: Thượng Tướng Wang Hai:  Binh Nghiệp Chiến Đấu Của Tôi) (Beijing: Central Document Press, 2000), các trang 337-38.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>54. Thí dụ, Quân Đoàn 13, được chỉ định làm lực lượng tấn kích chính tại Vân Nam, đã bổ sung 70 đại đội với 15,381 binh sĩ bổ túc, trong đó 11,874 là tân binh mới tuyển mộ.  “Lịch sử chiến đấu của Quân Đoàn 13 trong cuộc hoàn kích tự vệ chống Việt Nam”, trong ZZB.  Cũng xem, Zhou Deli, The Last Battle, các trang 63-64, 67-71.  Zhang Zhen, Memoirs (Hồi Ký), trang 170.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>55. Theo một nhà ngoại giao Việt Nam cao cấp, Hà Nội có dự liệu cuộc xâm lăng của Trung Quốc, nhưng không ở một quy mô như thế và với một lực lượng như thế.  Kenny, “Vietnamese Perception”, các trang 221, 228.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>56. Douglas Pike, PAVN: People’s Army of Vietnam (QĐNDVN: Quân Đội Nhân Dân Việt Nam) (Novado, CA: Presidio, 1986), trang 264.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>57. Tin tức này dựa trên một bài báo được phiên dịch bằng tiếng Hán nhan đề “Được chào đón bởi Việt Nam với vòng hoa” nguyên thủy xuất hiện bằng tiếng Nga trên tờ Red Star Paper hôm 16 Tháng Một, 2001, hiện được cung cấp tại trang mạng <a href="http://www.cmilitary.com/articleReader.php?idx=83458">http://www.cmilitary.com/articleReader.php?idx=83458</a>.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>58. Jiang Feng và các tác giả khác, Yang Yong, trang 497.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>59. Zhou Deli, The Last Battle, các trang 158-59.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>60. Qu Aiguo, Baizhan jiangxing Wu Zhong (Tiểu Sử Tướng Wu Zhong) (Beijing: PLA Art Press, 2000), các trang 431-448.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>61. Hiển nhiên không được chuẩn bị cho các cuộc hành quân như thế, Tổng Cục Hậu Cần của QĐGPNDTQ đã tung các súng phun lửa vào trong các trận đánh lúc giữa cuộc chiến.  Zhang Zhen, Memoirs, trang 172.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>62. Zhou Deli, The Last Battle, các trang 176-77.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>63. Zhou Deli, Personal Recollections, trang 281.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>64. Zhou Deli, The Last Battle, trang 222.  Han Huaizhi, Contemporary China’s Military Affairs, Tập 1, trang 669.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>65. Zhang Zhizxhi, “Air Force troops,” trang 353.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>66. ZGJX, Tập 1, các trang 363-65.  Wang Dinglie, Dangdai Zhongguo kongjun (Đương Đại Trung Quốc Không Quân) (Beijing: Social Science Press, 1989), trang 638.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>67. Các lời tuyên bố chiến thắng của QĐGPNDTQ bao gồm sự phá hủy 340 khẩu pháo, 45 xe tăng, và khoảng 400 xe vận tải, và tịch thu được 840 khẩu pháo, và hơn 11,000 khẩu súng nhỏ cùng nhiều loại quân trang khác.  Min Li, Ten Years of Sino-Vietnam War, trang 65.  Cũng xem “Lecture notes on the 1979 counterattack in self-defence”, trong ZZB.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>68. Kenny, “Vietnamese perceptions”, trang 231; Chen, China’s War, trang 113.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>69. Christopher E. Goscha (phiên dịch), “Comrade B on the plot of the reactionary Chinese clique against Vietnam”, Cold War International History Project Bulletin (Washington, DC: Woodrow Wilson Center), Các số 12-12, (Mùa Thu/Mùa Đông 2001), trang 279.  Cũng xem, Kenny, “Vietnamese Perceptions”, trang 230.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>70. Đài Phát Thanh Hà Nội, Phần phát thanh trong nức, 4 Tháng Ba 1979, trong FBIS, 5 Tháng Ba 1979, Việt Nam, trang K25.  Phía Việt Nam ước lượng các số tổn thất của Trung Quốc là 25,000 bị chết và 50,000 người khác bị thương.  Kenny, “Vietnamese Perceptions”, trang 235.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>71. Kenny, “Vietnamese perceptions”, các trang 217-236.  Các bài viết rời rạc về sự can dự của Việt Nam vào trong cuộc xung đột được cung cấp tại</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em><a href="http://www.china-defense.com/forum/index.php?showtopic=2016&amp;hl=1979+war+with+Vietnam">http://www.china-defense.com/forum/index.php?showtopic=2016&amp;hl=1979+war+with+Vietnam</a></em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>72. AFP (Hong Kong), 2 Tháng Năm 1979, trong FBIS, 3 Tháng Năm 1979, PRC, trang E1.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>73. Chen, China’s War, các trang 113-14.  Các số thống kê của tác giả Chen về các sự tổn thất của QĐGPNDTQ đã được trích dẫn sâu rộng như một nguồn tin chính thống trong nhiều cuộc nghiên cứu của Tây Phương.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>74. Một tài liệu nội bộ cho thấy rằng 10, 202 bi nh sĩ bị thương đã nhận được sự điều trị tại 17 bệnh viện trong Quân Khu Quảng Châu, Dui Yue zhiwei huanji zouzhang weiqin baozhang jinglian zhiliao huibian (Biên tập Các Tài Liệu về Kinh Nghiệm Của Công tác Y Tế Trong Cuộc Hoàn Kích Tự Vệ Chống Việt Nam), biên soạn bởi Ban Y Yế Cục Hậu Cần, Quân Khu Quảng Châu (không ghi nơi xuất bản, và được xuất bản bởi ban biên tập, 1979).  Một vài nguồn tin tiếng Hán không chính thức cũng tiết lộ rằng các số tổn thất thì nhẹ hơn ở Vân Nam với 2,812 người bị chết và 5,074 người bị thương.  Được trích dẫn từ “Lecture notes on the 1979 counterattack in self-defence” trong ZZB.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>75. Ron Christman, “How Beijing evaluates military campaigns: an initial assessment”, trong sách đồng biên tập bởi Laurie Burkitt và các tác giả khác, The Lessons of History: The Chinese People’s Liberation Army at 75 (Carlisle, PA: Strategic Studies Institute, US Army War College, 2003), các trang 253-292.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>76. Ross, Indochina Tangle, các trang 223-237; Scobell, China’s Use of Military Force, các trang 135-36.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>77. Theo sự tường thuật, Hà Nội đã hoạch định việc sử dụng bốn sư đoàn để phóng ra một cuộc phản công tại Lạng Sơn vào ngày 7 Tháng Ba, 1979, nhưng không bao giờ thực hiện việc đó bởi có sự triệt thoái của QĐGPNDTQ.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>78. Kể từ 1979, đã có ít nhất sáu cuộc đụng độ biên giới quan trọng giữa Trung Quốc và Việt Nam (Tháng Bảy 1980, Tháng Năm 1981, Tháng Tư 1983, Tháng Tư – Tháng Bảy 1984, Tháng Sáu 1985 và Tháng Mười Hai 1986 – Tháng Một 1987).</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>79. Muốn có thí dụ, xem Annie Gilks, The Breakdown of the Sino-Vietnamese Alliance, 1970-1979 (Berkeley, CA: Institute of East Asian Studies, University of California, 1992), trang 233.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>80. Chen, China’s War, trang 135.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>81. Ross, Indochina Tangle, các trang 234-35.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>82. Kenny, “Vietnamese perceptions”, các trang 234-35; Pike, PAVN, các trang 265-66.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>83. “A notice of the forward command of the Guangzhou Military Region on the forces involved in the war to return to normal status” (Một thông tri của bộ tư lệnh tiền phương của Quân Khu Quảng Châu về các lục lượng tham dự chiến tranh quay trở về trạng thái bình thường”), GGZH, trang 49.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>84. Carlyle A. Thayer, The Vietnam People’s Army under Đổi Mới (Singapore: Institute of South-East Asian Studies, 1994), các trang 11-12.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>85. Kenny, “Vietnamese perceptions”, trang 236.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>86. Xem, thí dụ, Allen S. Whiting, “The PLA and China’s threat perceptions”, The China Quarterly, số 146 (Tháng Sáu 1996), các trang 596-615; Scobell, China’s Use of Military Force, trang 193.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>87. Luo Yuansheng, Wang Shangrong, trang 382.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>88. Zhou Deli, Personal Recollections, các trang 287-290.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>89. Michael Lee Lanning, và Dan Cragg, Inside the VC and the NVA: The Real Story of North Vietnam’s Armed Forces (New York: Ivy Books, 1992), trang 208.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>90. Các nhà phân tích Tây Phương nói chung tin tưởng rằng các đơn vị này của QĐNDVN, với đầy đủ các cựu chiến binh của cuộc chiến tranh lâu dài tại miền nam, được chứng tỏ quen chiến trận và có kỹ năng cao độ trong các chiến thuật của chiến tranh du kích.  Các nguồn tin Việt Nam gần đây cho thấy rằng họ là các lính trưng binh, và mới chỉ gia nhập quân đội trong Tháng Sáu 1978.  Xem chú thích số 71.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>91. Các bản đồ mà QĐGPNDTQ sử dụng có tỷ lệ 1:100,000, được in năm 1965 dựa trên ấn bản năm 1938 của Pháp, cung cấp ít tin tức chi tiết.  Hậu quả, các lực lượng QĐGPNDTQ thường lạc đường trong suốt cuộc tiến quân của chúng tại vùng núi đồi Bắc Việt.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>92. Zhou Deli, Personal Recollections, các trang 294-95.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>93. Theo các nguồn tin Trung Quốc, các đơn vị xe tăng QĐGPNDTQ đã phải chịu các tổn thất nhiều nhất trong bốn ngày đầu tiên của cuộc chiến đấu, lên tới 87% tổng số tổn thất chiến đấu, nhưng phần lớn có thể sửa chữa được.  Vào lúc chấm dứt chiến tranh, chỉ có 44 xe tăng và các xe vũ trang là bị tổn thất hoàn toàn, trưmg dẫn từ ZZB.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>94. Zhou Deli, Personal Recollections, các trang 287-88.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>95. Một vấn đề quan trọng, như cựu tham mưu trưởng Quân Khu Quảng Châu đã vạch ra, là một số các sĩ quan cấp thấp đã có một sự hiểu biết kém cỏi về địa hình và việc đọc bản đồ và đã chỉ có thể dựa vào các chỉ thị từ thượng cấp của họ. Cùng nơi dẫn trên, trang 289.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>96. Cùng nơi dẫn trên, trang 298.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>97. Xu Guangyi, Dangdai Zhongguo jundui de houqin gongzuo (Contemporary China’s Armed Forces Logistics: Công tác Hậu Cần Cho Các Lực Lượng Vũ Trang của Trung Quốc Đương Đại) *Beijing: Social Science Press, 1990), trang 178; Zhang Zhen, Memoirs, trang 172.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>98. Chen Zuhua và Liu Changli, “Summary of the symposium on control of communication”, Zhongguo junshi kexue (Khoa Học Quân Sự Trung Quốc), Tập 15, số 1 (2002), các trang 145-48.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>99. Các binh sĩ QĐGPNDTQ đã phải mua đồ tiếp tế hàng ngày bởi chính họ tại các chợ địa phương.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>100. Zhou Deli, Personal Recollections, các trang 300-301.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>101. Thí dụ, Edward C. O’Dowd và John F. Corbett, Jr., “The 1979 Chinese campaign in Vietnam: lessons learned, trong sách biên tập bởi Laurie Burkitt và các tác giả khác, The Lessons of History, các trang 353-371, nghiên cứu các bài học lĩnh hội bởi QĐGPNDTQ chỉ dựa trên hai nguồn tin: một là bản tóm lược về vai trò được nắm giữ bởi các khóa sinh của trường bộ binh thuộc Quân Khu Quảng Châu trong chiến tranh và nguồn tài liệu kia là một bản phân tích ngắn về chiến dịch 1979 bởi các nhà nghiên cứu thuộc Học Viện Khoa Học Quân Sự.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>102.Phòng Quân Sử, Học Viện Khoa Học Quân Sự, Zhongguo renmin jiefangjun de qishi nian (70 năm Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc) (Beijing: Military Science Press, 1997), trang 613.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>103. David Shambaugh, “China’s military in transition: politics, professionalism, procurement and power projection”, The China Quarterly, số 146 (Tháng Sáu 1996), trang 279.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>104. Li nan, “The PLA’s evolving warfighting doctrine, strategy and tactics, 1985-1995: a Chinese perspective”, và Paul H. B. Goodwin, “From continent to periphery: PLA doctrine, strategy and capabilities towards 2000”, The China Quarterly, số 146 (Tháng Sáu 1996), các trang 443-487.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>105. Liu Guoyu, Zhongguo renmin jiefangjun zhanshi jiaocheng (Textbook of PLA Fighting History: Sách Giáo Khoa Về Lịch Sử Giao Tranh Của QĐGPNDTQ) (Beijing: Military Science Press, 2000), trang 235.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>106. Zhang Zhizhi, “Air Force troops”, các trang 355-56.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>107. Các cuộc nghiên cứu này là của Elleman, Modern Chinese Warfare, Scoibell, China’s Use of Force, Ryan, Finkelstein, và McDevitt, Chinese Warfighting, Mark Burles và Abram Shulsky, Patterns in China’s Use of Force: Evidence from History and Doctrinal Writings (Santa Monica, CA: RAND, 2000), và Allen Whiting, “China’s Use of Force, 1950-95, and Taiwan”, International Security, số 26 (Mùa Thu 2001), các trang 103-130./-</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>_____</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>Nguồn: <b>Xiaoming Zhang</b>, China’s War with Vietnam: A Reassessment, The China Quarterly, số 184, December 2005, các trang 851-874.</em></span></p>
<p class="facebook"><a href="http://www.facebook.com/share.php?u=http://phiatruoc.info/cuoc-chien-tranh-nam-1979-cua-trung-quoc-voi-viet-nam-mot-su-tai-luong-dinh/" target="_blank"><img src="http://phiatruoc.info/wp-content/plugins/add-to-facebook-plugin/facebook_share_icon.gif" alt="Share on Facebook" title="Share on Facebook" /></a><a href="http://www.facebook.com/share.php?u=http://phiatruoc.info/cuoc-chien-tranh-nam-1979-cua-trung-quoc-voi-viet-nam-mot-su-tai-luong-dinh/" target="_blank" title="Share on Facebook">Share on Facebook</a></p>
<p><iframe src='http://www.facebook.com/plugins/like.php?href=http%3A%2F%2Fphiatruoc.info%2Fcuoc-chien-tranh-nam-1979-cua-trung-quoc-voi-viet-nam-mot-su-tai-luong-dinh%2F&amp;layout=button_count&amp;show_faces=true&amp;width=280&amp;action=recommend&amp;colorscheme=light&amp;height=30' scrolling='no' frameborder='0' style='border:none; overflow:hidden; height:30px' allowTransparency='true'></iframe>
<div class="bottomcontainerBox" style="background-color:#F0F4F9;">
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<iframe src="http://www.facebook.com/plugins/like.php?href=http%3A%2F%2Fphiatruoc.info%2Fcuoc-chien-tranh-nam-1979-cua-trung-quoc-voi-viet-nam-mot-su-tai-luong-dinh%2F&amp;layout=button_count&amp;show_faces=false&amp;width=85&amp;action=like&amp;font=verdana&amp;colorscheme=light&amp;height=21" scrolling="no" frameborder="0" allowTransparency="true" style="border:none; overflow:hidden; width:85px; height:21px;"></iframe></div>
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<g:plusone size="medium" href="http://phiatruoc.info/cuoc-chien-tranh-nam-1979-cua-trung-quoc-voi-viet-nam-mot-su-tai-luong-dinh/"></g:plusone>
			</div>
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<a href="http://twitter.com/share" class="twitter-share-button" data-url="http://phiatruoc.info/cuoc-chien-tranh-nam-1979-cua-trung-quoc-voi-viet-nam-mot-su-tai-luong-dinh/"  data-text="Cuộc chiến tranh năm 1979 của Trung Quốc với Việt Nam: Một sự tái lượng định" data-count="horizontal"></a>
			</div>
</p></div>
<div style="clear:both"></div>
<div style="padding-bottom:4px;"></div>
<p><i>Scridb filter</i><!-- Scridb filter--></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phiatruoc.info/cuoc-chien-tranh-nam-1979-cua-trung-quoc-voi-viet-nam-mot-su-tai-luong-dinh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>3</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Các quan hệ Sô Viết &#8211; Trung Quốc và cuộc xung đột Trung Quốc &#8211; Việt Nam năm 1979</title>
		<link>http://phiatruoc.info/cac-quan-he-so-viet-trung-quoc-va-cuoc-xung-dot-trung-quoc-viet-nam-nam-1979/</link>
		<comments>http://phiatruoc.info/cac-quan-he-so-viet-trung-quoc-va-cuoc-xung-dot-trung-quoc-viet-nam-nam-1979/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 20 Dec 2012 03:48:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>tapchiphiatruoc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Lịch sử]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến tranh Biên giới]]></category>
		<category><![CDATA[Ngô Bắc]]></category>
		<category><![CDATA[việt-trung]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phiatruoc.info/?p=9924</guid>
		<description><![CDATA[
Ngô Bắc
Gió-O
Lời Người Dịch:  Dưới đây là bản dịch bài tham luận của tác giả Bruce Elleman, đọc tại Cuộc Hội Thảo 1996 Vietnam Symposium, “After the Cold War: Reassessing Vietnam”, được tổ chức vào các ngày 18-20 Tháng Tư, 1996 tại Vietnam Center, Texas Rech University, Lubbock, Texas.  Vì là văn nói, nên các chú thích về nguồn tài ...]]></description>
	
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: right;"><strong><span style="font-size: medium;">Ngô Bắc</span><br />
</strong><em><span style="font-size: small;"><a href="http://www.gio-o.com/NgoBac/NgoBacBruceElleman1979.htm">Gió-O</a></span></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="font-size: medium;"><strong>Lời Người Dịch:</strong>  Dưới đây là bản dịch bài tham luận của tác giả Bruce Elleman, đọc tại Cuộc Hội Thảo 1996 Vietnam Symposium, “After the Cold War: Reassessing Vietnam”, được tổ chức vào các ngày 18-20 Tháng Tư, 1996 tại Vietnam Center, Texas Rech University, Lubbock, Texas.  Vì là văn nói, nên các chú thích về nguồn tài liệu tham khảo được ghi ngay sau dữ kiện nơi thân bài, thay vì được sắp xếp như các cước chú ở cuối bài văn viết.<span id="more-9924"></span></span></em></p>
<p style="text-align: center;" align="center"><span style="font-size: medium;">***</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Tác giả Gerald Segal, trong quyển sách của ông nhan đề <i>Defending China</i>, đã kết luận rằng cuộc chiến tranh năm 1979 của Trung Quốc đánh Việt Nam là một sự thất bại hoàn toàn: “Trung Quốc đã thất bại không buộc được một sự triệt thoái của Việt Nam ra khỏi [Căm Bốt], đã thất bại không chấm dứt được các vụ đụng độ ở biên giới, đã thất bại không tạo được sự nghi ngờ trên sức mạnh của quyền lực Sô Viết, đã thất bại không xóa tan được hình ảnh về Trung Quốc như một con hổ bằng giấy, và đã thất bại không lôi kéo được Hoa Kỳ vào một liên hiệp chống Sô Viết”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Trong một nỗ lực để thách đố lại quan điểm này cho rằng chính sách của Bắc Kinh đã là một sự thất bại, bài viết này sẽ gắng sức để tái lượng giá vai trò trung tâm mà các quan hệ Trung Quốc – Sô Viết đã đóng giữ trong quyết định của Trung Quốc để tấn công Việt Nam.  Quan trọng nhất, bài viết sẽ cố gắng trình bày rằng việc ấn định thời biểu cho cuộc tấn công hôm 17 Tháng Hai của Trung Quốc vào Việt Nam được nối kết với sự kỷ niệm hàng năm lần thứ 29 bản Hiệp Ước Hữu Nghị, Liên Minh và Trợ Giúp Hỗ Tương giữa Trung Quốc và Sô Viết năm 1950.</span></p>
<div id="attachment_9925" class="wp-caption alignleft" style="width: 410px"><a href="http://phiatruoc.info/cac-quan-he-so-viet-trung-quoc-va-cuoc-xung-dot-trung-quoc-viet-nam-nam-1979/la%cc%a3ng-so%cc%9bn-vietnam-1979/" rel="attachment wp-att-9925"><img class="size-full wp-image-9925" alt="Mặt trận Lạng Sơn tháng 2, 1979" src="http://phiatruoc.info/wp-content/uploads/2012/12/Lạng-Sơn-Vietnam-1979.png" width="400" height="355" /></a>
<p class="wp-caption-text">Mặt trận Lạng Sơn tháng 2, 1979</p>
</div>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Người ta phải nhớ lại rằng vào ngày 14 Tháng Hai, 1950 Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa đã ký kết một hiệp ước có hiệu lực 30 năm bao gồm cả các nghị định thư bí mật ủng hộ vai trò của Liên Bang Sô Viết (LBSV) như nước lãnh đạo phong trào cộng sản thế giới.  Khi sau này Mạc Tư Khoa cự tuyệt không tái thương thảo về các sự tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và Sô Viết, sự kiện này đã dẫn dắt đến các vụ đụng độ ở biên giới Trung Quốc – Sô Viết, quan trọng nhất là vào cuối thập niên 1960.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Các học giả Tây Phương tất cả đều thường quên rằng ngay trong suốt thời kỳ căng thẳng này giữa Trung Quốc và Sô Viết, bản Hiệp Ước Hữu Nghị, Liên Minh và Trợ Giúp Hỗ Tương Trung Quốc-Sô Viết 1950 vẫn còn đầy đủ hiệu lực trong suốt toàn thể thời kỳ của sự xáo trộn.  Ít nhất từ quan điểm của Bắc Kinh, hiệp ước Trung Quốc – Sô Viết 1950 đã là một công cụ quan trọng xuyên qua đó Mạc Tư Khoa đã cố gắng hành xử “bá quyến” của nó trên Trung Quốc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Mạc Tư Khoa rõ ràng quan tâm đến những gì có thể xẩy ra khi hiệp ước Trung Quốc – Sô Viết đáo hạn 30 năm của nó.  Bắt đầu từ năm 1969, LBSV thường xuyên thúc dục Trung Quốc thay thế hiệp ước 1950 bằng một hiệp định mới.  Trong năm 1978, các lực lượng Sô Viết được gia tăng dọc các biên giới Trung Quốc – Sô Viết và Trung Quốc – Mông Cổ.  Mạc Tư Khoa cũng đã tìm cách buộc Bắc Kinh phải đi đến sự thỏa thuận bằng việc tăng cường các quan hệ ngoại giao với Hà Nội, ký kết một hiệp ước phòng thủ hai mươi lăm năm với Việt Nam vào ngày 3 Tháng Mười Một, 1978.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Tuy nhiên, thay vì lùi bước, Trung Quốc đã loan báo ý định của nó nhằm xâm lăng Việt Nam vào ngày 15 Tháng Hai, 1979, ngay chính ngày đầu tiên mà nó có thể chấm dứt một cách hợp pháp Hiệp Ước Trung Quốc – Sô Viết 1950 và Trung Quốc đã tấn công ba ngày sau đó.  Khi Mạc Tư Khoa không can thiệp, Bắc Kinh đã tuyên bố công khai rằng LBSV đã không giữ đúng nhiều lời hứa hẹn của LBSV nhằm trợ giúp Việt Nam.  Sự thiếu sót của LBSV để ủng hộ Việt Nam khiến cho Trung Quốc bạo dạn hơn để loan báo hôm 3 Tháng Tư, 1979 rằng nó đã có ý định chấm dứt bản Hiệp Ước Hữu Nghị, Liên Minh và Trợ Giúp Hỗ Tương giữa Trung Quốc và Sô Viết năm 1950.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Thay vì làm việc dưới sự giả định rằng cuộc xâm lăng năm 1979 của Trung Quốc vào Việt Nam là một sự thất bại hoàn toàn, bài viết này sẽ cố gắng giải trình rằng một trong các mục đích ngoại giao chính yếu đàng sau cuộc tấn công của Trung Quốc là nhằm phơi bày các sự cam kết của Sô Viết về sự ủng hộ quân sự cho Việt Nam là một sự lừa bịp.  Nhìn dưới ánh sáng này, chính sách của Bắc Kinh thực sự đã là một sự thành công về ngoại giao, bởi vì Liên Bang Sô Viết đã không tích cực can thiệp, chính vì thế phô bày các giới hạn thực tế của thỏa ước quân sự giữa Sô Viết – Việt Nam.  Kết quả, bài viết này sẽ nêu ý kiến rằng Trung Quốc đã đạt được một thắng lợi chiến lược bằng việc tối thiểu hóa khả tính tương lai về một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận chống lại LBSV và Việt Nam và một chiến thắng ngoại giao bằng việc chấm dứt Hiệp Ước Trung Quốc – Sô Viết năm 1950.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Bài viết này cũng sẽ tái lượng giá lời tuyên bố của Bắc Kinh rằng sự thiếu sót không can thiếp của LBSV chống Trung Quốc đã chứng tỏ rằng LBSV chỉ là một “con gấu bắc cực bằng giấy”.  Các tài liệu văn khố được giải mật gần đây tại LBSV có chiều hướng ủng hộ cho lời tuyên bố của Trung Quốc, nêu lên câu hỏi quan trọng là liệu vào năm 1979 Bắc Kinh đã sẵn xác định một cách chính xác các triệu chứng ở Viễn Đông cho sự suy đồi nội bộ của Mạc Tư Khoa – cùng sự suy đồi sau hết dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Sô Viết năm 1991 – vài năm trước khi bằng chứng tương tự của sự suy đồi này trở nên khả cung tại chiến trường Âu Châu.  Nếu đúng thế, khi đó có khả tính hiện hữu rằng “bước khởi đầu của sự kết thúc” Cuộc Chiến Tranh Lạnh thực sự đã xảy ra tại Á Châu.</span></p>
<h2 style="text-align: justify;" align="center"><strong><span style="font-size: medium;">Lược Sử Các Quan Hệ Trung Quốc – Sô Viết</span><span style="font-size: medium;">Cho Đến Cuối Thập Niên 1960</span></strong></h2>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Các quan hệ Trung Quốc – Sô Viết cho đến cuối thập niên 1960 bị hư hỏng không chỉ bởi sự bất đồng sâu sắc về quy chế của vùng Ngoại Mông, mà còn bởi nhiều cuộc tranh chấp lãnh thổ dọc theo biên giới Trung Quốc – Sô Viết.  Trong thực tế, các sự xung đột này làm ung thối bên dưới bề mặt của các quan hệ Nga – Hoa trong hơn một thế kỷ, suốt từ khi Đế Quốc Nga đã ép buộc Trung Quốc phải ký kết một loạt các hiệp ước nhượng lại cho Nga các vùng đất bao la.  Theo quyển sách sắp xuất bản nhan đề <i>Imperial Rivals</i> (<i>Các Đối Thủ Đế Quốc)</i> của S. C. M. Paine, “Đối với Trung Hoa, các sự mất mát lãnh thổ thực sự thì khổng lồ: một khu vực vượt quá diện tích bên phía đông sông Mississippi của Hoa Kỳ đã chính thức trở thành lãnh thổ của Nga hay, trong trường hợp của Ngoại Mông, là vùng đất bảo hộ của Sô Viết”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Tiếp theo sau cuuộc Cách Mạng năm 1949 của Trung Quốc, Mao Trạch Đông đã du hành sang Mạc Tư Khoa để điều đình một hiệp ước chính thức với Stalin.  Sau hai tháng, Hiệp Ước Hữu Nghị, Liên Minh, và Trợ Giúp Hỗ Tương giữa Trung Quốc – Sô Viết được hoàn tất và ký kết hôm 14 Tháng Hai, 1950.  Thời hạn của bản hiệp ước này là ba mươi năm và điều khoản số sáu quy định một cách đặc biệt rằng nếu không bên kết ước nào loan báo ý định của mình muốn chấm dứt bản hiệp ước trong năm sau cùng của nó, khi đó liên minh sẽ tự động được triển hạn cho năm năm nữa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Trong thực tế, các phiên bản được ấn hành của bản hiệp ước Trung Quốc – Sô Viết này đã không bao hàm nhiều nghị định thư bí mật.  <i>Tạp Chí Dự Án Lịch Sử Quốc Tế Về Chiến Tranh Lạnh</i>, số Mùa Đông 1995 bao gồm một bài viết gồm sự trình bày của họ Mao về các cuộc thương thảo Trung Quốc – Sô Viết bí mật:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Trong các cuộc thương thảo, theo đề xướng của Stalin đã có một nỗ lực được tiến hành bởi Liên Bang Sô Viết để đảm nhận quyền sở hữu độc nhất Đường Hỏa Xa Changchun (tức Harbin, ?Trường Xuân) của Trung Quốc.  Tuy nhiên, sau đó một quyết định đã được đưa ra về việc khai thác chung …Đường Hỏa Xa, ngoài những gì mà CHNDTQ đã trao cho LBSV căn cứ hải quân tại Hải Cảng Port Arthur, và bốn công ty cổ phần hỗn hợp được thiết lập tại Trung Quốc.  Theo đề xuất của Stalin, … Mãn Châu và Tân Cương trong thực tế được biến thành các khu vực chịu ảnh hưởng của Sô Viết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Chính vì thế, mặc dù các phần công bố của Hiệp Ước Trung Quốc – Sô Viết năm 1950 đã được hay biết từ lâu, một số lượng không được xác định các nghị định thư bí mật cũng đã được ký kết, cho đên nay, các bản sao của các nghị định thư này chưa hề được ấn hành. (Bruce Elleman, “The End of Extraterritoririality in China: The Case of the Soviet Union, 1919-1960”, Republican China (sắp được ấn hành, Mùa Xuân 1996).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Vào ngày 15 Tháng Hai, 1950, họ Mao cũng miễn cưỡng đồng ý “quy chế độc lập” của MPR (Mongolian People’s Republic: Cộng Hòa Nhân Dân Mông Cổ: CHNDMC).  Tuy nhiên, sự nhìn nhận này còn lâu mới là việc thừa nhận sự độc lập hoàn toàn của Mông Cổ ra khỏi Trung Quốc, bởi họ Mao tin tưởng một cách vững chắc rằng chính phủ Sô Viết trước đây đã hứa hẹn trao trả Mông Cổ lại cho Trung Quốc.  Dựa trên các sự phàn nàn sau này của họ Mao, họ Mao hẳn đã phải nhận được các sự bảo đảm của Stalin về quy chế của Mông Cổ, cũng như về vị trí chính xác của các biên giới Trung Quốc – Mông Cổ và Trung Quốc – Sô Viết, sẽ được thảo luận trong các phiên họp tương lai.  Chính vì thế, sự cự tuyệt của Mạc Tư Khoa để mở các cuộc thương thảo với Bắc Kinh sau rốt đã dẫn đến các sự đụng độ biên giới trong các thập niên 1950 và 1960.  Mặc dù biên giới Trung Quốc – Mông Cổ đã được giải quyết trong năm 1962, họ Mao đã công khai tố cáo các sự xâm lấn của Sô Viết vào lãnh thổ của Trung Quốc và ông ta đã phản đối sự kiểm soát của Sô Viết tại Mông Cổ: “Liên Bang Sô Viết, lấy cớ bảo đảm cho nền độc lập của Mông Cổ, thực sự đã đặt xứ sở này dưới sự thống trị của nó”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Vào cuối thập niên 1960, trong một loạt các biến cố biên giới dọc các con sông Ussuri và Amur, QĐGPNDTQ đã biểu lộ một sự kiên cường đáng ngạc nhiên chống lại Hồng Quân [Sô Viết].  Các vụ xung đột này này có phạm vi nhỏ và kết cuộc cho thấy là không ngã ngũ, nhưng chúng đã dẫn dắt đến các vụ xung đột lãnh thổ sau này tại Tân Cương dọc theo biên giới của Trung Quốc với LBSV.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Mặc dù sự căng thẳng trong các quan hệ Trung Quốc – Sô Viết thì lớn lao đên nỗi nhiều học giả Tây Phương đã đề cập đrến nó như một “sự rạn nứt”, bản Hiệp Ước Trung Quốc – Sô Viết năm 1950 vẫn tiếp tục hiện hữu.  Trong thực tế, bản hiệp ước này, bao gồm cả các điều khoản đã được phổ biến một cách công khai và các nghị định thư bí mật, vẫn còn là nền tảng trên đó các quan hệ Trung Quốc – Sô Viết dựa vào.  Tuy nhiên, nền tảng này đã bất ổn định ngay từ lúc khởi đầu, bởi LBSV đã từ chối không chịu giao hoàn các phần đất giành đoạt phi nghĩa của Nga thời Sa Hoàng cho giới lãnh đạo cộng sản Trung Quốc.  Điều có thể tranh luận rằng chính điều này, hơn bất kỳ lý do nào khác, đã dẫn dắt các nhà lãnh đạo Trung Quốc đến việc kết án “chủ nghĩa bá quyền” của Sô Viết tại vùng Viễn Đông.  Cũng chính vấn đề này đã nhất thiết làm chua chát các quan hệ của Trung Quốc với Việt Nam trong thập niên 1970.</span></p>
<h2 style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: medium;">Các Quan Hệ Trung Quốc – Sô Viết Trong Thập Niên 1970</span></strong></h2>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Các cuộc tranh chấp biên giới Trung Quốc – Sô Viết hồi cuối thập niên 1960 đặc biệt đáng lo âu cho Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh, bởi cả LBSV lẫn Trung Quốc giờ đây đều là các nước có vũ khí hạt nhân; rõ ràng một sự đồng thuận không chính thức đã được đạt tới là không bên nào sẽ vận dụng đến không lực. (Christian F. Ostermann, “New Evidence on the Sino-Soviet Border Dispute”, <i>Cold War International History Project Bulletin</i>, Issue 5 (Spring 1995), 186-193).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Tuy nhiên, các vụ xung đột biên giới Trung Quốc – Sô Viết này đã có các tác động xã hội khổng lồ, buộc cả hai nước phải chuyển hướng các tài nguyên khan hiếm vào việc chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh hạt nhân khả hữu hay cho sự leo thang quân sự tương lai dọc theo các biên giới chung của hai nước.  Niềm tin tưởng mới tìm thấy của QĐGPNDTQ rằng nó có thể đối đầu với Hồng Quân cũng đã mang lại cho Bắc Kinh cơ hội trong năm 1971 để chấp nhận một đề nghị chính sách ngoại giao mới bằng việc phát huy các quan hệ thân hữu với Hoa Kỳ.      </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Ngoài ra, Trung Quốc đã rán sức để cải thiện các quan hệ của nó với Nhật Bản, đã ký kết một hiệp ước trong Tháng Tám 1978 rõ ràng có tính chất chỉ trích chính sách ngoại giao của Liên Bang Sô Viết tại Á Châu bằng cách kết án một cách cá biệt “chủ nghĩa bá quyền”.  Sau cùng, các căng thẳng Trung Quốc – Sô Viết cũng đã làm sinh sôi một số các cuộc chiến tranh ủy nhiệm tại Đông Nam Á, chẳng hạn như cuộc xung đột cuối thập niên 1970 giữa Căm Bốt và Việt Nam, cũng như buộc Trung Quốc [sỉc, nhiều phần là LBSV mới đúng nghĩa của câu văn, chú của người dịch] phải chấp nhân vai trò của Trung Quốc như một quyền lực trong vùng, được thể hiện rõ nhất bằng cuộc xâm lăng của nó trong năm 1979 vào Việt Nam để triệt hạ ảnh hưởng gia tăng của LBSV.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Trong suốt thập niên 1970, các căng thẳng Trung Quốc – Sô Viết vẫn còn ở cao độ.  Trong thời kỳ này, Mạc Tư Khoa đã cố gắng để thuyết phục Bắc Kinh thương thảo một hiếp định mới sẽ hoặc ủng hộ, hay ngay cả thay thế, cho Hiệp Ước Năm 1950 giữa Trung Quốc – Sô Viết.  Khởi đầu trong năm 1969 và 1970, Mạc Tư Khoa đã đề nghị rằng hai phía hứa hẹn không tấn công nhau, và đặc biệt không bao giờ vận dụng tới các vũ khí hạt nhân.  Tuy nhiên, khi Bắc Kinh không bày tỏ bất kỳ sự quan tâm nào đến sự thỏa thuận này, Mạc Tư Khoa đã đề nghị trong năm 1971 rằng hai nước sẽ ký kết một hiệp ước mới sẽ cùng từ bỏ [sử dụng] vũ lực.  Sau đó, trong năm 1973, Mạc Tư Khoa đã bày tỏ sự quan tâm của nó bằng việc đề nghị một cách cá biệt rằng hai nước ký kết một thỏa ước bất tương xâm; Bắc Kinh tiếp tục tảng lờ các đề xuất của Mạc Tư Khoa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Khi sự chấm dứt thời hạn 30 năm Hiệp Ước Trung Quốc – Sô Viết đến gần, các nỗ lực của LBSV để thay thế bản hiệp ước này đã gia tăng một cách quyết liệt.  Thí dụ, vào ngày 24 Tháng Hai, 1978, Mạc Tư Khoa đã đề nghị một cách công khai rằng hai chính phủ công bố một tuyên bố về các nguyên tắc sẽ điều hành các quan hệ Trung Quốc – Sô Viết.  Lời tuyên bố về các nguyên tắc này sẽ bao gồm: 1} sự bình đẳng, 2) sự tôn trọng hỗ tương chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ, 3) việc bất can thiệp vào các công việc nội bộ của nhau, và 4) việc không sử dụng vũ lực.  Mạc Tư Khoa rõ ràng đã hy vọng rằng một bản tuyên bố như thế có thể được dùng để thay thế cho bản Hiệp Ước Trung Quốc – Sô Viết năm 1950 để điều hòa các quan hệ Trung Quốc – Sô Viết.  Mục đích tối hậu tcủa các đề nghị của LBSV, tuy thế, rõ ràng để giới hạn, hay có lẽ còn làm giảm bớt, ảnh hưởng gia tăng của Trung Quốc khắp Á Châu.  (Theo tác giả Chang Pao-min, khía cạnh này trong các chính sách của Sô Viết đối với Trung Quốc thì có tính chất hấp dẫn nhất đối với phía Việt Nam, còn trích dẫn một viên chức Việt Nam có tuyên bố như sau: “Có một quyền lợi Sô Viết mạnh mẽ cụ thể nhất trùng hợp với các quyền lợi của Việt Nam – giảm bớt ảnh hưởng của Trung Quốc tại phần đất này của thế giới”. Chang Pao-min, <i>Kampuchea Between China and Vietnam</i> (Singapore, Singapore University Press, 1985), 46-47).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Tuy nhiên, Bắc Kinh đã cự tuyệt tất cả các đề nghị của Mạc Tư Khoa, và trong suốt thập niên 1970, sự kết án của Trung Quốc đối với LBSV đã trở nên lớn giọng hơn.  Thí dụ, trong Tháng Hai 1974, Mao Trạch Đông đã công khai kêu gọi một liên hiệp “thế giới thứ ba” chống lại điều được gọi là “thế giới thứ nhất”, trong trường hợp này gồm cả LBSV lẫn Hoa Kỳ.  Tuy nhiên, sau khi có sự từ trần của họ Mao, một bản tin ngày 1 Tháng Mười Một 1977 của tờ <i>Nhân Dân Nhật Báo</i>, đã xác định LBSV là kẻ thù nguy hiểm nhất của Trung Quốc trong khi Hoa Kỳ giờ đây được xem là một đồng minh.  Tất cả các nước cộng sản – kể cả đặc biệt Việt Nam (“Sự suy đồi trong các quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc sau năm 1975 và sự xếp hàng thân Sô Viết hiện thời của Việt Nam có thể dõi tìm nơi sự kháng cự của Việt Nam trước áp lực của Trung Quốc buộc Việt Nam phải lựa chọn phe cánh”, Ramesh Thaku[r] và Carlyle Thayer, <i>Soviet Relations with India and Vietnam</i> (New York, St. Martin’s Press, 1992), 287) – cũng đều được xem là các đồng minh tiềm năng trong một “mặt trận thống nhất” đề nghị chống lại LBSV.  Sau cùng, vào ngày 26 Tháng Ba, 1978, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã đòi hỏi rằng Mạc Tư Khoa, ngoài việc thừa nhận sự hiện hữu của “các khu vực tranh chấp” dọc biên giới Trung Quốc – Sô Viết, phải triệt thoái hoàn toàn các bộ đội Sô Viết ra khỏi Cộng Hòa Nhân Dân Mông Cổ, cũng như rút quân lùi xa khỏi toàn thể biên giới Trung Quốc – Sô Viết.   </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Trong sự đáp ứng với các đòi hỏi của Trung Quốc, Leonid Brezhnev, Tổng Bí Thư Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Liên Bang Sô Viết (ĐCSLBSV), đến thăm viếng vùng Siberia (Tây Bá Lợi Á) hồi đầu Tháng Tư 1978, và có loan báo rằng trang thiết bị mới, tân tiến hơn đã được cung cấp cho các đơn vị hỏa tiễn dọc theo biên giới Trung Quốc – Sô Viết.  Các vũ khí mới này, Brezhnev loan báo, sẽ là công cụ trong việc “bảo toàn cho chính chúng ta và các nước thân hữu xã hội chủ nghĩa của chúng ta chống lại sự xâm lược khả hữu, bất kể nguồn gốc từ đâu”.  Không lâu sau đó, vào ngày 12 Tháng Tư, 1978, Ulan Bator [thủ đô của Mông Cổ, chú của người dịch] cũng công khai phản đối các đòi hỏi của Bắc Kinh, tuyên bố rằng các binh sĩ Sô Viết bổ túc đã được đồn trú dọc biên giới Trung Quốc – Mông Cổ theo lời yêu cầu của Mông Cổ nhằm dáp lại các sự tập trung bộ đội Trung Quốc gia tăng tại phía nam biên giới.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Như các biến cố này đã phô bày hoàn toàn rõ ràng, vào năm 1978 các căng thẳng biên giới Trung Quốc – Sô Viết đã gia tăng cường độ một cách mạnh mẽ, chính yếu bởi các sự tập trung binh sĩ Sô Viết nhiều hơn dọc theo biên giới Trung Quốc – Sô Viết và tại Cộng Hòa Nhân Dân Mông Cổ. Ở một mức độ rộng lớn hơn, tình trạng này có thể được giải thích bởi các nỗ lực liên tục của Mạc Tư Khoa nhằm áp lực Bắc Kinh không được chấm dứt bản Hiếp Ước Trung Quốc – Sô Viết năm 1950, vốn có thể bị kết thúc ngay trong lần đầu tiên vào năm 1979, hay – tốt hơn nữa – thương thảo một hiệp ước mới nhằm phác họa các nguyên tắc trên đó các quan hệ tương lai của Trung Quốc – Sô Viết sẽ được đặt đinh.  Lời loan báo của Brezhnev rằng ông ta có ý định sử dụng các lực lượng Sô Viết chống lại Trung Quốc nhân danh “các nước thân hữu xã hội chủ nghĩa” của Mạc Tư Khoa cũng là một sự cảnh cáo cho Bắc Kinh không được nhúng tay vào CHNDMC cũng như các đồng minh của Mạc Tư Khoa tại Đông Nam Á.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Trung Quốc đã không chỉ không nhượng bộ dưới áp lực quân sự và ngoại giao của LBSV, mà Bắc Kinh kế tiếp đã cố gắng sử dụng áp lực ngoại giao lên trên Mạc Tư Khoa bằng cách gắng sức để củng cố các quan hệ của nó với cả Hoa Kỳ và Nhật Bản.  Điều có thể gây tranh luận rằng chính sách của Bắc Kinh đã thành công hơn trong hai đường lối, đưa đến việc Bắc Kinh đã ký kết hai hiệp định đánh dấu lịch sử với cả Hoa Thịnh Đốn lẫn Đông Kinh.  Đối với Mạc Tư Khoa, điều hẳn phải xem rõ ràng rằng các hiệp định mới của Trung Quốc là nhằm chống lại LBSV, bởi – ít nhất trong trường hợp bản hiệp ước Trung – Nhật – hai bên đã kết án một cách cá biệt “chủ nghĩa bá quyền”, một khẩu hiệu hay được Trung Quốc sử dụng để chỉ chính sách bành trướng của Sô Viết.  Sự đáp ứng của LBSV là tăng cường các quan hệ ngoại giao của nó với tất cả các nước Đông Nam Á giáp ranh với Trung Quốc, và quan trọng nhất trong các nước đó, Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: medium;">Các Quan Hệ Trung Quốc – Sô Viết và </span><span style="font-size: medium;">Việt Nam Cho Đến Tháng Hai Năm 1979</span></strong><span style="font-size: medium;"><br />
</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Mặc dù Trung Quốc không phải là một nước tham dự vào cuộc xung đột Việt Nam trong các thập niên 1960 và 1970, sự ủng hộ vật liệu và kinh tế của Trung Quốc cho Việt Nam đã đóng một vai trò quan yếu.  Trung Quốc đã không chỉ gửi các binh sĩ sang Việt Nam để trợ giúp việc duy trì các tuyến tiếp tế, sự ước lượng của Bắc Kinh về sự hỗ trợ của nó cho Hà Nội từ 1950 đrến 1978 đã vượt quá 20 tỷ [MỹKim?] (King C. Chen, <i>China’s War with Vietnam</i>, 1979 (Stanford, CA, Hoover Institution Press, 1987).  Vì thế, thật không khó khăn để hiểu rằng tại sao Bắc Kinh lại có thể động lòng trước các quan hệ được cải thiện giữa Mạc Tư Khoa và Hà Nộivào cuối thập niên 1970.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Điều này đặc biệt đúng sau khi hai nước ký kết một hiệp ước phòng thủ hỗ tương vào ngày 3 Tháng Mười Một năm 1978 đặc biệt nhắm vào Trung Quốc.  Theo một học giả, liên minh Sô Viết – Việt Nam này biến Việt Nam thành “mấu chốt” trong “nỗ lực ngăn chặn Trung Quốc” của LBSV.  (Robert A. Scalapino, “The Political Influence of the USSR in Asia”, trong sách biên tập bởi Donald S. Zagoria, <i>Soviet Policy in East Asia</i> (New Haven, Yale University Press, 1982), 71).  Vì thế, theo quan điểm của Bắc Kinh, mưu toan của mạc Tư Khoa nhằm bao vây Trung Quốc về mặt ngoại giao rõ ràng trên bờ của sự thành công.  Sự nhận thức này đã châm ngòi cho cuộc xâm lăng của Trung Quốc vào Việt Nam trong Tháng Hai 1979.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Mặc dù các quan hệ ngoại giao giữa Bắc Kinh và Hà Nội trong thập niên 1960 và đầu thập niên 1970 nói chung tốt đẹp, các sự khác biệt về chính sách giữa Trung Quốc và Việt Nam đã xa cách hơn sau sự sụp đổ của Sàigòn hồi Tháng Tư 1975.  Trong Tháng Chín năm đó, Lê Duẩn, tổng bí thứ của ĐCSVN, đã du hành sang Bắc Kinh và trong hàng loạt các cuộc gặp gỡ sau khi Lê Duẩn đến nơi, điều trở nên rõ ràng rằng Trung Quốc rất quan tâm về các quan hệ chặt chẽ của Việt Nam với LBSV.  Mặc dù các quan hệ tiếp tục xấu đi trong những năm kế tiếp, sự rạn nứt giữa Trung Quốc và Việt Nam đầu tiên chỉ trở nên rõ ràng khi hàng nghìn dân gốc Hoa bắt đầu chạy trốn khỏi Việt Nam trong mùa xuân và mùa hạ năm 1978.  Ngoài ra, các sự tranh chấp lãnh thổ tại Quần Đảo Trường sa, cũng như trên cuộc xâm lăng gần đó của Việt Nam vào Căm Bốt, cũng đã làm gia tăng các sự căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Trong khi đó, các dấu hiệu gia tăng của sự hợp tác Sô Viết – Việt Nam cũng đã xuất hiện trong mùa hè 1978, khi Việt Nam yêu cầu trở thành một thành viên của khối COMECON.  Ngoài ra, các nguồn tin chính phủ tại Hoa Kỳ có tường thuật rằng vào Tháng Tám 1978 có đến 4000 cố vấn Sô Viết có mặt tại Việt Nam.  Trong Tháng Chín 1978, LBSV khởi sự việc thực hiện các chuyến chở vũ khí nhiều hơn sang Việt Nam, cả bằng đường hàng không lẫn đường biển, bao gồm “máy bay, hỏa tiễn, xe tăng, và đạn dược”.  Sau cùng, tất cả các dấu hiệu này của việc cải thiện các quan hệ Sô Viết – Việt Nam đã thành tựu vào ngày 3 Tháng Mười Một 1978, khi Việt Nam và LBSV ký kết một Hiệp Ước Hữu Nghị và Hợp Tác.  Không có gì nghi ngờ rằng bản hiệp ước này được nhắm vào Trung Quốc, bởi điều thứ sáu tuyên bố rằng Việt Nam và LBSV sẽ “tức thời tham khảo lẫn nhau” nếu một bên bị “tấn công hay bị đe dọa tấn công … nhằm loại trừ mối đe đọa đó”.  Theo sự tường thuật, bản hiệp ước này cũng bao gồm một nghị định thư bí mật chấp thuận các cho lực lượng quân sự Sô Viết được tiếp cận các “phi trường và hải cảng” của Việt Nam. (Ramesh Thaku[r] and Carlyle Thayer, <i>Soviet Relations with India and Vietnam</i> (New York, St. Martin’s Press, 1992), 61).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Mặc dù Việt Nam tuyên bố rằng nó đã ký kết bản hiệp ước này với LBSV để chặn đứng các hành vi của “phe phiêu lưu” Trung Quốc, các nhà lãnh đạo Trung Quốc tại Bắc Kinh chắc chắn đã nhìn điều này như một phần trong các nỗ lực của Mạc Tư Khoa để áp lực Trung Quốc phải lùi bước và tải lập các điều khoản bất bình đẳng của Hiệp Ước Trung Quốc – Sô Viết năm 1950.  Nếu LBSV đã có khả năng thiết lập một bàn đạp tại Đông Nam Á, nó có thể thúc vào cạnh sườn của Trung Quốc ở cả hai biên giới phía bắc lẫn phía nam.  Nếu thành công, chính sách này có thể mang lại cho Mạc Tư Khoa đủ đòn bẩy để buộc Bắc Kinh phải tái tục, hay ít nhất tái thương thảo, Hiệp Ước Trung Quốc – Sô Viết năm 1950 theo các điều kiện của Mạc Tư Khoa.  Một chỉ dấu ban đầu của mối quan tâm của Bắc Kinh về Hiệp Ước Sô Viết – Việt Nam được phát biểu bởi tờ <i>Nhân Dân Nhật Báo</i> cảnh cáo rằng Mạc Tư Khoa đang sử dụng Việt Nam chống lại Trung Quốc như nó đã cố gắng  trước đây – và đã thất bại – trong việc dùng Cuba để tạo áp lực ngoại giao lên trên Hoa Kỳ.  Bắc Kinh cũng cảnh cáo rằng mục đích tối hậu của Mạc Tư Khoa là “đặt toàn thể Đông Dương dưới sự kiểm soát của nó”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Qua việc ký kết bản hiệp ước phòng thủ Sô Viết – Việt Nam hôm 3 Tháng Mười Một 1978, LBSV đã hy vọng sử dụng các quan hệ của nó với Việt Nam để phá hỏng cơ mưu và vượt thắng Trung Quốc.  Mối quan tâm chính yếu của Trung Quốc rằng nếu các chính sách của LBSV tại Việt Nam thành công, khi đó chính quyền Sô Viết có thể buộc được một sợi dây thòng lọng quân sự và chiến lược vào cổ Trung Quốc.  Suốt từ khi có sự rạn nứt Nga – Hoa, và đặc biệt kể từ khi có các cuộc xung đột biên giới Trung Quốc – Sô Viết hồi cuối thập niên 1960, mục đích chủ yếu của Bắc Kinh đã là việc xây dựng tiềm năng quân sự của chính nó nhằm đối phó với Hồng Quân Sô Viết, một mục đích mà phần lớn nó đã đạt được từ khoảng giữa đến cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970 khi quân số của QĐGPNDTQ được tường thuật đã vươn tới 3.6 triệu quân.  Về mặt ngoại giao, Bắc Kinh vẫn tiếp tục gắng sức để thúc vào cạnh sườn Mạc Tư Khoa bằng việc chính thức bình thường hóa các quan hệ của nó với Hoa Thịnh Đốn hôm 1 Tháng Một 1979.  Tác giả Ramses Amer đã kết luận rằng các liên minh mới của LBSV và Trung Hoa đã được nối kết một cách chặt chẽ: Chính vì thế hai liên minh chiến lược đã được tạo lập trong những tháng cuối cùng của năm 1978, một liên minh Sô Viết – Việt Nam, và một liên minh Trung Quốc – Mỹ, và chúng sẽ chế ngự trong khoảng một thập niên”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Như một kết quả của sự tiến lại gần nhau giữa Trung Quốc và Mỹ hồi đầu năm 1979, mối quan tâm của Mạc Tư Khoa về một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận với các lực lượng của khối NATO do Mỹ cầm đầu tại phía tây và các lực lượng Trung Quốc tại phía đông được nâng cao.  Điều này có thể đã thuyết phục Mạc Tư Khoa gia tăng sự ủng hộ của nó cho cuộc xâm lăng đang tiếp diễn của Việt Nam vào Căm Bốt, một biến cố mà tác giả Robert Ross đã nối kết một cách chặt chẽ với cuộc tấn công sau đó của Trung Quốc vào Việt Nam khi ông lập luận rằng sự tan vỡ của đồng minh thân cận của Trung Quốc tại Căm Bốt khiến cho Bắc Kinh phải lo ngại rất nhiều.  Trong khi Bắc Kinh không sẵn lòng can thiệp một cách trực tiếp tại Căm Bốt để chặn đứng sự xâm lấn của V9ệt Nam, cuộc xâm lăng quân sự của Trung Quốc vào vùng lãnh thổ tranh chấp giữa Trung Quốc – Việt Nam trong thực tế đã “đồng bộ” một cách chặt chẽ với cuộc xâm lăng của Việt Nam tại Căm Bốt.  Tác giả Ross còn kết luận thêm rằng các cuộc tranh chấp đang tiếp diễn tại Căm Bốt và biên giới Trung Quốc – Việt Nam đã có một “sự liên kết cơ hữu”, khi các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã cảnh cáo Việt Nam đừng suy nghĩ một cách sai lầm rằng Trung Quốc thì “yếu ớt và dễ bị bắt nạt”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Tuy nhiên, trong sự phân tích cuối cùng, Việt Nam là một nước tương đối nhỏ cả về mặt dân số lẫn sức mạnh quân sự, và rất có thể sự đến nơi đột ngột của các số lượng to lớn các cố vấn Sô Viết – ước lượng 5000 đến 8000 người vào giữa năm 1979 – và các số lượng khổng lồ các đồ tiếp tế quân sự đã báo hiệu không tốt cho an  ninh chiến lược tức thời của Trung Quốc; chính vì thế, theo tác giả King C. Chen, “Nếu không có liên minh Sô Viết – Việt Nam, cuộc chiến tranh mười sáu ngày giữa Trung Quốc và Việt Nam có thể đã không được giao tranh”.  Trong một sự nhìn nhận rõ ràng rằng sự hợp tác quân sự của LBSV với Việt Nam đã khiến Trung Quốc lo ngại sâu xa, Đặng Tiểu Bình đã công khai thừa nhận rằng “liên minh quân sự” mới này giữa Sô Viết và Việt Nam thực sự đúng là một phần trong mục đích trong trường kỳ của LBSV mong muốn “bao vây Trung Quốc”.<br />
</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Tiếp theo sau sự ký kết bản Hiệp Ước Sô Viết – Việt Nam hôm 3 Tháng Mười Một 1978, Bắc Kinh đã phải tìm kiếm một phương cách để phá vỡ mưu toan bao vây Trung Quốc của Sô Viết.  Chính từ đó, nỗi lo sợ bị ép hai bên sườn bởi Mạc Tư Khoa đã là công cụ trong việc thúc đẩy Bắc Kinh phải hành động.  Rõ ràng, bước tiến đầu tiên của Trung Quốc là trắc nghiệm quyết tâm của LBSV để xem là liệu nó có làm đúng theo hiệp ước của nó với Việt Nam hay liệu nó sẽ lùi lại và chấp nhận sự thất bại.  Đặng Tiểu Bình còn được tường thuật có nói với Tổng Thống Carter trong Tháng Một 1979 rằng một cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam sẽ “làm sụp đổ các tính toán chiến lược của Sô Viết …”  Hậu quả, ngay tác giả Ross đã kết luận rằng theo chân sự chiếm đóng thành công của Việt Nam tại Căm Bốt, chính sự “bao vây phát sinh của Sô Viết nhắm vào Trung Quốc đã nhất thiết tạo ra một cuộc xâm lăng hạn chế vào Việt Nam”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Cuộc Chiến Tranh Trung Quốc – Việt Nam Năm 1979<br />
</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Các lực lượng Trung Quốc đã xâm lăng Việt Nam hôm 17 Tháng Hai năm 1979.  Mặc dù các động lực xác thực nằm dưới cuộc tấn công của Trung Quốc vẫn còn được mở ngỏ cho sự giải thích, mối quan ngại của Bắc Kinh rằng hiệp ước phòng thủ hai mười lăm năm của Mạc Tư Khoa với Hà Nội có thể dẫn dắt đến việc quân sự hóa của Sô Viết vùng biên giới Trung Quốc – Việt Nam chắc chắn đã là một yếu tố quan trọng; Mạc Tư Khoa có thể cũng đã hy vọng rằng bản hiệp ước của nó với Hà Nội sẽ làm chuyển hướng các bộ đội Trung Quốc khỏi miền bắc, do đó làm suy yếu sự phòng thủ quân sự của Trung Quốc dọc theo biên giới Trung Quốc – Sô Viết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Tuy nhiên, các hy vọng của Mạc Tư Khoa đã bị tan tành khi Bắc Kinh quyết định tiến đánh Việt Nam.  Chỉ sau ba tuần lễ giao tranh, Trung Quốc đã triệt thoái và các tranh chấp trên biên giới Trung Quốc – Việt Nam vẫn còn chưa được giải quyết.  Đối với phần lớn các người bên ngoài, hành động quân sự của Trung Quốc chính vì thế rõ ràng là một sự thất bại.  Nhưng nếu mục đích thực sự đàng sau cuộc tấn công của Trung Quốc là nhằm bộc lộ các sự bảo đảm của Sô Viết về sự ủng hộ quân sự cho Việt Nam là một sự dối trá, khi đó sự từ khước của LBSV để can thiệp đã chấm dứt một cách hữu hiệu bản hiếp ước phòng thủ Sô Viết – Việt Nam.  Chính vì thế, Bắc Kinh đã đạt được một thắng lợi chiến lược rõ ràng bằng việc phá vỡ sự bao vây của Sô Viết và bằng việc loại trừ sự đe dọa của Mạc Tư Khoa về một cuộc chiến tranh trên hai mặt trân.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Vào ngày 15 Tháng Hai, 1979, không chỉ là ngày đánh dấu 29 năm sự thỏa thuận của họ Mao và Stalin về Mông Cổ mà còn là ngày đầu tiên mà Trung Quốc có thể chính thức loan báo sự chấm dứt bản Hiệp Ước Hữu Nghị, Liên Minh và Trợ Giúp Hỗ Tương giữa Sô Viết – Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình đã tuyên bố rằng Trung Quốc đã hoạch định để thực hiện một cuộc tấn công hạn chế đánh Việt Nam.  Để ngăn cản sự can thiệp của Sô Viết nhân danh Việt Nam, họ Đặng đã cảnh cáo Mạc Tư Khoa trong ngày kế đó rằng Trung Quốc đã chuẩn bị một cuộc chiến tranh toàn diện chống lại LBSV; trong sự chuẩn bị cho cuộc xung đột này, Trung Quốc đã đặt toàn thể binh sĩ của nó dọc theo biên giới Trung Quốc – Sô Viết vào sự báo động chiến tranh khẩn cấp, thiết lập một bộ chỉ huy quân sự mới tại Tân Cương, và còn cho di tản khoảng 300,000 thường dân ra khỏi biên giới Trung Quốc – Sô Viết (Chang Pao-min, <i>Kampuchea Between China and Vietnam</i> (Singapore, Singapore University Press, 1985), 88-89).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Ngoài ra, khối các lực lượng ứng chiến của Trung Quốc (nhiều đến nửa triệu binh sĩ) được đồn trú dọc biên giới của Trung Quốc với LBSV. (Robert A. Scalapino, “Asia in a Global Context: Strategic Issue for the Soviet Union”, trong sách biên tập bởi Richard H. Solomon và Masataka Kosaka, <i>The Soviet Far East Military Buildup</i> (Dover, MA, Auburn House Publishing Company, 1986), 28).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Như hứa hẹn, cuộc tấn công quân sự của Trung Quốc đánh Việt Nam khởi sự hôm 17 Tháng Hai, 1979, trong vòng ba ngày kỷ niệm lần thứ 29 bản Hiệp Ước Trung Quốc – Sô Viết năm 1950.  Như họ Đặng đã loan báo, ngay từ bước khởi đầu Trung Quốc đã thực hiện một hoạt động hạn chế chống lại Việt Nam.  Không chỉ nhiều binh sĩ thiện chiến nhất của Trung Quốc được đồn trú dọc biên giới Trung Quốc – Sô Viết, Bắc Kinh còn quyết định không điều động khoảng 500 chiến đấu cơ và oanh tạc cơ mà nó đã cho đồn trú trong khu vực.  Để đáp ứng lại cuộc tấn công của Trung Quốc, LBSV đã phái vài tàu hải quân và khởi sự một cuộc không vận vũ khí Sô Viết sang Việt Nam.  Vào ngày 22 Tháng Hai 1979, Đại Tá N. A. Trarkov, tùy viên quân sự Sô Viết, tại Hà Nội, còn đe dọa rằng LBSV sẽ “thi hành các trách vụ của nó chiếu theo bản hiệp ước Sô Việt – Việt Nam”; tuy nhiên, ở các nơi khác, các nhà ngoại giao Sô Viết có nói rõ rằng LBSV sẽ không can thiệp chừng nào cuộc xung đột vẫn còn được hạn chế.  (John Blodgett, “Vietnam: Soviet Pawn or Regional Power?”, trong sách biên tập bởi Rodney W. Jones và Steven A. Hildreth, <i>Emerging Powers Defense and Security in the Third World</i> (New York, Praeger Publishers, 1986), 98).  LBSV rõ ràng không có ý định mạo hiểm vào một cuộc chiến tranh toàn diện với Trung Quốc vì Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Sau ba tuần lễ giao tranh dữ dội, Trung Quốc có thể tuyên bố rằng nó đã chiếm đoạt được ba trong sáu tỉnh lỵ của Việt Nam – Cao Bằng, Lạng Sơn, và Lào Cai – nằm giáp ranh với Trung Quốc.  Mặc dù các lực lượng Trung Quốc có tổng số hơn một phần tư triệu quân, phía Việt Nam đã dùng các chiến thuật để cướp đi một thắng lợi mau chóng của phía Trung Quốc.  Khi Bắc Kinh loan báo ý định của nó để triệt thoái các bộ đội của nó hôm 5 Tháng Ba, 1979, vì thế, rõ ràng là các mục đích chủ yếu của cuộc tấn công này vẫn chưa đạt được; tức, tiềm năng quân sự của Việt Nam chưa bị tổn hại nghiêm trọng bởi Trung Quốc.  Từ đó về sau, biên giới Trung Quốc – Việt Nam vẫn còn căng thẳng khi, sau chưa đầy ba tuần lễ giao tranh, Trung Quốc triệt thoái khỏi Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Đối với nhiều quan sát viên bên ngoài, điều rõ ràng rằng cuộc tấn công của Trung Quốc vào Việt Nam đã là một sự thất bại trọn vẹn và tổng quát.  Nhưng như tác giả Banning Garrett đã nhận xét một cách chính xác, “phía Trung Quốc đã chứng tỏ rằng họ đã có thể tấn công một đồng minh của Sô Viết mà không có sự trả đũa từ “con gấu bắc cực bằng giấy”.  (Banning Garrett, “The Strategic Triangle and the Indochina Crisis”, trong sách biên tập bởi David W. P. Elliott, <i>The Third Indochina Conflict</i> (Boulder, CO, Westview Press, 1981), 212).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Trong thực tế, bằng việc chứng minh rằng LBSV sẽ không tích cực can thiệp nhân danh Việt Nam, Trung Quốc vững tin rằng sự chấm dứt của nó bản Hiệp Ước Trung Quốc – Sô Viết năm 1950 cũng sẽ không dẫn đến chiến tranh.  Kết quả, vào ngày 3 Tháng Tư, 1979, Bắc Kinh đã loan báo các ý định của nó nhằm chấm dứt bản Hiệp Ước Thân Hữu, Liên Minh và Trợ Giúp Hỗ Tương giữa Trung Quốc – Sô Viết năm 1950.  Từ đó về sau, mặc dù các cuộc thương thuyết giữa Trung Quốc và Sô Viết được mở ra một cách chính thức trong Tháng Mười 1979, cuộc xâm lăng của Sô Viết vào A Phú Hãn đã mang lại cho Trung Quốc một duyên cớ để bãi bỏ các cuộc họp tương lai, theo đó loại trừ bất kỳ nhu cầu tức thời nào để thương thảo một hiệp ước ngoại giao mới giữa Trung Quốc và Sô Viết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Bởi vì các động lực đích thực nằm dưới cuộc xâm lăng năm 1979 của Trung Quốc vào Việt Nam vẫn chưa được rõ, các học giả nghiên cứu cuộc xung đột này đã đề xướng ra nhiều lý thuyết vững chắc khả tín.  Có lẽ lý thuyết thông thường nhất rằng Trung Quốc mong muốn “trừng phạt” Việt Nam vì việc xâm lăng Căm Bốt, một khu vực trước đây đã từng được xem là một nước triều cống đối với đế quốc Trung Hoa.  Các vấn đề khác giữa Trung Quốc – Việt Nam, chẳng hạn như các sự tranh chấp lãnh thổ tại Quần Đảo Trường Sa và cuộc di cư ồ ạt của dân gốc Hoa từ Việt Nam, cũng đã được phác họa như có đóng giữ một vai trò quan trọng.  Tuy nhiên, điều khả tín nhất là một số tương đối nhỏ các nhà học giả đã lập luận rằng quyết định của Việt Nam để phát huy các quan hệ gần gủi hơn với LBSV đã là lý do chính yếu đàng sau cuộc tấn công của Trung Quốc.<br />
</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Trong số các học giả này, các người đã nêu giả thuytết rằng các hành động của Trung Quốc là một sự đáp ứng đối với bản hiệp ước phòng thủ Sô Viết – Việt Nam ngày 3 Tháng Mười Một 1978, đã có một loạt rộng lớn các sự giải thích về việc liệu chính sách của Trung Quốc đã là một sự thành công hay thất bại.  Thí dụ, theo tác giả Gerald Segal, chính sách của Trung Quốc đã thất bại bởi vì nó đã không đặt bản hiệp ước phòng thủ Sô Viết – Việt Nam vào sự “trắc nghiệm tối hậu”.  Tác giả Robert Ross cũng đã kết luận rằng chính sách của Trung Quốc là một sự thất bại, mặc dù ông tích cực hơn Segal bằng việc cho rằng cuộc chiến tranh Trung – Việt là lần đầu tiên kể từ năm 1949 mà Trung Quốc đã sử dụng vũ lực khi lãnh thổ của nó không bị đe dọa một cách trực tiếp, chính vì thế chứng tỏ rằng Trung Quốc giờ đây có khả năng để “hành động như một quyền lực cấp vùng với các quyền lợi cấp vùng”.  Sau cùng, tác giả Banning Garrett và Nayan Chanda thì tích cực hơn, ít nhất công nhận các lời tuyên bố của Trung Quốc rằng cuộc chiến tranh Trung – Việt dở dang đã là một sự thành công bởi nó chứng tỏ rằng LBSV là một “con gấu bắc cực bằng giấy”vì Mạc Tư Khoa từ khước không thi hành các nghĩa vụ theo hiệp ước của nó nhân danh Hà Nội.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Có lẽ quan điểm tích cực nhất về cuộc xung đột Trung – Việt đến từ tác giả Chang Pao-min.  Theo tác giả Chang, khi người ta cứu xét cuộc xung đột này từ một quan điểm của Bắc Kinh, khi đó bản hiệp ước phòng thủ Sô Viết – Viết Nam năm 1978 đã là một sự đe dọa rõ ràng đến an ninh của Trung Quốc.  LBSV đã không chỉ hy vọng sử dụng hiệp ước này để dựng lên một “Hệ Thống An Ninh Tập Thể Á Châu” nhắm vào Trung Quốc, nhưng các quan hệ quân sự của nó với Việt Nam được mô tả như một mưu toan để “đe dọa và nỗ lực nhằm trói buộc Trung Quốc từ phía nam”; trong khía cạnh này, Việt Nam được mô tả trong các lời tuyên bố sau này của Trung Quốc như là “con dao mà Liên Bang Sô Viết kề sau lưng Trung Quốc”.  Do đó, như tác giả Chang nhận xét, cuộc xung đột Trung – Việt phải được nhìn như một phản ứng trước mưu toan của Liên Bang Sô Viết muốn dùng Việt Nam “để ngăn chặn và bao vây Trung Quốc tại Đông Nam Á … [chính vì thế đặt ra] một sự đe dọa nghiêm trọng cho cạnh sườn phía nam của Trung Quốc”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Các lập luận trình bày trong bài viết này có khuynh hướng ủng hộ quan điểm rằng cuộc chiến tranh Tháng Hai 1979 của Trung Quốc với Việt Nam đã là một sự thành công.  Một khi Bắc Kinh tin tưởng rằng Mạc Tư Khoa sẽ không can thiệp nhân danh Hà Nội, điều này khiến cho Bắc Kinh mạnh dạn để đoạn tuyệt hoàn toàn với Mạc Tư Khoa; sự đoạn tuyệt này có thể nhận thấy rõ nhất trong lời loan báo hôm 3 Tháng Tư 1979 của Bắc Kinh rằng nó có ý định chấm dứt bản Hiệp Ước Sô Viết – Trung Quốc năm 1950.  Như bằng chứng cuối cùng rằng các chính sách của Trung Quốc tại Việt Nam được nối kết một cách rối rắm với LBSV, tác giả Amers đã ghi nhận nhận một cách xác thực rằng quyết định năm 1988 của Trung Quốc về việc gỡ bỏ các quan hệ biên giới của nó với Việt Nam ra khỏi vấn đề Căm Bốt tuơng ứng gần như chính xác với các nỗ lực của Gorbachev nhằm bình thường hóa các quan hệ với Trung Quốc và cải thiện các quan hệ của LBSV với các quốc gia thuộc khối ASEAN.  Chính vì thế, bằng việc phá vỡ sự bao vây của Sô Viết và loại trừ được mối đe dọa của Mạc Tư Khoa về một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận, Trung Quốc đã đạt được một thắng lợi chiến lược quan trọng đối với LBSV.</span></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><span style="font-size: medium;"><b>LBSV Có Phải Là “Con Gấu Bắc Cực Bằng Giấy”?</b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Các học giả Tây Phương gần như nhất trí kết luận rằng cuộc xâm lăng năm 1979 của Trung Quốc vào Việt Nam là một sự thất bại.  Thí dụ, theo tác giả Gerald Segal, “cuộc chiến tranh Trung – Việt năm 1979 đã là một sự thất bại trong chính sách ngoại giao quan trọng nhất kể từ 1949”.  Tác giả Robert Roos đã đồng ý phần lớn, phát biểu: “Sự thất bại trong chính sách của Trung Quốc nhấn mạnh vai trò mơ hồ của quyền lực cấp vùng trong chính trị quốc tế đương đại”.  Gần đây nhất, tác giả Ellis Joffe, một chuyên viên về QĐGPNDTQ tại Đại Học Hebrew University tại Jerusalem, đã kết luận: “Trung Quốc bị tổn thương bởi các biện pháp hạn chế chống lại Việt Nam hồi năm 1979.  Trung Quốc tìm cách giảng dạy cho Việt Nam một bài học, nhưng Việt Nam đã dạy cho Trung Quốc một bài học”. (“Strait of Uncertainty Taiwan braves increased pressure from China”, <i>Far Eastern Economic Review</i>, 8 Tháng Hai 1996, 20-21.)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Các sự lượng định tiêu cực này của Tây Phương thì tương phản một cách sắc nét với các lời tuyên bố của chính Bắc Kinh rằng cuộc chiến tranh năm 1979 của nó chống lại Việt Nam là một sự thành công, bởi vì quyết định của Mạc Tư Khoa không can thiệp chứng tỏ rằng LBSV chỉ là một “con gấu bắc cực bằng giấy”.  Bắc Kinh rõ ràng sẵn lòng hậu thuẫn lời tuyên bố này bằng hành động, khi nó không chỉ loan báo sự chấm dứt bản Hiệp Ước Sô Viết – Trung Quốc năm 1950 mà rồi sau này còn chuyển đến Mạc Tư Khoa ba điều kiện tiên quyết cho việc cải thiện các quan hệ Trung Quốc – Sô Viết.  Ba điều kiện tiên quyết này gồm: 1) triệt thoái bộ đội Sô Viết ra khỏi biên giới Trung Quốc – Sô Viết và Mông Cổ, 2) triệt thoái binh sĩ Sô Viết ra khỏi A Phú Hãn, và 3) đình chỉ sự ủng hộ của Sô Viết cho sự xâm nhập của Việt Nam vào Căm Bốt.  (Yao Wengin, “Soviet Military Deployments in the Asia-Pacific Region: Implications for China’s Security”, trong sách đồng biên tập bởi Richard H. Solomon và Masataka Kosaka, <i>The Soviet Far East Military Buildup</i> (Dover, MA., Auburn House Publishing Company, 1986), 103.)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Vì thế, ngoài việc chấp nhận một vị thế khẳng định hơn trong các quan hệ của nó với LBSV, các lân bang phía nam của Trung Quốc cũng buộc phải đối xử với Trung Quốc với nhiều sự nể trọng hơn; theo một báo cáo năm 1986, bởi Hà Nội bị thua ván cờ năm 1979 rằng Bắc Kinh sẽ không bao giờ thực sự tấn công, Việt Nam, “bị trừng phạt bởi kinh nghiệm năm 1979, giờ đây đồn trú 700,000 quân chiến đấu tại phần phía bắc của xứ sở”. (Karl D. Jackson, “Indochina, 1982-1985: Peace Yields to War”, trong sách đồng biên tập bởi Richard H. Solomon và Masataka Kosaka, <i>The Soviet Far East Military Buildup</i> (Dover, MA., Auburn House Publishing Company, 1986), 206.)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Vai trò khẳng định hơn của Trung Quốc tại Á Châu trong suốt thập niên 1980 vì thế khiên ta nghĩ rằng Bắc Kinh đã thực sự tin tưởng rằng nó đã chiến thắng trong cuộc chiến tranh Trung – Việt năm 1979.  Chính từ đó, mặc dù tác giả Nayan Chanda và các tác giả khác cảnh cáo rằng các lời tuyên bố của Trung Quốc rằng LBSV đã chỉ là một “con gấu bắc cực bằng giấy” có thể hoàn toàn là sự tuyên truyền, các hành động của chính Bắc Kinh cho thấy rằng họ tin tưởng một cách vững chắc quan điểm này.  Chính vì lý do này mà các cuộc thảo luận gần đây về thời điểm khi mà Cuộc Chiến Tranh Lạnh thực sự được chấm dứt sẽ rõ ràng có một sự liên quan trực tiếp đến sự xác quyết năm 1979 của Bắc Kinh rằng Mạc Tư Khoa đã sẵn quá yếu kém để giao chiến.  Trong thực tế, theo cái nhìn của Trung Quốc, sự thất bại của LBSV không can thiệp nhân danh Việt Nam trong năm 1979 đã là bằng chứng tích cực rằng Mạc Tư Khoa đã không còn lòng dạ để chiến đấu một cuộc chiến tranh quan trọng; nói cách khác, kỷ nguyên nguy hiểm nhất của Chiến Tranh Lạnh đã sẵn qua đi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Cho đến nay, cuộc thảo luận phổ quát rằng liệu Cuộc Chiến Tranh Lạnh đã thực sự bị vượt qua sớm hơn sự sụp đổ của Bức Tưiờng Bá Linh năm 1989 vốn xoay quanh các lời tuyên bố được đưa ra bởi viên Tướng 4 Sô Viết bốn sao Anatoly Gribkov, cựu tham mưu trưởng Thỏa Ước Warsaw hồi đầu thập niên 1980.  Gribkov đặt các lập luận của ông trên sự kiện rằng vào Tháng Mườì Hai năm 1981, Bộ Chính Trị Sô Viết rõ ràng đã đánh mất ý chí chính trị để sử dụng vũ lực nhằm giữ vững sự kiểm soát đế quốc mở rộng của họ.  Sự lượng định này được dựa tre6n sự từ khước của Bộ Chính Trị không gửi binh sĩ đến Ba Lan để phá tan một sự nắm quyền bính của phe dân chủ, một dấu hiệu của sự suy yếu mà Gribkov vạch ra như bằng chứng rằng LBSV đã thực sự “thua” Cuộc Chiến Tranh Lạnh ngay từ 1981.  (The Two Trillion Dollar Mistake”, <i>Worth</i>, (February 1996), 78-83/128-129.)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Biên bản một phiên họp của Bộ Chính Trị Sô Viết từ ngày 10 Tháng Mười Hai 1981 được giải mật gần đây có khuynh hướng hậu thuẫn cho sự tuyên xác của Gribkov, qua việc phô bày rằng giải pháp gửi binh sĩ chống lại đảng “Liên Đới: Solidarity” của Ba Lan được bác bỏ một cách nhất trí bởi Mạc Tư Khoa vì có sự bất trắc quá to lớn.  (<i>Cold War International History Project Bulletin</i>, Issue 5 (spring 1995), 135-137).  Ngoài ra, các biên bản này cũng tiết lộ rằng Bộ Chính Trị đã cứu xét một cách nghiêm trọng sự thoái bộ tại vùng Viễn Đông qua việc ra lệnh rút quân Sô Viết ra khỏi Mông Cổ; nếu Mạc Tư Khoa thực sự thi hành kế hoạch này, khi đó nó đã nhượng bộ một trong ba điều kiện tiên quyết của Bắc Kinh cho việc cải thiện các quan hệ Trung Quốc – Sô Viết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Các tài liệu Sô Viết này, và các tài liệu khác tương tự như chúng, rõ ràng hậu thuẫn cho lời xác quyết của Gribkov rằng vào năm 1981 giới lãnh đạo Sô Viết đã sẵn mất khả năng sử dụng vũ lực hầu chống đỡ đế quốc Sô Viết đang tan tành.  Chính cùng lý luận này cũng có thể áp dụng cho cuộc xung đột Trung – Việt năm 1979, bởi cuộc xâm lăng của Trung Quốc vào Việt Nam rõ ràng đặt ra một sư đe dọa thực sự cho an ninh và sự ổn định của khu vực ảnh hưởng của Sô Viết tại Đông Nam Á.  Chính sự kiện rằng Bộ Chính Trị Sô Viết từ khước không chu toàn các nghĩa vụ theo hiệp ước của nó với Việt Nam và đã từ chối can thiệp chống lại Trung Quốc khiến ta nghĩ rằng lập luận của Gribkov cho rằng Bộ Chính Trị Sô Viết đã mất ý chị chính trị để duy trì đế quốc của nó lại với nhau bằng vũ lực cũng có thể áp dụng một cách đồng cân sức – nếu không phải nhiều hơn – cho kết cuộc của cuộc chiến tranh Trung – Việt năm 1979. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Sự sụp đổ của Bức Tường Bá Linh năm 1989 và sự tan rã không ngờ của LBSV năm 1991 đòi hỏi một sự lượng định mới về tác động của các quan hệ Trung Quốc – Sô Viết trên cuộc xung đột Trung – Việt Tháng Hai 1979.  Một khía cạnh của sự lượng định này phải được cứu xét liệu lời tuyên xác năm 1979 của Trung Quốc rằng LBSV đã sẵn là một “con gấu bắc cực bằng giấy” giờ đây có vẻ khả tín hơn chiếu theo sự giải tán sau này của LBSV.  Mặc dù lời tuyên xác của Gribkov rằng Chiến Tranh Lạnh đã sằn bị vượt qua năm 1981 có thể sớm hơn nhiều thời hạn mà phần lớn các học giả Tây Phương sẵn lòng chấp nhận, nó đi sau vài năm theo cái nhìn của Trung Quốc.  Vì thế, trong sự hậu xét, hạn kỳ 1979 của Trung Quốc không chỉ có vẻ khả tín, mà đối với các học giả tương lai, một ngày nào  dó, thời điểm 1979 có thể chứng tỏ rằng còn chính xác hơn năm 1981.  Nếu như thế, khi đó Bắc Kinh phải được dành cho công lao thích đáng cho việc xác định một cách chính xác các triệu chứng Viễn Đông trong các nhược điểm nội tại của Mạc Tư Khoa sớm hơn hai năm trước khi các dấu hiệu tương tự trở nên nhận thức được bởi khối Tây.  Điều này khi đó nêu lên câu hỏi liệu “bước khởi đầu của sự kết thúc” Chiến Tranh Lạnh đã thực sự xảy ra trong năm 1979, do kết quả của sự từ khước của Mạc Tư Khoa chấp nhận sự thách đố trơ tráo của Bắc Kinh đối với ưu thế quân sự của LBSV tại Viễn Đông hay không.</span></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><span style="font-size: medium;"><b>Kết Luận</b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Các cuộc nghiên cứu trước đây về cuộc xung đột Trung – Việt ngày 17 Tháng Hai 1979 nói chung phác họa các hành động của Trung Quốc như một sự thất bại tuyệt đối.  Bài viết này, ngược lại, đã nỗ lực để tái lượng giá cuộc chiến tranh Trung – Việt dưới khía canh các quan hệ Trung Quốc – Sô Viết bằng việc liên kết cuộc xung đột này với lần kỷ niệm 29 năm ngày ký kết Hiệp Ước Hữu Nghị, Liên Minh và Trợ Giúp Hỗ Tương giữa Trung Quốc – Sô Viết hôm 14 Tháng Hai năm 1950.  Như một kết quả trực tiếp của quyết định của Sô Viết không can thiệp nhân danh Việt Nam, Trung Quốc trở nên tin tưởng rằng LBSV thiếu mất ý chí chính trị để vận dụng đến chiến tranh hầu chống đỡ khu vực ảnh hưởng của Sô Viết tại Á Châu.  Sự tin tưởng này đã dẫn dắt Bắc Kinh đến việc thông báo Mạc Tư Khoa hôm 3 Tháng Tư 1979 rằng Trung Quốc có ý định chấm dứt bản Hirệp Ước Trung Quốc – Sô Viết năm 1950 khi đạt tới hết thời hiệu 30 năm của nó vào năm 1980.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Từ 1950 cho đến 1979, Hiệp Ước Hữu Nghị, Liên Minh, và Trợ Giúp Hỗ Tương Trung Quốc – Sô Viết năm 1950 đã là nền tảng trên đó các quan hệ Trung Quốc – Sô Viết được đặt định.  Mặc dù các phần được công bố của bản hiệp ước này được cung cấp từ lâu, nội dung đích thực của các nghị định thư bí mật đính kèm bản hiệp ước này phần lớn vẫn chưa được hay biết.  Tuy nhiên, với các nghị định thư bí mật này liên hệ đến các sự tranh chấp lãnh thổ Trung Quốc – Sô Viết khá rõ ràng, và trong các thập niên 1950 và 1960 các sự tranh chấp biên giới thường xuyên giữa LBSV và Trung Quốc đã phản ảnh mức độ căng thẳng mà các nghị định thư bí mật đã sản sinh ra.  Mặc dù không có một trong các cuộc xung đột biên giới Trung Quốc – Sô Viết nào được phép để leo thang thành chiến tranh toàn diện, Bắc Kinh tiếp tục trắc nghiệm quyết tâm của LBSV để xem liệu nó có vận dụng đến vũ lực hầu chống đỡ cho các điều khoản của Hiệp Ước Trung Quốc – Sô Viết năm 1950 hay không.  Chính từ đó, trong quan điểm của Bắc Kinh, bản Hiệp Ước Trung Quốc – Sô Viết năm 1950 đã là công cụ trọng yếu qua đó Mạc Tư Khoa đã cố gắng để hành sử “bá quyền” của nó trên Trung Quốc và khắp phần còn lại của Á Châu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Ngược lại, Mạc Tư Khoa rõ ràng quan tâm đến những gì có thể xảy ra khi Hiệp Ước Trung Quốc – Sô Viết đạt tới thời hiệu 30 năm của nó.  Khởi sự trong năm 1969, LBSV thường xuyên thúc dục Trung Quốc thay thế bản hiệp ước này bằng một thỏa ước nới.  Để buộc Bắc Kinh lùi bước, Mạc Tư Khoa đã không chỉ gia cố các biên giới Trung Quốc – Sô Viết và Mông Cổ, nó còn thực hiện áp lực Trung Quốc từ phía nam, bằng việc hoàn tất một hiệp ước liên minh với Việt Nam.  Chính từ đó, sự cải thiện các quan hệ Sô Viết – Việt Nam, lên đến cực điểm với sự ký kết hiệp ước phòng thủ Sô Viết – Việt Nam hôm 3 Tháng Mườu Một 1978, có thể được nối kết một cách trực tiếp với các quan hệ đang tồi tệ của Trung Quốc với LBSV vào cuối thập niên 1970.  Tuy nhiên, thay vì lùi bước, Trung Quốc đã xâm lăng Việt Nam hôm 17 Tháng Hai, 1979, chỉ ba ngày sau lễ kỷ niệm thứ 29 ngày ký kết bản Hiệp Ước Trung Quốc – Sô Viết năm 1950.  Khi Mạc Tư Khoa từ khước can thiệp nhân danh Hà Nội, Bắc Kinh đã quyết định rằng Bộ Chính Trị Sô Viết sẽ không vận dụng đến chiến tranh để buộc Trung Quốc phải duy trì bản Hiệp Ước Trung Quốc – Sô Viết năm 1950 và như thế đà mạnh dạn loan báo hôm 3 Tháng Tư 1980 rằng nó có ý định chấm dứt bản hiệp ước này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Một trong các mục đích chính yếu của Bắc Kinh trong việc tấn công Việt Nam là nhằm bảo đảm rằng Trung Quốc không bị bao vây cả phía bắc lẫn phía nam bởi các lực lượng Sô Viết.  Cuộc xâm lăng năm 1979 của Trung Quốc vào Việt Nam, bất kể các sự khuyết điểm hiển nhiên của nó, đã đạt được mục tiêu chiến lược này bởi sự từ khước của LBSV để can thiệp nhân danh Việt Nam đã triệt hạ mối đe dọa một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận với LBSV và Việt Nam.  Trên bình diện ngoại giao, Trung Quốc cũng giành đạt được một chiến thắng rõ ràng chống lại các mưu toan của Sô Viết nhằm áp lực Trung Quốc tiến tới việc ký kết một hiệp ước mới để thay thế hay bổ túc bản Hiệp Ước Hữu Nghị, Liên Minh, và Trợ Giúp Hỗ Tương giữa Trung Quốc – Sô Viết ngày 14 Tháng Hai, 1950.  Sau cùng, khi nhìn lại sau này, sự tuyên bố của Trung Quốc rằng LBSV thực sự chỉ là một “con gấu bắc cực bằng giấy” rõ ràng khá chính xác, và chính vì thế tương trưng có lẽ cho dấu hiệu bên ngoài đầu tiên rằng đế quốc Sô Viết đã bị đe dọa bởi sự tan rã bên trong, một sự tan rã chỉ trở nên hiển hiện mười năm sau này với sự sụp đổ của Bức Tường Bá Linh và với sự giải tán của LBSV năm 1991./-   </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;">Nguồn: B<i>ài tham luận của tác giả Bruce Elleman, đọc tại Cuộc Hội Thảo 1996 Vietnam Symposium, “After the Cold War: Reassessing Vietnam”, được tổ chức vào các ngày 18-20 Tháng Tư, 1996 tại Vietnam Center, Texas Rech University, Lubbock, Texas</i></span></p>
<p class="facebook"><a href="http://www.facebook.com/share.php?u=http://phiatruoc.info/cac-quan-he-so-viet-trung-quoc-va-cuoc-xung-dot-trung-quoc-viet-nam-nam-1979/" target="_blank"><img src="http://phiatruoc.info/wp-content/plugins/add-to-facebook-plugin/facebook_share_icon.gif" alt="Share on Facebook" title="Share on Facebook" /></a><a href="http://www.facebook.com/share.php?u=http://phiatruoc.info/cac-quan-he-so-viet-trung-quoc-va-cuoc-xung-dot-trung-quoc-viet-nam-nam-1979/" target="_blank" title="Share on Facebook">Share on Facebook</a></p>
<p><iframe src='http://www.facebook.com/plugins/like.php?href=http%3A%2F%2Fphiatruoc.info%2Fcac-quan-he-so-viet-trung-quoc-va-cuoc-xung-dot-trung-quoc-viet-nam-nam-1979%2F&amp;layout=button_count&amp;show_faces=true&amp;width=280&amp;action=recommend&amp;colorscheme=light&amp;height=30' scrolling='no' frameborder='0' style='border:none; overflow:hidden; height:30px' allowTransparency='true'></iframe>
<div class="bottomcontainerBox" style="background-color:#F0F4F9;">
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<iframe src="http://www.facebook.com/plugins/like.php?href=http%3A%2F%2Fphiatruoc.info%2Fcac-quan-he-so-viet-trung-quoc-va-cuoc-xung-dot-trung-quoc-viet-nam-nam-1979%2F&amp;layout=button_count&amp;show_faces=false&amp;width=85&amp;action=like&amp;font=verdana&amp;colorscheme=light&amp;height=21" scrolling="no" frameborder="0" allowTransparency="true" style="border:none; overflow:hidden; width:85px; height:21px;"></iframe></div>
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<g:plusone size="medium" href="http://phiatruoc.info/cac-quan-he-so-viet-trung-quoc-va-cuoc-xung-dot-trung-quoc-viet-nam-nam-1979/"></g:plusone>
			</div>
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<a href="http://twitter.com/share" class="twitter-share-button" data-url="http://phiatruoc.info/cac-quan-he-so-viet-trung-quoc-va-cuoc-xung-dot-trung-quoc-viet-nam-nam-1979/"  data-text="Các quan hệ Sô Viết &#8211; Trung Quốc và cuộc xung đột Trung Quốc &#8211; Việt Nam năm 1979" data-count="horizontal"></a>
			</div>
</p></div>
<div style="clear:both"></div>
<div style="padding-bottom:4px;"></div>
<p><i>Scridb filter</i><!-- Scridb filter--></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phiatruoc.info/cac-quan-he-so-viet-trung-quoc-va-cuoc-xung-dot-trung-quoc-viet-nam-nam-1979/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>3</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Sự ngăn chặn không thành công cuộc xung đột Trung Quốc &#8211; Việt Nam năm 1979</title>
		<link>http://phiatruoc.info/su-ngan-chan-khong-thanh-cong-cuoc-xung-dot-trung-quoc-viet-nam-nam-1979/</link>
		<comments>http://phiatruoc.info/su-ngan-chan-khong-thanh-cong-cuoc-xung-dot-trung-quoc-viet-nam-nam-1979/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 05 Dec 2012 00:43:03 +0000</pubDate>
		<dc:creator>tapchiphiatruoc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Lịch sử]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến tranh Biên giới]]></category>
		<category><![CDATA[Ngô Bắc]]></category>
		<category><![CDATA[việt-trung]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phiatruoc.info/?p=9721</guid>
		<description><![CDATA[
Ngô Bắc dịch và phụ chú
 Trích từ Gió-O

Todd MacEgan West chiếu rọi ánh sáng mới trên Cuộc Xung Đột Trung – Việt 1979 bằng việc tập chú vào lý thuyết triển vọng (prospect theory), một phương thức mới để tìm hiểu việc cấu tạo quyết định dưới tình trạng hiểm nghèo, trong vấn đề giải thích quyết định của ...]]></description>
	
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: right;" align="center"><span style="font-size: medium;"><strong>Ngô Bắc </strong><em>dịch và phụ chú<br />
<span style="font-size: small;"> Trích từ <a href="http://www.gio-o.com/NgoBac/NgoBacToddWest1979.htm">Gió-O</a></span></em><br />
</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><em>Todd MacEgan West chiếu rọi ánh sáng mới trên Cuộc Xung Đột Trung – Việt 1979 bằng việc tập chú vào lý thuyết triển vọng (prospect theory), một phương thức mới để tìm hiểu việc cấu tạo quyết định dưới tình trạng hiểm nghèo, trong vấn đề giải thích quyết định của Trung Quốc nhằm tấn công Việt Nam.  Quyết định này ít có ý nghĩa theo lý thuyết sự lựa chọn hữu lý (rational-choice theory), dựa nghiêm ngặt trên các sự tinh toán lợi-hại ước định.  Lý thuyết triển vọng làm phát sinh nhiều hàm ý khác biệt cho sự phân tích sự ngăn cấm quân sự và một sự tường thuật mạch lạc hơn sự dẫn dắt đến cuộc xung đột.<span id="more-9721"></span></em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Rạng sáng ngày 17 Tháng Hai 1979, Trung Quốc tấn công Việt Nam.  Trong gần một tháng, các đội quân Trung Quốc và Việt Nam đã cấu xé nhau dữ dội dọc theo vùng biên giới Hoa – Việt trong trận được xem là một trong các cuộc tranh chấp chí tử nhất giữa hai nước cộng sản được nghĩ là “anh em” trong lịch sử.   Khá kỳ quặc các quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam thì thân thiện cho đến 1965.  Tuy thế, từ 1965 đến 1979, Việt Nam đã theo đuổi một nền ngoại giao mới thân Sô Viết, mà Trung Quốc cảm thấy các quyền lợi của nó bị đe dọa.  Mặc dù Trung Quốc nhiều lần biểu lộ sự không hài lòng dâng cao của nó đối với Việt Nam về nguyên trạng đang thay đổi, nó đã không thực hiện các bước tiến tranh đấu trong hơn một thập niên, sự kiềm chế của Trung Quốc sau cùng đã bị đổ gãy vào cuối năm 1978 khi Việt Nam gia nhập với Sô Viết vào một liên minh an ninh chung.  Cuộc tấn công của Trung Quốc vào Việt Nam hồi Tháng Hai 1979, tuy nhiên, đã không nhất quán với các mô hình ngăn cấm hữu lý: nó đã xảy ra tại một điểm khi mà các xác xuất cho một sự chiến thắng hay ngay cả cho một lợi điểm đáng kể trong trường hợp có một sự thất trận thì quá thấp cho bất kỳ một sự phân tích lợi/hại “hữu lý” nào để biện minh cho nó.  Ngược lại, quyết định của Trung Quốc để tấn công xem ra phù hợp với lý thuyết triển vọng (prospect theory), dùng giải thích cho các sự lựa chọn chính sách ngoại giao liên can đến các lợi điểm và các sự tổn thất dựa trên khung cảnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Cuộc nghiên cứu này bắt đầu với việc duyệt xét lại các tín lý của lý thuyết triển vọng đối diện với sự ngăn cấm nới rộng.  Kế đến, tôi trình bày khung cảnh lịch sử của cuộc xung đột Trung – Việt năm 1979.  Một sự duyệt xét lịch sử thì quan yếu cho cuộc nghiên cứu, không chỉ bởi nó làm gia tăng sự trong sáng của việc phân tích, mà còn bởi giới độc giả phổ thông có thể không quen thuộc với tin tức căn bản cần thiết cho việc hiểu biết các quan hệ Trung Quốc – Việt Nam. <sup>1</sup> Tôi đã lựa chọn các khía cạnh thực nghiệm của phần thứ ba dựa trên bằng chứng từ các cuộc phỏng vấn và sưu tầm tại Trung Quốc và Hoa Kỳ.  Sau đó, bài viết này phân tích cuộc xung đột Trung – Việt 1979 xuyên qua các sự tiên đoán lý thuyết của lý thuyết triển vọng và cung cấp một sự thảo luận về các điều khám phá trước khi đưa ra một vài nhận xét để kết luận.</span></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><span style="font-size: medium;"><strong>Lý Thuyết Triển Vọng</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Lý thuyết triển vọng xuất hiện như một sự thay thế cho sự lựa chọn hữu lý trong đó nó đóng khung về mặt khái niệm các kiểu mẫu nhận thức của các tác nhân thực sự hơn là các sự tính toán lợi/hại nghiêm ngặt.  Điểm then chốt của lý thuyết triển vọng được phát hiện trong sự quan sát rằng có một trị giá hao mòn đối với các lợi lộc lên cao một cách liên tục.  Trị giá chủ quan của một khoản lợi “$1,000 được đánh giá cao hơn nhiều so với cùng $1,000 khi được cộng vào một khoản lợi khởi thủy $10,000”. <sup>2 </sup>Cũng có thể nói như thế đối với các sự lỗ lã khiến cho sự khác biệt giữa một khoản lỗ $10,000 và $10,100 thì ít có ý nghĩa hơn giữa một khoản lỗ $1,000 và $1,100.  Sự khác biệt chính yếu giữa lý thuyết triển vọng và sự lựa chọn hữu lý được tìm thấy nơi sự giải thích các phản ứng đối với các sự lợi lộc và các sự tổn thất.  Theo sự lựa chọn hữu lý, các quốc gia ước lượng tầm mức theo đó một kết quả chung cuộc đáng được mong ước cùng với tình trạng tích sản thuần (hay tịnh) của nó.  Ngược lại, lý thuyết triển vọng được đặt trên tiền đề rằng các quốc gia lượng giá tính đáng mong ước của các kết quả chung cuộc theo một định hướng (orientation) về các khoản lợi và lỗ được đo lường trên một điểm tham chiếu trung tính. <sup>3</sup> Hơn nữa, các điểm thắng lợi được cảm nhận ít tốt hơn nhiều các khoản tổn thất bị cảm thấy tệ hại, đến nỗi sự rung động của một thắng lợi ít mãnh liệt hơn nỗi đau đớn của một sự tổn thất. <sup>4</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Lý thuyết triển vọng có hai hàm ý quan trọng cho các cuộc nghiên cứu về sự ngăn cấm quân sự.  Thứ nhất là điều mà nhiều người nói đến như hiệu ứng đóng khung theo đó các sự lượng giá do nhà nước thúc đẩy về tính đáng mong ước của <em>nguyên trạng</em> <em>(status quo)</em> như một thành tố trung tâm trong động thái ngăn cấm.  Nếu một quốc gia xét thấy nguyên trạng khả dĩ chấp nhận được, và nó biết rằng một hành động tấn công về phần nó liên can đến các thắng lợi nhiều hơn nữa nhưng có một số xác xuất bị thua lỗ, quốc gia đó được xem là có một định hướng tích cực.  Trong một định hướng tích cực, lý thuyết triển vọng tiên đoán rằng các quốc gia sẽ ưa thích sự an ninh của nguyên trạng hơn là sự bất an của một rủi ro bị mất mát.  Ngược lại, nếu một quốc gia xét thấy nguyên trạng là không thể chấp nhận được, và có một cơ hội để cải thiển vị thế tương đối của nó qua một cuộc tấn công, nó được xem có định hướng tiêu cực.  Lý thuyết triển vọng đặt định rằng các quốc gia ở vào các đính hướng tiêu cực có khuynh hướng chấp nhận rủi ro, và như thế, nghiêng về việc thực hiện các hành động tạo thuận lợi cho sự trở về một vị thế khả dĩ chấp nhận được trong nguyên trạng.  Hàm ý thứ nhì là khái niệm chán ghét (aversion) sự tổn thất.  Trong thực chất, sự chán ghét thua lỗ ám chỉ rằng các quốc gia “sẽ hành động một cách táo tợn hơn để né tránh một sự thua lỗ hơn là đề giành đoạt một thắng lợi tương đương, và sẽ theo đuổi sự né tránh thua lỗ vượt quá một sự kỳ vọng hữu lý về các lợi lộc”. <sup>5</sup> Kết cuộc cho sự ngăn cấm là các sự đe dọa khả tín, hơn là việc thi hành việc ngăn cấm một quốc gia mục tiêu khỏi việc tấn công, có thể thực sự đẩy nó vào trong một định hướng tiêu cực.  Nếu điều này xảy ra, quốc gia mục tiêu này,  ở vào một định hướng tiêu cực, rất có thể tấn công từ ý niệm rằng nó đang ở vào một vị thế không thể chấp nhận được trong nguyên trạng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Một sự kết hợp các khuôn khổ khái niệm riêng rẽ của hiệu ứng đóng khung và các công tác ngăn ngừa tổn thất để tạo ra một luận đề hai phần tổng quát cho sự ngăn cấm: một cách xác thực hơn, sự ngăn cấm dễ có hiệu quả hơn vào những thời điểm khi mà mỗi một trong hai quốc gia đồng thời ở vào một định hướng tích cực, và sự ngăn cấm ít có khả năng trở nên hữu hiệu khi một hay cả hai quốc gia ở vào một định hướng tiêu cực.  Với điều kiện rằng có một số cơ may gây ra tổn thất, một quốc gia trong một định hướng tích cực sẽ không tìm cách làm đảo lộn nguyên trạng ngay dù sự hữu dụng ước định của một cuộc công kích có tính chất tấn công thì lớn hơn sự hữu dụng ước định của việc duy trì tình trạng hiện thời.  Ngược lại, khi ở vào một định hướng tiêu cực, có thể không có mức độ đòn bẩy quân sự nào lớn đủ ngăn cấm một quốc gia không được tấn công dự liệu rằng cuộc tấn công liên can đến một số triển vọng cho một sự trở lại trạng thái bình thường trong nguyên trạng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: medium;">Lý Thuyết Triển Vọng và Sự Ngăn Cấm Nới Rộng</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Sự ngăn cấm nới rộng chỉ một tình trạng trong đó một quốc gia hứa hẹn phòng vệ một nước khác chống lại sự tấn công của bên ngoài.  Hiệp ước an ninh giữa Mỹ và Nam Hàn là một trường hợp nói đến.  Như đúng theo lý thuyết triển vọng, sự ngăn cấm nới rộng sẽ có hiệu năng hơn nếu tất cả các quốc gia can hệ đều ở vào các định hướng tích cực.  Một khi định hướng của bất kỳ quốc gia mục tiêu nào của một hiệp ước an ninh trở thành tiêu cực, quốc gia đó sẽ ngày càng giảm bớt sự né tránh rủi ro.  Hơn nữa, chính ở vào một thời điểm như thế mà một hiệp ước an ninh trở nên bất ổn định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Trong một sự sắp xếp an ninh nới rộng, các nước bảo trợ nỗ lực củng cố sự ủng hộ của chúng cho nước chư hầu xuyên qua các cam kết công khai quả quyết.  Quốc gia bảo trợ thường tuyên bố rằng sự bảo vệ an ninh của quốc gia chư hầu thì quan trọng đối với cả hai nước, và tính nghiêm trọng của quyết tâm thường được biểu lộ xuyên qua sự bố trí đáng kể các lực lượng vũ trang trên diện địa.  Quân đội Mỹ tại đảo Okinawa là một thí dụ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Mục đích của một liên minh an ninh là để ngăn cấm các sự xâm lược ngoại lai; tuy nhiên một liên minh như thế có thể lại xô đẩy quốc gia mục tiêu vào một định hướng tiêu cực.  Đối với quốc gia mục tiêu, sự ủng hộ cho một đối thủ có nghĩa một mối rủi ro an ninh lớn hơn.  Theo lý thuyết triển vọng, nếu một quốc gia mục tiêu tiến tới việc tin tưởng rằng nền an ninh của nó dưới nguyên trạng đang lâm nguy, nó sẽ tấn công quốc gia chư hầu bất kể các bất trắc.  Các sự thất bại của sự ngăn cấm mở rộng tại Bosnia, Kosovo, và Iraq là các thí dụ tốt để viện dẫn. <sup>6</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><span style="font-size: medium;"><strong>Khung Cảnh Lịch Sử</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Có thể tin rằng biến cố nổi bật và bất ngờ nhất trong chính trị Viễn Đông sau cuộc chiến tranh do Mỹ cầm đầu tại Việt Nam (1957-1975) chính là cuộc xung đột Trung Việt năm 1979. “Chưa từng có về mặt quy mô và các số tổn thất, cuộc chiến tranh biên giới Trung – Việt ngắn ngủi năm 1979 là cuộc xung đột quân sự đẫm máu nhất trong “thế giới cộng sản ‘anh em’”. <sup>7 </sup>Theo như phía Trung Quốc, cuộc tấn công vào Việt Nam năm 1979 bị gây ra bởi các vụ chiếm đoạt đất đai bất hợp pháp của Việt Nam vào lãnh thổ Trung Quốc theo một chiến lược thu hồi đất bị cưỡng chiếm (strategy of revanche). <sup>8</sup> Rõ ràng, “từ 25 Tháng Tám đến 15 Tháng Mười Hai 1978, Việt Nam đã phái một tổng số 2,000 nhân viên vũ trang xâm nhập hơn 100 khu vực thuộc vùng Quảng Tây của Trung Quốc, xúi giục 200 vụ đụng độ ở biên giới – 100 vụ tại khu vực Hữu nghị Quan không thôi”. <sup>9</sup> Tuy nhiên, các chất xúc tác thực sự lại can hệ hơn nhiều.  Thí dụ, lịch sử cổ xưa và các sự vướng mắc chủng tộc đều có đóng giữ một vai trò.  Song, chính các biến cố địa chính trị rộng lớn hơn đã thực sự kích động Trung Quốc.  Vào năm 1978, Việt Nam đã kết thúc vài hiệp ước với Sô Viết, tất cả chúng đều đã đe dọa đến bá quyền Trung Quốc tại vùng Đông Á cộng sản.  Phản ứng lại, Trung Quốc đã tấn công Việt Nam hôm 17 Tháng Hai, 1979.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: medium;">Liên Minh Sô Viết – Việt Nam</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Trong nửa đầu của thế kỷ thứ 20, phe cộng sản Việt Nam đánh nhau chống lại phe đế quốc ngoại lai là do nguồn hứng khởi của họ từ phong trào xã hội chủ nghĩa toàn thế giới đang lớn mạnh. <sup>10</sup> Trong năm 1946, họ đã chinh phục phần lãnh thổ đáng kể nằm phía trên vĩ tuyến thứ 17, lằn ranh thực  tế phân chia Việt Nam thành hai vùng bắc (cộng sản) và nam (tư bản).  Miền bắc đặt thủ đô tại Hà Nội trong khi miền nam được cai trị từ Sàigòn.  Trong năm 1957, du kích quân cộng sản từ miền Bắc khởi sự phóng ra các cuộc tấn công vào các làng xã miền nam.  Các vụ chạm súng nhỏ sau hết hợp thành cuộc nội chiến toàn diện.  Trung Quốc, dĩ nhiên, ủng hộ phe công sản. <sup>11</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Trong thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, các quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam chặt chẽ một cách hợp lý. <sup>12</sup> Để an tâm, vào ngày 6 Tháng Hai 1950, Trung Quốc và Bắc Việt Nam đã thành lập liên minh Trung Quốc – Việt Nam theo đó cả hai dân tộc đều sẽ theo đuổi hai nguyên tắc tổng quát: cổ vũ tình hữu nghị chân thật giữa chính họ và tạo ra một khối địa chính trị để phòng thủ chống lại các đe dọa của phe đế quốc.  Hơn nữa, liên minh Trung – Việt năm 1950 chỉ là văn kiện đầu tiên của một lố các hiệp ước mà Bắc Kinh và Hà Nội đã ký kết giữa các năm 1950 và 1965.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Trong khi Trung Quốc và Việt Nam chắc chắn đã có các quan hệ chính thức tốt đẹp cho đến năm 1965, sự hợp tác không chính thức cũng nẩy nở giữa chúng.  Trong thực tế, Bắc Kinh đã ủng hộ một cách vững chắc Hà Nội trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của nó vượt quá những gì mà các hiệp ước chính thức yêu cầu.  Thí dụ, trong suốt cuộc chiến tranh do Mỹ cầm đầu tại Việt Nam (1957-1975), Trung Quốc còn đi xa tới mức độ cung cấp cho Bắc Việt quân dụng và nơi chốn để chứa chấp bộ đội trên lãnh thổ Trung Quốc:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Vào cuối năm 1949, các triển vọng của Việt Minh [tức Bắc Việt] đã thay đổi một cách quyết liệt khi phe Cộng Sản giành thắng quyền kiểm soát tại Trung Quốc … Biên giới dài giữa Trung Quốc – Việt Nam cho phép Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc (CHNDTQ) tiếp tế cho Việt Minh các vũ khí và trang thiết bị và cung cấp các cố vấn và nhân viên kỹ thuật cũng như các nơi ẩn náu nơi mà Việt Minh có thể huấn luyện và bổ sung quân số của nó.  Vào ngày 18 Tháng Một 1950, CHNDTQ chính thức thừa nhận VNDCCH (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) và đã đồng ý cung cấp cho nó sự trợ giúp quân sự … Vào cuối năm 1952, hơn 40,000 bính lính tuyển mộ và 10,000 sĩ quan [Bắc Việt] đã được huấn luyện tại Trung Quốc.  Các vũ khí cũng được cung ứng từ các kho dự trữ vũ khí quan trọng kể cả đại pháo mà Hoa Kỳ đã cung cấp cho phe Quốc Dân Đảng Trung Hoa. <sup>13</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: medium;">Sự Sụp Đổ Của Liên Minh Trung Quốc – Việt Nam</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Sự sụp đổ của liên minh Trung Quốc – Việt Nam có thể được quy cho năm tình trạng riêng rẽ nhưng có liên hệ: sự thù nghịch cổ xưa, chủ trương đòi thu hồi đất đai vốn đã sở hữu theo truyền thống lịch sử (irredentism), Đông Dương, sự xung đột chủng tộc và các quan hệ Sô Viết – Việt Nam.  Trong khi Hà Nội đã hợp tác một cách tích cực với Bắc Kinh trong hơn một thập niên, vào năm 1965 nó đã khởi sự xây dựng một loại chính trị mới đơn phương chống lại Trung Quốc.  Một cách tự nhiên, phía Trung Quốc không ưa thích nhãn quan mới tại Việt Nam và đã cố gắng để thay đổi nó.  Việc nắm giữ Việt Nam đứng về phía mình nằm trong các quyền lợi chính trị của Trung Quốc.  Tuy nhiên, trong mười ba năm kế tiếp, liên minh Trung Quốc – Việt Nam sẽ làm suy đồi cảm tính từ sự ân cần xuống thành ác cảm.  Tồi tệ đến nỗi khi liên minh xấu hơn, cả hai bên sau cùng đã vận dụng đến sự xung đột vũ trang để giải quyết các sự khác biệt của họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><strong>Sự Thù Nghịch Cổ Xưa:</strong> các quan hệ chính trị Trung Quốc – Việt Nam trở lùi mãi đến hai nghìn năm với các cuộc xâm lăng, chiếm đóng nhiều lần của Trung Quốc và các sự đáp trả của Việt Nam xác định cho hai thiên niên kỷ. <sup>14</sup> Khuôn mẫu lịch sử này không phải là chuyện ngẫu nhiên.  Trung Hoa Đế Quốc đã nhìn sự thống trị Việt Nam như một phần chủ yếu trong đại chiến lược của họ nhằm bảo vệ an ninh của Trung Hoa chống lại các sự xâm lấn ngoại lai (dân man rợ) từ phương nam.  Hơn nữa, như lịch sử Trung Hoa cho thấy, chiến lược này không phải là một nỗ lực hoang phí về mặt chiến lược.  Các cuộc xâm lăng ngoại lai từ phương bắc và phương nam của Trung Quốc đã thường xuyên đặt ra một mối đe dọa cho chủ quyền Trung Hoa, và trong một vài trường hợp, đã thực sự đưa đến sự thống trị của dân man rợ.  Phía Trung Quốc đã tìm cách để mãi mãi duy trì một lớp các nước trái độn chung quanh họ nhằm bảo vệ chống lại sự xâm lăng từ bên ngoài.  Ngoài ra, bằng việc bắt các quốc gia triều cống phải nạp các khoản của cải lớn lao cho các hoàng đế Trung Hoa từng chập, phía Trung Quốc đã có thể liên tục bổ sung công khố Hoàng Triều cho các dự án quốc gia chẳng hạn như các chi tiêu quân sự.  Hậu quả, trong nhiều thế kỷ, Việt Nam bị buộc phải triều cống cho Vương Quốc Trung Tâm hùng mạnh, nếu không sẽ phải đối diện với sự xâm lăng và chiếm đóng trực tiếp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Trong khi phía Việt Nam theo truyền thông “tán thưởng, ngưỡng mộ và tiếp nhận văn hóa Trung Hoa, họ đã khinh miệt, sợ hãi và cụ tuyệt sự thống trị chính trị của Trung Hoa”. <sup>15</sup>  Chắc chắn, “một số trong các thần thoại Việt Nam vĩ đại nhất đã được thêu dệt quanh các kỳ công của các vị anh hùng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống lại Trung Quốc”. <sup>16</sup> Cuộc nổi dậy lừng danh của hai chị em bà Trưng là một trường hợp thích ứng. <sup>17</sup> Ngay sau khi Việt Nam đánh bại Trung Hoa tại trận chiến trên sông Bạch Đằng để giành thắng nền độc lập trong năm 938 Sau Công Nguyên, sự giao tranh dữ dội vẫn tiếp tục từng hồi.  Các thí dụ bao gồm các cuộc chiến tranh chống lại các lực lượng Mông Cổ (1285), nhà Minh (1428), và nhà Thanh (1789). <sup>18</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Tóm tắt, lịch sử các quan hệ Trung – Việt là một cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa dân tộc và đại chiến lược.  Kết quả, nhiều người Việt Nam không tin tưởng và tức tối Trung Quốc.  Như thế, trong khi phía Việt Nam đã xác định về mặt lịch sử dân tộc họ như “một chi nhánh văn hóa của Trung Hoa”, sự bất mãn di truyền từ “sự đô hộ của Trung Hoa trong nhiều thế kỷ” đã tác động để kích thích “một chủ nghĩa dân tộc tranh đấu chống lại bất kỳ sự cai trị ngoại lai náo trong đầu óc của nhiều người Việt Nam. <sup>19</sup> Khi đó, không có gì đáng ngạc nhiên rằng Hà Nội đã hướng đến sự trợ giúp của Sô Viết để cân đối ảnh huởng gia tăng của Trung Quốc tại Đông Nam Á sau năm 1965.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       <strong>Chủ Nghĩa Thu Hồi Đất Đai Cổ Truyền</strong> <strong>(Irredentism)</strong>: Bất kỳ nỗ lực hiện đại nào để phân định một cách xác quyết biên giới trên đất liền phân cách Trung Quốc và Việt Nam thì đầy dẫy sự chủ quan. <sup>20</sup> Đất đai trên cả hai bên biên giới về mặt chính trị được kiểm soát bởi bên này hay bên kia vào lúc này hay lúc kia.  Chắc chắn, miền bắc Việt Nam trong thực tế là một phần của Trung Hoa Đế Quốc cho đến năm 948 [? 938] Sau Công Nguyên.   Hơn nữa, ít có sự phù hợp hiện diện trong các tài liệu lịch sử của Việt Nam và Trung Quốc.  Chính vì thế, việc xác định quốc gia nào có quyền ‘tự nhiên” đối với lãnh thổ tranh chấp thì khó khăn một cách khác thường.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Trong Tháng Tư 1975, các lực lượng cộng sản đã tái thống nhất bắc và nam Việt Nam.  Hà Nội vẫn là thủ đô.  Bước tiến tiên khởi của tân chính phủ thống nhất là tái khẳng định các xác quyền lịch sử chắc chắn trên Quần Đảo Trường Sa tại Biển Nam Hải. <sup>21</sup> Theo Hà Nội, Quần Đảo Spratly (Trường Sa theo tiếng Việt) là bộ phận hợp pháp của Việt Nam với sự kiện rằng các đảo này đã được sáp nhập một cách chính thức vào Đế Quốc An Nam (Việt Nam) gần 200 năm trước.  Rõ ràng, năm 1815, Vua Gia Long của An Nam đã phái một đoàn hải chinh đi vẽ các hải trình tại Biển Nam Hải, và ở vài thời điểm nào đó trong cuộc viễn chinh, các thủy thủ liên hệ đã chiếm đóng và đặt định Trường Sa thuộc An Nam.  Dĩ nhiên, phía Trung Quốc hoàn toàn phản đối và nghi ngờ sự giải bày của Hà Nội về lịch sử Trường Sa, tuyên bố rằng “Quần Đảo Trường Sa đã là lãnh thổ của Trung Quốc từ cổ đại”. <sup>22</sup> Trung Quốc khẳng quyết rằng các đảo này đã không chỉ được khám phá bởi các nhà hải hành Trung Hoa, mà đã thuộc quyền kiểm soát của Trung Hoa Đế Quốc từ thời nhà Minh (1368-1644).  Tuy nhiên, phía Việt Nam vừa mới đánh bại hai quyền lực đế quốc.  Liệu Trung Quốc có thể đưa ra sự đe dọa tương tự nào chăng?  Chính vì thế, các nhà lãnh đạo quân sự tại Việt Nam đã đồng ý rằng thời cơ đã đến để khôi phục các thẩm quyền lãnh thổ có tầm quan trọng về mặt lịch sử và chiến lược.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       <strong>Đông Dương</strong>: Đông Dương là một từ ngữ địa chính trị để chỉ một khu vực ngày nay bao gồm ba nước có chủ quyền: Căm Bốt, Lào, và Việt Nam.  Biên giới phía bắc của Đông Dương giáp liền các tỉnh Quảng Tây và Vân Nam của Trung Quốc.  Trong ba quốc gia nguyên thủy của Đông Dương, chỉ có Căm Bốt là không có chung biên giới với Trung Quốc, nằm phía nam Lào và phía tây Việt Nam.  Khởi sự từ cuối thế kỷ 19, các nước này, ở các lúc khác nhau, từng nước được kết hợp vào một liên bang rộng lớn hơn gọi là Đông Dương dưới sự cai trị của người Pháp. <sup>23</sup> Khi phe cộng sản Việt Nam bắt đầu chiến dịch rộng lớn chống lại chủ nghĩa đế quốc ngoại lai hồi nửa đầu thế kỷ thứ 20, cuộc nổi dậy bao gồm các binh sĩ đến từ tất cả ba nước Đông Dương.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Sau Thế Chiến II, người Pháp tìm cách tại thiết lập sự kiểm soát trong thực tế trên Đông Dương, vốn bị mất vào tay các lực lượng Nhật Bản một cách ngắn ngủi trong khoảng từ 1941 đến 1945.  Người Pháp khá dễ dàng giành lại quyền lực chính trị tại Căm Bốt và Lào, nhưng đã gặp khó khăn trong việc thương thảo một giải pháp với lãnh tụ cộng sản chính yếu tại Việt Nam, Hồ Chí Minh, kẻ cầm đầu Liên Đoàn Cách Mạng Giành Độc Lập cho Việt Nam [sic] (Việt Minh) vào lúc đó.  Hai phía đã không giải quyết được các sự khác biệt của họ một cách hòa bình, và chiến tranh đã bùng nổ trong Tháng Mười Hai 1946.  Vào năm 1953, chiến địch của người Pháp để tái chiêm Đông Dương tiến gần đến sự thất bại.  Tháng Mười Một 1953, Căm Bốt được thừa nhận là một quốc gia độc lập.  Bảy tháng sau đó, sau một cuộc bao vây 56 ngày thành công tại pháo đài Điện Biên Phủ tại Việt Nam chống lại các lực lượng Pháp, Paris đã kêu gọi một sự chấm dứt việc giao tranh.  Các viên chức Việt Minh và Pháp gặp gỡ tại Geneva, Thụy Sĩ trong Tháng Bảy 1954 để thương thảo các chi tiết của cuộc ngừng bắn.  Hiệp ước sau cùng đã trao quyền kiểm soát Việt Nam phía bắc vĩ tuyến thứ 17 cho phe cộng sản, trong khi phe tư bản đã giành quyền kiểm soát trên lãnh thổ phía nam vĩ tuyến thứ 17.  Trong bất kỳ trường hợp nào, ý tưởng về một liên bang Đông Dương (đặc biệt dưới sự kiểm soát của Việt Nam) vẫn dằng dai trong đầu óc của nhiều người Việt Nam sau khi độc lập.  Chính vì thế Hà Nội có thể được dự đoán đã khởi sự các kế hoạch để chinh phục Căm Bốt và Lào theo sau sự tái thống nhất trong năm 1975.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Khái niệm về một liên bang Đông Dương tho6ng’ nhất dưới sự bảo trợ của Việt Nam và, bởi sự nối dài, của Sô Viết đã không đứng vững đối với Bắc Kinh, bởi các sự phân nhánh chính trị sẽ đặc biệt bất lợi cho các quyền lợi chính trị của Trung Quốc. <sup>24</sup> Hậu quả, ngay từ 1954, Bắc Kinh đã tìm cách tăng cường vị thế của nó đối với vấn đề kiểm soát Đông Dương.  Thí dụ, phía Trung Quốc đã ngăn cản Căm Bốt và Lào không được tham dự hội nghị Geneva 1954 với tư cách các thành viên thực thụ bởi có ảnh hưởng của Việt Minh trên chính trị của Căm Bốt và Lào vào lúc đó.  Rõ ràng, nếu Căm Bốt và Lào được phép tham dự như các thành viên thực thụ, họ sẽ mang lại cho phái đoàn Việt Minh đòn bẩy chính trị quá mức liên quan đến Đông Dương.  Hồi đầu thập niên 1960, phía Trung Quốc đã bắt đầu ủng hộ nhà lãnh đạo Căm Bốt, ông Hoàng Sihanouk, kẻ được nghĩ đứng trung lập trong cuộc đấu tranh giữa các nước công sản và phi cộng sản.  Phía Trung Quốc đã ủng hộ ông hoàng bởi vì Việt Nam đã sẵn phô bày các dấu hiệu xâm lược đối với phần còn lại của Đông Dương cũng như các quan hệ sâu đậm hơn với Sô Viết.  Vào đầu thập niên 1970, Bắc Kinh đã bắt đầu ủng hộ mạnh mẽ tổ chức Khmer Đỏ của Căm Bốt với nhà lãnh đạo công sản, Pol Pot, nghiêng về Bắc Kinh hơn là Việt Nam và Liên Bang Sô Viết.  Phía Trung Quốc vẫn tiếp tục trợ giúp phe Khmer Đỏ ngay cả sau khi nó đã nắm sự kiểm soát hoàn toàn Căm Bốt trong Tháng Tư 1975.  Phía Trung Quốc cũng tích cực cổ vũ Pol Pot kháng cự lại các tham vọng của Việt Nam tại Đông Dương với bất cứ giá nào.  Pol Pot rõ ràng đã đón nhận sự cố vấn từ Bắc Kinh một cách hoàn toàn nghiêm chỉnh: sau khi ký kết một thỏa ước viện trợ quân sự với Trung Quốc trong Tháng Chín 1977, ông ta đã không để phí thời gian để leo thang các chiến sự với Việt Nam.  Trong Tháng Mười Một 1977, các viên chức Trung Quốc và Việt Nam đã tổ chức các cuộc đàm phán nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng.  Phía Trung Quốc đã đòi hỏi rằng các lực lượng Việt Nam triệt thoái hoàn toàn ra khỏi miền đông của Căm Bốt.  Hà Nội bác bỏ sự yêu cầu, và các quan hệ Trung – Việt rẽ vào một khúc ngoặt tồi tệ hơn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><strong>Sự Xung Đột Chủng Tộc</strong>: Phản ứng trước các cuộc đàm phán song phương bị thất bại với Trung Quốc, từ Tháng Năm đến Tháng Sáu năm 1978 Việt Nam đã trục xuất khoảng 100,000 người Trung Quốc ra khỏi xứ sở của họ.  Đến Tháng Bảy, con số lên tới 150,000 người.  Chiến dịch thì tàn nhẫn và cố ý.  Phía Việt Nam lý luận rằng nếu khu vực biên giới có thể được thanh lọc loại bỏ bất kỳ người Trung Quốc nào, các cuộc tranh chấp lãnh thổ sẽ tự nhiên biến mất, cũng như bất kỳ cơ hội nào cho các Hoa kiều hải ngoại tham gia vào công tác gián điệp.  Chiến lược của họ bị phản đòn: không lâu, các biến cố báo động đã phát sinh giữa các thường dân và các binh sĩ.  Vào ngày 4 Tháng Năm 1977, thí dụ, “[một] biến cố đẫm máu đã bùng nổ tại Hữu Nghị Quan với 51 công nhân Trung Quốc bị thương tích bởi 500 binh sĩ Việt Nam”. <sup>25</sup> Ít ngày sau đó, Hà Nội xúc tiến việc trục xuất của mình và trong vòng hai tuần, ít nhất 57,000 Hoa Kiều nữa bị buộc phải từ bỏ các ngôi nhà của họ.  Vào ngày 24 Tháng Năm, Bắc Kinh đã mất tất cả sự kiên nhẫn, và bắt đầu công khai quở trách Hà Nội.  Vào ngày 29 Tháng Năm, Bắc Kinh “đã tố cáo Việt Nam về các sự độc ác đối với người Trung Quốc tại Việt Nam, bao gồm các vụ bắt giữ tập thể, giết hại tập thể, và nổ súng vào các người tỵ nạn băng ngang biên giới đất liền và chạy trốn bằng thuyền”. <sup>26</sup> Sự việc này được tiếp nối bằng “một loạt phim tài liệu về nỗi thống khổ của dân tỵ nạn để làm sáng tỏ các lập luận của Bắc Kinh”. <sup>27</sup>       </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Các biến cố trong Tháng Sáu và Tháng Bảy đã diễn biến một cách dồn dập.  Trong một nỗ lực để đình chỉ cuộc di cư, Bắc Kinh đã ra lệnh toàn thể biên giới Trung – Việt bị khóa lại vào ngày 11 Tháng Bảy.  Một cách khả dĩ dự đoán, chính sách này đã thất bại và phía Trung Quộc bị buộc phải tiếp tục thu nhận hàng nghìn dân tỵ nạn.  Trong khi đó người Hoa tại miền nam Việt Nam đang cố gắng một cách điên cuồng để vượt thoát bằng thuyền.  Trong số họ, nhiều người bị bắt và bị giam cầm.  Còn nữa, các kẻ ở lại thường “bị đuổi việc, khai trừ, ngược đãi và khẩu phần thực phẩm bị cắt”. <sup>28</sup> Sau hết, khoảng 200,000 người gốc Hoa đã bị trục xuất ra khỏi Việt Nam. <sup>29</sup> Sự xua đuổi thì quá nặng nề và độc ác đến nỗi phía Trung Quốc một cách đương nhiên đã kể nó như một lý do chính yếu tại sao họ sau rốt đã lựa chọn việc tấn công Hà Nội. <sup>30</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><strong>Quan Hệ Sô Viết – Việt Nam</strong>: Như đã sẵn đề cập tới, liên minh Trung Quốc – Việt Nam đã suy đồi hơn nữa vì các viễn ảnh của một Đông Dương tái thống nhất.  Phóa Trung Quốc cảnh cáo Việt Nam rằng bất kỳ sự xâm lăng nào vào Căm Bốt và Lào sẽ không thể được tha thứ và khuyến dẫn sự trừng phạt vũ trang.  Phía Việt Nam đã không bị khuất phục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Trong khi đó, các chiến lược gia Sô Viết tại Mạc Tư Khoa đã bắt đầu dự liệu cách khai thác sự rạn nứt mới giữa Trung Quốc – Việt Nam như một phương tiện để phát huy một liên minh giữa chính họ với phía Việt Nam.  Giống như Trung Quốc, Sô Viết đã nhận thức được trị giá chiến lược lớn lao của Đông Dương, cũng thế phía Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của sự ngăn cấm của Sô Viết đối với Bắc Kinh.  Phía Trung Quốc cáo giác rằng sự ủng hộ mới của Sô Viết cho Việt Nam vừa không cần thiết lẫn chông Trung Quốc trong động lực.  Liên Bang Sô Viết đã sẵn là nước rộng lớn nhất trên trái đất về lãnh thổ, và chính vì thế, Sô Viết đã không có nhu cầu nối dài các lực lượng quân sự của họ đến Đông Dương trừ khi nó liên can đến một vài loại động lực.  Đó là lý do tại sao các viên chức Trung Quốc nghi ngờ Sô Viết về việc thương thảo các kế hoạch để xây dựng các căn cứ hải quân tại Việt Nam và Căm Bốt như một phần của một đại chiến lược nhằm bao vây Trung Quốc từ Mũi Phi Châu (Horn of Africa) cho tới Vladivostock.  <sup>31</sup> Nếu Sô Viết có thể thành công trong việc bao vây Trung Quốc, họ sẽ không chỉ ở vào một vị thế chiến lược để giành giựt sự kiểm soát thế giới cộng sản khỏi tay Trung Quốc, mà còn sẽ thu đoạt được một bàn đạp tại Đông Nam Á, từ đó gây xáo trộn mậu dịch quốc tế giữa khối Tây Phương và Nhật Bản, Nam Hàn, và Đài Loan.  Quần Đảo Trường Sa với các dự trữ dầu khí phong phú chắc chắn cũng nằm trong tầm ngắm của Sô Viết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: medium;">Sự Phân Hóa Sau Chót</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Vào cuối Tháng Mười 1978, các sứ giả Việt Nam lên đường sang Liên Bang Sô Viết để thảo luận khả tính của việc thi hành một “Hiệp Ước Hữu Nghị và Hợp Tác” chung có hiệu lực trong một phần tư thế kỷ.  Cuộc thảo luận diễn tiến tốt đẹp: chưa đầy một tuần lễ, vào ngày 3 Tháng Mười Một 1978, bản hiệp ước được ký kết.  Bản thỏa ước này không chỉ là bản thỏa ước đầu tiên trong vùng đó đối với Sô Viết, nó cũng còn có giá trị như một chiến thắng địa chính trị bằng việc hợp pháp hóa một sự củng cố quân sự của Sô Viết tại Đông Dương.  Lời mở đầu và chín điều khoản đầu tiên của liên minh nói đến sự hợp tác Sô Viết – Việt Nam trong mọi lãnh vực khả dĩ, cũng như một sự xác định sự thống nhất của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới và nhu cầu kháng cự lại mọi mưu toan của phe đế quốc nhằm bành trướng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Trong khi các điều khoản của bản hiệp ước chỉ quy định “sự tham khảo” nếu một trong hai quốc gia nằm dưới sự tấn công, giọng điệu tổng quát rõ ràng tỏ lộ một sự ràng buộc quân sự mạnh mẽ hơn giữa Việt Nam và Liên Bang Sô Viết. <sup>32</sup> Nhìn về điều đó, Bắc Kinh đã luận giải rằng Sô Viết muốn xây dựng các cơ sở quân sự tại và chung quanh Việt Nam.  Tương tự, phía Trung Quốc cũng tiên đoán rằng Việt Nam sẽ sử dụng thỏa ước mới với Sô Viết như một phương tiện để đẩy xa hơn nữa các tham vọng chính trị của chính họ tại Đông Dương.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Phía Trung Quốc đã phản ứng với ác cảm đối với hiệp ước Sô Viết – Việt Nam.  Trong thực tế, trong vòng một tuần lễ ngày ban hành hiệp ước, các viên chức Trung Quốc đã loan báo sự thù nghịch của họ: “Táo tợn bởi sự ủng hộ của Sô Viết, nhà chức trách Việt Nam cao ngạo nhìn nhân dân Trung Quốc vĩ đại là dễ bị bắt nạt … Chúng tôi nghiêm khắc cảnh cáo nhà cầm quyền Việt Nam: Hãy rút bàn tay tội lỗi của các người ra khỏi lãnh thổ Trung Quốc”. <sup>33</sup> Trong khi các lời phát biểu ban đầu như thế còn giữ vẻ lịch sự ngoại giao, các tuyên bố sau này có tính chất đấu tranh :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Việt Nam đã đi đủ xa trong việc theo đuổi đường lối chống Trung Quốc của nó.  Có một giới hạn trong sự kiễn nhẫn và kiềm chế của nhân dân Trung Quốc… Chúng tôi muốn cảnh cáo các nhà chức trách Việt Nam rằng nếu họ, trở nên táo tợn bởi sự ủng hộ của Mạc Tư Khoa, đang tìm cách được đằng chân lân đằng đầu và tiếp tục hành động trong cung cách hoang đàng này, họ nhất thiết sẽ gặp phải sự trừng phạt mà họ xứng đáng [nhận lãnh]. <sup>34</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Vào đầu Tháng Một, các nhà lãnh đạo Trung Quốc còn nói đến việc “dạy cho Việt Nam một bài học”. <sup>35</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Trong khi đó, một loạt các cuộc tấn công vũ trang giữa các lực lượng Trung Quốc và Việt Nam đã làm các sự căng thẳng leo thang.  Vào đầu Tháng Hai, Trung Quốc “đã tập hợp 330,000 binh sĩ, 1,200 xe tăng, ít nhất 1,500 khẩu trọng pháo, và gần 1,000 phi cơ chiến đấu dọc theo biên giơi trên đất liền giữa Trung Quốc và Viêt Nam, và một hạm đội lớn lao khác thường cũng đã tụ tập ngoài khơi đảo Hải Nam” như một dấu hiệu biểu lộ sự bất mãn của họ. <sup>36</sup> Việt Nam, một cách tiên đoán được, đã phản ứng với sự phẫn uất và thù nghịch.  Vào đầu Tháng Hai 1979, mối đe dọa của một sự trả đũa của Sô Viết là yếu tố duy nhất còn lại khả dĩ có đủ trọng lượng chính trị để ngăn cấm Trung Quốc khỏi việc tấn công Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> </span><strong><span style="font-size: medium;">Cuộc Xung Động Công Khai</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Vào sáng ngày 17 Tháng hai 1979, từ 100,000 đrến 180,000 binh sĩ Trung Quốc đã tấn công Việt Nam với “các đợt pháo kích cực kỳ dữ dội, theo sau bởi các đơn vị thiết giáp” bất kể sự đe dọa trả đũa của Sô Viết. <sup>37</sup> Cuộc tấn công của Trung Quốc đã nhắm vào sáu tỉnh biên giới: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Tuyên, Hoàng Liên Sơn, và Lai Châu.  Trong khi cuộc tấn công chớp nhoáng buổi sáng thực sự  làm cho quân đội Việt Nam bị bất ngờ, nó đã không khích động đủ sự hoảng loạn tại Hà Nội để làm gián đoạn các hoạt động của chính phủ.  Trong thực tế, trái với các kế hoạch của Trung Quốc, chính phủ Việt Nam đã đưa ra các lời tuyên bố công khai tức thời gọi các nhà lãnh đạo tại Bắc Kinh là “các tội phạm chiến tranh, còn độc ác hơn cả Hitler”, và và trình bày phương cách làm sao Việt Nam sẽ nhìn thấy một chiến thắng vĩ đại và vinh quang trước Trung Quốc. <sup>38</sup> Hơn nữa, các tướng lĩnh Việt Nam đã ra lệnh bố trí từ 75,000 đến 100,000 binh sĩ và dân quân biên giới tại tiền tuyến.  Chưa đầy một tháng sau đó hai đội quân Việt Nam và Trung Quốc đã đình chỉ sự tàn sát.</span></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><span style="font-size: medium;"><strong>Phân Tích</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Sự phân tích cuộc xung đột Trung – Việt được chia thành hai thời kỳ.  Thời kỳ thứ nhất bắt đầu vào nửa sau của thập niên 1970, và chấm dứt với Hiệp Ước Hữu Nghị và Hợp Tác Sô Viết – Việt Nam năm 1978.  Thời kỳ thứ nhì bắt đầu ngay sau Hiệp Ước Sô Viết – Việt Nam 1978 và kết thúc với sự bùng nổ của cuộc xung đột Trung – Việt 1979.  Sự đảo ngược định hướng của phía Trung Quốc trong thời khoảng xác định ở trên có thể được quy kết cho các sự biến đổi khách quan và cá biệt trong khuôn khổ lý thuyết về nguyên trạng.  Trong thời kỳ một, Trung Quốc hoạt đông dưới một định hướng ít nhiều tích cực trong đó nguyên trạng được xác định bởi sự thiếu cương quyết và vô năng lực của Việt Nam so với Trung Quốc.  Trong thời kỳ hai, một vài biến cố kể cả sự ký kết hiệp ước Sô Viết – Việt Nam năm 1978 hợp lại đưa đến một sự đảo ngược trong định hướng từ tích cực thành tiêu cực về phía Trung Quốc.  Bởi có sự đảo ngược, phía Trung Quốc dần hướng đến một cách tiêu cực và chính từ đó đã tấn công Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> </span><strong><span style="font-size: medium;">Định Hướng Tích Cực</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       <strong>Các Sự Kiện Chủ Yếu</strong>: Vào mùa thu 1970 chính sách của Trung Quốc đối với Bắc Việt đã trải qua một sự thay đổi chính yếu.  Trước đây, Bắc Việt đã dựa nặng nề vào sự trợ giúp của Trung Quốc trong cuộc đấu tranh của nó chống lại phe đế quốc ngoại lai và Sàigòn.  Tuy nhiên, trong nửa sau của 1970, Hà Nội đã bắt đầu tìm kiếm ngày càng nhiều hơn sự ủng hộ của Sô Viết trong khi giảm bớt sự lệ thuộc vào Trung Quốc (vì các lý do nói rõ ở phần hai).  Chín năm nối tiếp đã chứng kiến một tình trạng suy đồi dần dà nhiều hơn trong các quan hệ Trung – Việt đối chọi với một sự tăng trưởng tương ứng trong sự hợp tác giữa Liên Bang Sô Viết và Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Vào ngày 3 Tháng Mười 1971, các nhà ngoại giao Sô Viết đã đến Hà Nội để thương thảo một vài thỏa thuận liên quan đến viện trợ kinh tế và quân sự song phương.  Không lâu sau đó, một phái đoàn cao cấp khác của Sô Viết đã đến thăm Hà Nội.  Trong đó có các viên chức cao cấp chẳng hạn như Thứ Trưởng Quốc Phòng và Tư Lệnh Lực Lượng Phòng Không Sô Viết.  Phái đoàn đã ở lại Hà Nội cho đến tận Tháng Ba 1972 trong khi một khối các quân khí của Sô Viết bao gồm từ “các xe tăng, pháo binh tầm xa, hỏa tiễn phòng không lưu động, và các hỏa tiễn SA-2 đã đến Bắc Việt” với trị giá vào khoảng 700 triệu. <sup>39</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Trong Tháng Mười 1975, các sứ giả Việt Nam đã đến thăm Liên Bang Sô Viết để ký kết hai hiệp định viện trợ kinh tế quan trọng theo đó Sô Viết sẽ cung cấp sự trợ giúp tài chính cho Việt Nam trong một thời hạn năm năm.  Ngoài ra, các viên chức Sô Viết có cho hay một sự thỏa thuận đã đạt được với Hà Nội về một sự quản trị hỗn hợp các chiến lược kinh tế quốc gia của Việt Nam và Liên Bang Sô Viết cho giai đoan từ 1976 đến 1980.  Sô Viết cũng có nói rằng họ đã mời Hà Nội gia nhập Hội Đồng Trợ Giúp Kinh Tế Hỗ Tương (Council for Mutual Economic Assistance), và trong Tháng sáu 1978, Việt Nam đã ký gia nhập thành một hội viên. <sup>40</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Vào năm 1975, điều đã trở thành hiển nhiên rằng Sô Viết lao vào một đường hướng để đồn trú nhân viên quân sự tại Việt Nam và Căm Bốt. <sup>41 </sup>Chiến lược của Sô Viết thì thẳng tuột.  Nó đòi hỏi quân đội Sô Viết bao quanh và xiết chặt sườn phía đông của Trung Quốc từ thành phố Vladivostok ở phía bắc cho đến Vịnh Cam Ranh ở phía nam.  Nó cũng tìm cách kiểm soát Eo Biển Malacca để ngăn trở các tuyến đường dầu hỏa và hải quân đến Âu Châu và Hoa Kỳ.  Hơn nữa, mục đích của Sô Viết được phủ chùm bên trên bởi hai ước vọng sinh đôi của Việt Nam nhằm thiết lập Việt Nam như một quyền lực cấp vùng và giáng một đòn nặng nề vào uy tín của Trung Quốc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Vào ngày 3 Tháng Mười Một 1978, các đại biểu từ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã ký kết một Hiệp Ước Hữu Nghị và Hợp Tác với Liên Bang Sô Viết có hiệu lực trong hai mươi lăm năm.   Đó là một chiến thắng ngoại giao cho cả Sô Viết lẫn Việt Nam, nhưng là một thất bại lớn lao cho Trung Quốc.  Sô Viết và Việt Nam đã “chơi một canh bài lớn” chống lại Trung Quốc và đó không phải là một ván bài mà Trung Quốc sẽ dễ dàng quên được. <sup>42</sup></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">        <strong>Phân tích</strong>: Điều kỳ lạ rằng, trong suốt thời kỳ trước khi có hiệp ước Sô Viết – Việt Nam, phía Trung Quốc đã không có hành động quả quyết nào khi Việt Nam ngày càng nghiêng về các quan hệ với Sô Viết.  Bắc Kinh đã hay biết rất rõ về các mối nguy hiểm chiến lược trong việc cho phép Liên Bang Sô Viết giành được một bàn đạp tại Đông Dương từ lâu, trước ngày 3 Tháng Mười Một 1978.  Song, nó không hề cố gắng can thiệp trực tiếp nhằm chặn đứng chuỗi biến cố dẫn dắt đến sự ký kết hiệp ước Sô Viết – Việt Nam.  Đúng theo lý thuyết ngăn cấm hữu lý, các quốc gia quyết định liệu có nên sử dụng lực lượng quân sự dựa trên một sự so sánh tính hữu dụng kỳ vọng của việc sử dụng hay không sử dụng lực lượng như thế, và họ lựa chọn giải pháp có tầm hữu dụng kỳ vọng lớn nhất.  Nếu điều này là thế, điều phải kết luận rằng việc lựa chọn không tấn công Việt Nam trước khi có hiệp ước Sô Viết – Việt Nam là không hữu lý.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Để làm sáng tỏ điểm nêu trên, trước tiên hãy cứu xét rằng cho đến khi hiệp ước Sô Viết – Việt Nam được thi hành, Trung Quốc đã có cả sức mạnh quân sự và nhân lực sống động để tràn ngập Việt Nam với ít khả tính có sự can thiệp từ bên ngoài.  Sau đó, cứu xét rằng các hành động được thực hiện bởi Sô Viết để nuôi dưỡng các quan hệ với Việt Nam đã xảy ra trong các giai đoạn có thể nhận thấy và tăng trưởng dần dần trong một thời khoảng chín năm.  Điều không mấy hữu lý chiếu theo các sự kiện này rằng phía Trung Quốc lại không xiết chặt sự ngoan cố của Việt Nam trước khi quá trễ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Tôi lập luận rằng phía Trung Quốc đã thiếu sót không hành động ở một thời điểm thích hợp bởi vì một định hướng tích cực đã chế ngự sự nhận thức của họ trước khi có hiệp ước Sô Viết – Việt Nam.  Các quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam đã bị mất cân bằng và bất bình đẳng ngay từ khởi điểm: Trung Quốc thống trị Việt Nam.  Hơn nữa, các hiệu ứng làm suy yếu của cuộc nội chiến Việt Nam trước khi có sự tái thống nhất có nghĩa rằng phía Trung Quốc đã có ít lý do để lo ngại về một kẻ đua tranh hiện hình tại sườn phía nam của họ.  Để giải thích thêm, hãy cứu xét đến điều sau đây: phe cộng sản Việt Nam đã cần và tìm kiếm sự trợ giúp của Trung Quốc để giành thắng cuộc chiến tranh của họ chống lại phe tư bản và phe đế quốc.  Tình trạng này hấp dẫn đối với phía Trung Quốc bởi nó phô bày thế thượng phong tương đối của họ.  Ngoài ra, bởi phía Việt Nam đang có chiến tranh giữa họ với nhau, phía Trung Quốc biết rằng không bên nào đủ mạnh để chống đối họ một cách đơn phương.  Điều cũng cần nhìn nhận rằng, chừng nào mà phía Việt Nam vẫn còn bị phân chia trong chiến tranh, phần còn lại của Đông Dương sẽ tiếp tục bị lệ thuộc vào lòng từ thiện của Trung Quốc.  Vì thế, phía Trung Quốc đã nhận thấy nguyên trạng hoàn toàn thoải mái, và theo đó, đã không có động lực để thay đổi nó.  Kết quả, ngay cả các hành vi sỗ sàng và lập lại nhiều lần của sự coi thường từ phía Việt Nam đối với các đặc ưu quyền của Trung Quốc đã không khích động một sự đối phó mạnh bạo bởi Trung Quốc.  Chỉ khi quá trễ “một cách hữu lý”, phía Trung Quốc mới khởi sự bất kỳ hành động nào để đảo ngược tình trạng thoái hóa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: medium;">Định Hướng Tiêu Cực</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       <strong>Các Sự Kiện Chủ Yếu</strong>: Khi các nhà lãnh đạo Trung Quốc trải qua các cảm giác của sự thất vọng và khả dĩ bị xâm kích trên hiệp ước Sô Viết – Việt Nam, “các lực lượng vũ trang của cộng sản Việt Nam đã khởi sự một cuộc xâm lăng toàn diện vào Căm Bốt cộng sản” hôm 25 Tháng Mười Hai 1978. <sup>43</sup> Hai tuần sau đó, quân du kích Căm Bốt do Việt Nam hậu thuẫn đã thành công trong việc lật đổ chính phủ Căm Bốt hợp pháp.  Đương nhiên, Trung Quốc đã tố cáo các hoạt động quân sự của Việt Nam và nối kết chúng với âm mưu của Sô Viết nhằm khóa chặt sườn phía đông của Trung Quốc.  Trong khi đó, Sô Viết đã thành công trong việc chuyển vận một lực lượng viễn chinh đến miền nam Việt Nam.  Để làm vấn đề tệ hại hơn nữa đối với Trung Quốc, hôm 25 Tháng Một 1979, phía Việt Nam đã nhấn mạnh chiến thắng ngoại giao của họ bằng việc cử hành buổi lễ kỷ niệm năm thứ 109 cuộc chiến thắng quân sự của Việt Nam đối với Bắc Kinh vào năm 1789 dưới thời trị vì của Quang Trung Hoàng Đế”. <sup>44</sup> Vào cuối Tháng Một 1979, thái độ của Trung Quốc đối với Việt Nam đã cứng rắn hơn, và cơn thịnh nộ của các lời kêu gọi cầm vũ khí cho thấy rằng phía Trung Quốc đã bị xô đẩy quá xa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Quân đội Trung Quốc đã tấn công Việt Nam lúc 5 giờ sáng ngày 17 Tháng Hai, 1979.  Thoạt đầu nó đã đạt được các thắng lợi đáng kể về đất đai, trong khi các chiến đấu cơ của Trung Quốc bỏ bom xuống các cơ xưởng, nhà máy điện, và các cơ sở truyền thông khắp miền bắc Việt Nam [? sic, Trung quốc đã áp dụng chiến thuật cổ điển “tiền pháo hậu xung” với biển người, không thấy có tài liệu nào khác nói về việc tham chiến của không quân Trung Quốc trong cuộc xung đột, chú của người dịch].  Khi cuộc xung đột leo thang, quân số của các lực lượng trên đất liền của Trung Quốc lên tới khoảng 600,000 quân. <sup>45</sup> Mục tiêu của việc bố trí quá nhiều binh sĩ là nhằm buộc quân trừ bị của Việt Nam trú đóng tại Căm Bốt phải di chuyển đến tiền tuyến.  Phía Trung Quốc lý luận rằng nếu họ có thể buộc Việt Nam phải rút quân càng nhiều càng tốt ra khỏi Căm Bốt, sẽ chỉ còn rất ít binh sĩ ở lại để kiểm soát Căm Bốt vào lúc kết thúc cuộc xung đột.  Trong khi về mặt chiến lược có vẻ vững chắc, chiến thuật đã thất bại: Việt Nam đã chiếm đóng Căm Bốt trong suốt thập niên 1980.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Trung Quốc đã tấn công Việt Nam để mang sự tín nhiệm đến cho sự cảnh cáo của nó rằng Trung Quốc đã không lo sợ để dạy cho lân bang phía nam một bài học.  Một cách chính xác hơn, Trung Quốc muốn Hà Nội hiểu một cách khẳng quyết rằng nó sẽ tấn công và không bao giờ ngừng tấn công nếu hành động quân sự tại Căm Bốt vẫn tiếp tục và nhiều binh sĩ Sô Viết hơn nữa đến Vịnh Cam Ranh.  Sự phản kháng [<em>démarche</em>, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] của Trung Quốc cũng được dùng như một lời cảnh cáo đối với các nước khác: các sự khiêu khích quá đáng chống lại Trung Quốc sẽ đưa đến sự trả đũa hoàn toàn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><strong>Phân Tích</strong>: Về mặt lý thuyết, cuộc tấn công của Trung Quốc năm 1979 đánh Việt Nam thì không hữu lý.  Các xác xuất cho một cuộc công kích quân sự thành công đánh vào Việt Nam ở thời điểm đó thì quá thấp cho bất kỳ một sự phân tích hữu lý thích đáng nào để biện minh cho nó.  Chính xác hơn, một sự phân tích lợi/hại sẽ cho thấy các lợi lộc tương đối của một sự tổn hại trong trận chiến thì ít thuận lợi hơn khi so sánh với các hiệu quả của một sự tổn hại chắc chắn của sự bất động.  Để chứng minh điều này, hãy cứu xét đến các sự kiện kể sau.  Phía Sô Viết đã sẵn trú đóng binh sĩ tại Việt Nam.  Việt Nam là các chiến sĩ cứng cáp trong khi Trung Quốc không phải như thế.  Phía Sô Viết sở đắc một sức mạnh quân sự khổng lồ, đặc biệt trong năng lực công kích hạt nhân đến nỗi ngay quốc gia hùng mạnh như Hoa Kỳ đã cự tuyệt các lời kêu gọi chiến đấu bên cạnh Trung Quốc vì lo sợ sự trả đũa của Sô Viết.  Theo nhận thức đó, lý thuyết ngăn cấm hữu lý không có sự giải thích rành mạch nào cho các hành động dữ dội của Trung Quốc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Tôi lập luận rằng phía Trung Quốc tiến hành buớc chuyển động quân sự quyết liệt hôm 17 Tháng Hai 1979 bởi vì nhiều biến cố bất lợi đã ảnh hưởng đến uy tín và an ninh quốc gia của Trung Quốc từ 1970 đến 1978.  Một cách cụ thể hơn, các biến cố giữa các năm 1970 và 1978 hợp lại đã đặt Trung Quốc vào một định hướng tiêu cực, khiến trở thành kẻ chấp nhận rủi ro: bất kể các phí tổn kinh tế và xã hội ra sao, phản ứng chủ quan của Trung Quốc trước định hướng tiêu cực đã buộc nó đi theo một đường lối hành động nhiều rủi ro liên can đến các xác xuất thấp của các khoản thu hồi lớn trong trường hợp có sự thua lỗ.  Động thái như thế không hề được tiên đoán trong lý thuyết ngăn cấm hữu lý.  Sự ký kết hiệp ước Sô Viết – Việt Nam đã đánh dấu một điểm đảo ngược trong định hướng của Trung Quốc từ tích cực thành tiêu cực.  Hậu quả, phía Trung Quốc dần trở nên kẻ chấp nhận rủi ro nhiều hơn và đã tấn công Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><span style="font-size: medium;"><strong>Thảo Luận</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Một số người có thể khẳng định rằng thời khoảng ngắn ngủi của cuộc xung đột Sô Viết – Việt Nam đại diện cho một quyết định hữu lý về phía Bắc Kinh để chuyển giao thông điệp quở trách của nó cho Việt Nam dựa trên một sự tính toán lợi/hại về các xác xuất trên sự không đáp ứng của Sô Viết đối với hành động của Trung Quốc trong một khoảng thời gian ngắn ngủi. <sup>46</sup> Trên bề mặt, sự ước đoán này thì dứt khoát một cách hấp dẫn, nhưng nó không để ý đến sự kiện rằng Trung Quốc lựa chọn để tấn công Việt Nam ở một thời cơ ít dẫn đến sự thành công nhất.  Nói cách khác, nó đã không cứu xét đến khung cảnh rộng lớn của hoạt động quốc gia.  Thí dụ hãy tưởng tượng rằng việc ký kết hiệp ước Sô Viết – Việt Nam mới chỉ hành động đầu tiên của các hành đông như thế được thực hiện bởi phía Việt Nam.  Sẽ rất phi lý để nói trong trường hợp này rằng phía Trung Quốc sẽ nhất thiết tấn công Việt Nam.  Khi đó, điều cần phải lý luận rằng một sự phân tích là liệu phía Trung Quốc đã có đặt kế hoạch tấn công chung cuộc của họ trên một số sự tính toán về thời điểm đáp ứng của Sô Viết nằm ngoài vấn đề.  Quyết định tấn công Việt Nam phải được lượng giá trong khung cảnh rộng lớn hơn sao cho có thể tiến đến kết luận hữu lý nhất về các động lực của hoạt động quốc gia.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Các nhà phân tích khác có thể cố gắng để giải thích bản chất hỗn loạn của cuộc tấn công năm 1979 như là phát sinh từ các hậu quả của Cuộc Đại Cách Mạng Văn Hóa Vô Sản.  Một lần nữa, trong khi có vẻ hấp dẫn, sự trình bày này hoàn toàn không có tính chất khả tín.  Bằng chứng thực nghiệm gia tăng của sự nghiên cứu lý thuyết triển vọng cho thấy rằng các tác nhân lấy quyết định, một cách có hệ thống, dưa trên trạng thái của định hướng nhận thức của họ.  Chính vì thế, các sự hỗn loạn chính trị tiếp diễn gây ra bởi Cuộc Cách Mạng Văn Hóa không thể được xếp loại một cách hợp lý như là một biến số nội sinh (endogenous) ảnh hưởng đến các quyết định chính sách ngoại giao.  Đúng hơn, có thể tiên đoán tiến trình nhận thức định hình các sự lựa chọn mà các tác nhân thực hiện.  Khi Bắc Kinh lấy làm thỏa mãn với nguyên trạng, các tiến trình nhận thức dẫn dắt đến các khuôn mẫu “không thích rủi ro” khả dĩ tiên đoán được dựa trên một định hướng tích cực.  Ngược lại, sự bất mãn với nguyên trạng dẫn đến tác phong “chấp nhận rủi ro” khả dĩ tiên đoán được tại Bắc Kinh dựa trên một định hướng tiêu cực.  Từ đó, trước khi Hà Nội và Sô Viết kết hợp các lực lượng, phía Trung Quốc đã ở trong một khuôn khổ tích cực, và do đó, không thích rủi ro.  Nhưng, sau khi có liên minh, Bắc Kinh rơi vào một định hướng tiêu cực, và đánh liều chấp nhận sự phẫn nộ của sự trả thù của Sô Viết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Tuy nhiên, có một lập luận phản bác đáng phân tích sâu xa hơn.  Theo một số sự phân tích chính trị, Bắc Kinh đã biểu lộ sự không sợ hãi các đe dọa ngăn cấm của Sô Viết tại Việt Nam bởi nó đã sẵn trắc nghiệm quyết tâm của Sô Viết hồi năm 1969 một cách trực tiếp.  Phản ứng trước sự chiếm đóng bị cáo giác bất hợp pháp vào lãnh thổ Trung Quốc, hôm 2 Tháng Ba 1969, các binh sĩ Trung Quốc đã phục kích lính tuần cảnh Sô Viết tại đảo Chenpao trên sông Ussuri. <sup>47</sup> Trong cuộc giao tranh theo sau, hàng tá quân tuần cảnh Sô Viết đã bị thương tích.  Như được ước định, Sô Viết đã trả đũa (phản kháng) bằng xe thiết giáp và trọng pháo, nhưng sau rốt đã xuống thang.  Trung Quốc đã thắng cuộc giao tranh và giành lại sự kiểm soát đất đai của nó.  Từ đó nó đã đứng thẳng để lý luận rằng, khi nhìn đến sự đầu hàng của Sô Viết tại Chenpao, Trung Quốc đã tấn công Việt Nam trong năm 1979 mà không có sự lo sợ.  Chính xác hơn, phía Trung Quốc có thể đã tính toán một cách hữu lý rằng, bởi Sô Viết đã không sẵn lòng phát động chiến tranh ngay sau vụ Chenpao, nhiều phần họ cũng sẽ làm như thế tại Việt Nam.  Tôi tin cách lý luận này đáng được điều tra hơn nữa.</span></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><span style="font-size: medium;"><strong>Kết Luận</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">       Ý tưởng rằng các quốc gia thực hiện các hành động như một kết quả của các sự tính toán hơn/thiệt, lợi/hại không tán trợ bằng chứng thực nghiệm: cuộc tấn công của Trung Quốc vào Việt Nam đã xảy ra vào một thời điểm khi các xác xuất cho một sự chiến thắng hay ngay cả cho một lợi lộc đáng kể trong trường hợp thất trận thì quá thấp cho bất kỳ sự phân tích lợi/hại hữu lý nào để biện minh cho nó.  Ngược lại, cuộc tấn công của Trung Quốc thì phù hợp với các sự tiên đoán của lý thuyết triển vọng.  Trong một định hướng tích cực, Trung Quốc đã không thích rủi ro, lựa chọn không làm đảo lộn nguyên trạng bằng việc giao tranh với Việt Nam về mặt quân sự.  Mặt khác, trong một định hướng tiêu cực, Trung Quốc trở nên chấp nhận rủi ro và đã tấn công Việt Nam ở một trong các thời điểm ít thích hợp nhất./-     </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">___</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: small;"><em>CHÚ THÍCH</em></span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>1. Baogang Guo, “Political Legitimacy and China’s Transition”, Journal of Chinese Political Science, vol. 8, số 1-2 (Fall 2003), 8.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>2. Jeffrey Berejikian, “A Cognitive Theory of Deterrence”, Journal of Peace Research, vol. 39, số 2 (2002), 170.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>3. Daniel Kahneman và Avos Tversky, “Prospect Theory and Analysis of Decision Making under Risk”, Econometrica, vol. 47, số 2 (1979), 263-291; Richard Thaler, “Toward a Positive Theory of Consumer Behavior”, Journal of Economic Behavior and Organization, vol. 1, số 1 (1980), 39-60.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>4. George Quattrone và Avos Tversky, “Contrasting Rational and Psychological Analyses of Political Choice”, American Political Science Review, vol. 82 (1988), 23-36.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>5. Berejikian, trong sách đã dẫn (op. cit.), 172.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>6. Cùng nơi dẫn trên, 178-179.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>7. King Chen, China’s War with Vietnam (Stanford, CA: Hoover Institution Press, 1986), xi.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>8. Chang Pao-min, The Sino-Vietnamese Territorial Dispute (New York, NY: Praeger Publishers, 1986).</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>9. Cùng nơi dẫn trên, 48.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>10. D. R. SarDesai, Vietnam: The Struggle for National Identity (Boulder, CO: Westview Press, Inc., 1992).</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>11. Các người dân Trung Hoa lục địa đã trở thành cộng sản từ năm 1949, và cai trị Trung Quốc từ Bắc Kinh.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>12. Ram Kaushik và SusheelaKaushik, Back to the Front: The Unfinished Story in Vietnam (New Delhi, India: Orient Longman Limited, 1979).</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>13. Tucker Spencer, Vietnam (London, UK: University College London Press, 1999), 56.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>14. Henry Kenny, Shadow of the Dragon: Vietnam’s Continuing Struggle with China and the Implications for U.S. Foreign Policy (Washington, DC: Brassey’s Inc., 2002).</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>15. SarDesai, trong sách đã dẫn, 7.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>16. Cùng nơi dẫn trên.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>17. Hai chị em bà Trưng đã nổi dậy chống lại sự cai trị của Trung Hoa giữa các năm 39-43 sau Công Nguyên.  Xem Spencer, 7-8.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>18. Spencer, trong sách đã dẫn.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>19. SarDesai, trong sách đã dẫn , 7.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>20. Chang, trong sách đã dẫn.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>21. Xem “Spratly Islands Dispute”, <a href="http://www.american.edu/TED/SPRATLY.HTM">www.american.edu/TED/SPRATLY.HTM</a>, tiếp cận ngày 28 Tháng Tám, 2009).</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>22. Hemen Ray, China’s Vietnam War (Kalkaji, New Delhi: Radiant Publishers, 1983), 65.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>23. Ronald Cima, “Vietnam: Historical Background”, trong sách biên tập bởi V. Largo, Vietnam: Current Issues and Historical Background (Hauppauge, NY: Nova SciencePublishers, Inc., 2002), 109.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>24. Anne Gilks, The Breakdown of the Sino-Vietnamese Alliance, 1970-1979 (Berkeley, CA: Institute of East Asian Studies, 1992).</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>25. Chen, trong sách đã dẫn, 64.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>26. Chang, trong sách đã dẫn, 31.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>27. Cùng nơi dẫn trên, 31.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>28. Steven Hood, Dragons Entangled: Indochina and the China-Vietnam War (Armonk, NY: M. E. Sharpe, Inc., 1992), 149.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>29. Chang, trong sách đã dẫn, 50.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>30. Hood, trong sách đã dẫn, 150.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>31. Gilks, trong sách đã dẫn.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>32. Cùng nơi dẫn trên, 217.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>33. People’s Daily (10 Tháng Mười Một 1979), trong bản tin đài phát thanh BBC (British Broadcasting Corporation, SWB, FE 5966/A3/1-2, trong sách của Anne Gilks, 218-219.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>34. Xinhua News Agency (24 Tháng Mười Hai 1978), 25, trong sách của Chang, 52.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>35. New York Times (1 Tháng Hai 1979), A1.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>36. Chang, trong sách đã dẫn, 52-53.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>37. Chen, trong sách đã dẫn, 105.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>38. Chinese Aggression against Vietnam (Hanoi, 1979), 113-28; trong sách của Ray, 101.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>39. Cùng nơi dẫn trên, 54.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>40. Ray, trong sách đã dẫn, 54-65.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>41. Chen, trong sách đã dẫn.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>42. Ray, trong sách đã dẫn, 92.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>43. Stephen Morris, Why Vietnam Invaded Cambodia: Political Culture and the Causes of War (Stanford, CA: Stanford University Press, 1999), 5.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>44. Ray, trong sách đã dẫn, 93.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>45. Cùng nơi dẫn trên, 107.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>46. Muốn có một sự giải thích tương tự, xem James Mulvenon, “The Limits of Coercive Diplomacy: The 1979 Sino-Vietnamese Border War”, Journal of Northeast Asian Studies, vol. 14, số 3 (Fall 1995), 68-89.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>47. Robert Gates, From the Shadow (New York, NY: Simon &amp; Schuster, 1996), 35-36./-  </em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>_____</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>Nguồn; <strong>Todd West</strong>, Failed Deterrence, The 1979 Sino-Vietnamese Conflict, Stanford University Journal of East Asian Affairs,  Vol. 6, No. 1, Winter 2006, các trang 73- 85.</em></span></p>
<p class="facebook"><a href="http://www.facebook.com/share.php?u=http://phiatruoc.info/su-ngan-chan-khong-thanh-cong-cuoc-xung-dot-trung-quoc-viet-nam-nam-1979/" target="_blank"><img src="http://phiatruoc.info/wp-content/plugins/add-to-facebook-plugin/facebook_share_icon.gif" alt="Share on Facebook" title="Share on Facebook" /></a><a href="http://www.facebook.com/share.php?u=http://phiatruoc.info/su-ngan-chan-khong-thanh-cong-cuoc-xung-dot-trung-quoc-viet-nam-nam-1979/" target="_blank" title="Share on Facebook">Share on Facebook</a></p>
<p><iframe src='http://www.facebook.com/plugins/like.php?href=http%3A%2F%2Fphiatruoc.info%2Fsu-ngan-chan-khong-thanh-cong-cuoc-xung-dot-trung-quoc-viet-nam-nam-1979%2F&amp;layout=button_count&amp;show_faces=true&amp;width=280&amp;action=recommend&amp;colorscheme=light&amp;height=30' scrolling='no' frameborder='0' style='border:none; overflow:hidden; height:30px' allowTransparency='true'></iframe>
<div class="bottomcontainerBox" style="background-color:#F0F4F9;">
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<iframe src="http://www.facebook.com/plugins/like.php?href=http%3A%2F%2Fphiatruoc.info%2Fsu-ngan-chan-khong-thanh-cong-cuoc-xung-dot-trung-quoc-viet-nam-nam-1979%2F&amp;layout=button_count&amp;show_faces=false&amp;width=85&amp;action=like&amp;font=verdana&amp;colorscheme=light&amp;height=21" scrolling="no" frameborder="0" allowTransparency="true" style="border:none; overflow:hidden; width:85px; height:21px;"></iframe></div>
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<g:plusone size="medium" href="http://phiatruoc.info/su-ngan-chan-khong-thanh-cong-cuoc-xung-dot-trung-quoc-viet-nam-nam-1979/"></g:plusone>
			</div>
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<a href="http://twitter.com/share" class="twitter-share-button" data-url="http://phiatruoc.info/su-ngan-chan-khong-thanh-cong-cuoc-xung-dot-trung-quoc-viet-nam-nam-1979/"  data-text="Sự ngăn chặn không thành công cuộc xung đột Trung Quốc &#8211; Việt Nam năm 1979" data-count="horizontal"></a>
			</div>
</p></div>
<div style="clear:both"></div>
<div style="padding-bottom:4px;"></div>
<p><i>Scridb filter</i><!-- Scridb filter--></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phiatruoc.info/su-ngan-chan-khong-thanh-cong-cuoc-xung-dot-trung-quoc-viet-nam-nam-1979/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Mạc Kính Vũ trong quan hệ với Trung Quốc thế kỷ XVII</title>
		<link>http://phiatruoc.info/mac-kinh-vu-trong-quan-he-voi-trung-quoc-the-ky-xvii/</link>
		<comments>http://phiatruoc.info/mac-kinh-vu-trong-quan-he-voi-trung-quoc-the-ky-xvii/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 30 Nov 2012 04:08:19 +0000</pubDate>
		<dc:creator>tapchiphiatruoc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Lịch sử]]></category>
		<category><![CDATA[Mạc Kính Vũ]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Thị Mỹ Hạnh]]></category>
		<category><![CDATA[Triều Mạc]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phiatruoc.info/?p=9696</guid>
		<description><![CDATA[
 ThS Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
 Khoa Việt Nam học – Đại học Sư phạm Hà Nội
Trích từ newvietart

Là vị vua thứ 4 và cũng là vị vua cuối cùng của nhà Mạc suốt thời hậu kỳ[1], Mạc Kính Vũ đã trở thành tâm điểm chú ý của biết bao nhà nghiên cứu xưa nay khi bàn về sự tồn ...]]></description>
	
			<content:encoded><![CDATA[<h3 style="text-align: right;"><span style="font-size: medium;"><strong> ThS Nguyễn Thị Mỹ Hạnh<br />
</strong> <em>Khoa Việt Nam học – Đại học Sư phạm Hà Nội</em><strong><em><br />
</em></strong><em><span style="font-size: small;">Trích từ <a href="http://newvietart.com/index4.1350.html">newvietart</a></span></em><strong><em><br />
</em></strong></span></h3>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><span style="color: #000000;"><strong><span style="font-family: Times New Roman;">L</span></strong></span>à vị vua thứ 4 và cũng là vị vua cuối cùng của nhà Mạc suốt thời hậu kỳ<a href="http://newvietart.com/index4.1350.html#_ftn1">[1]</a>, Mạc Kính Vũ đã trở thành tâm điểm chú ý của biết bao nhà nghiên cứu xưa nay khi bàn về sự tồn vong của nhà Mạc. Trong vai trò là vị vua đánh dấu chấm hết cho sự tồn tại của nhà Mạc suốt 85 năm tồn tại<a href="http://newvietart.com/index4.1350.html#_ftn2">[2]</a>, Mạc Kính Vũ đã tiếp nối đường hướng ngoại giao của các vị vua nhà Mạc trước đó trong mối quan hệ với triều đình phong kiến Trung Hoa như thế nào? Có nét gì mới trong mối quan hệ ấy không? Và liệu mối quan hệ với Minh triều, Thanh triều thời bấy giờ có ảnh hưởng gì đến sự sụp đổ của nhà Mạc nửa sau thế kỷ XVII? Đó là những vấn đề đặt ra và cũng là mối quan tâm mà chúng tôi muốn bàn đến trong bài tham luận này.<span id="more-9696"></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #660099; font-size: medium;"><strong>Tương quan lực lượng giữa nhà Mạc và triều đình phong kiến Trung Hoa thế kỷ XVII</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Lúc bấy giờ, sau khi bị đánh bật khỏi kinh đô Thăng Long vào năm 1592, con cháu nhà Mạc đã tập hợp lại thành thế lực cát cứ chống lại triều Lê Trung Hưng suốt 85 năm trời. Điều đáng nói là chính trong bối cảnh đó, có không ít người dân vẫn nương theo ngọn cờ của nhà Mạc, ủng hộ nhà Mạc trong việc khôi phục, củng cố thế lực. Về điều này, sách <em>Đại Việt sử ký toàn thư</em> đã viết: “Từ tháng 3 năm 1593, Mạc Kính Chỉ đã thất bại, nhưng ở khắp nơi, con cháu, dư đảng nhà Mạc nổi dậy chiếm cứ các địa phương xưng bá…chống lại họ Trịnh quyết liệt…Mạc Kính Liễn lập Mạc Kính Cung ở châu Văn Lan làm người nối nghiệp họ Mạc, đặt niên hiệu là Càn Thống năm thứ nhất, nhiều người còn giữ hai lòng, chưa quy phục hết, nghe Kính Cung lập nên rủ nhau theo<a href="http://newvietart.com/index4.1350.html#_ftn3">[3]</a>” hay Lê Qúy Đôn trong <em>Đại Việt thông sử</em> cũng đã phải thừa nhận rằng: “Lúc này, lòng người dân vùng Đông Bắc hãy còn theo ngụy (tức nhà Mạc) nghe tin Mạc Kính Cung lên ngôi, dẫn nhau đến quy phục. Từ sông Nhị Hà trở về Bắc, can qua nối tiếp dấy lên, khói lửa không dứt, nhóm lớn thì kết thành 30 đảng, đông tới vài nghìn người, nhóm nhỏ cũng thành 10 toán, 7 – 8000 người…Quân giặc tới đâu, dân đến hùa theo, liên kết với nhau cùng nổi dậy…Nhân dân các huyện thuộc Hải Dương, Kinh Bắc đều dựng cờ xí hưởng ứng với giặc<a href="http://newvietart.com/index4.1350.html#_ftn4">[4]</a>”. Rõ ràng là dù nhà Mạc bấy giờ đang lâm vào thế yếu nhưng những gì mà vương triều Mạc gây dựng được trước đó trong công cuộc trị quốc, an dân sau những biến loạn của đất nước cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI là một thực tế không thể nào phủ nhận. Và dư âm của giai đoạn dài khá thịnh vượng ấy của vương triều Mạc vẫn còn đó trong tâm thức của biết bao người, hướng lòng người về phía nhà Mạc lúc này đây. Điều đó góp phần giúp chúng ta lý giải được tại sao sau khi vương triều Mạc bị sụp đổ, trong suốt một thời gian dài, nhân dân trên hầu khắp miền Bắc – cương vực của Bắc triều cũ vẫn ủng hộ họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Trong khi đó, bản thân triều đình vua Lê chúa Trịnh đang lâm vào khó khăn về mọi mặt: kinh tế thì bị tàn phá nặng nề, nông dân thì bị bần cùng lưu vong, đói kém khắp mọi nơi. Thêm vào đó, triều đình lại luôn phải gồng mình lên chống chọi lại những cuộc tranh giành quyền bính trong nội bộ vương triều<a href="http://newvietart.com/index4.1350.html#_ftn5">[5]</a>. Dựa vào sự suy yếu ấy của họ Trịnh, cộng với sự ủng hộ của nhân dân thì nhà Mạc đã nhanh chóng thiết dựng được một số căn cứ chống đối, cát cứ ở địa phương như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, trong đó Cao Bằng được xem là trung tâm hoạt động của nhà Mạc thời hậu kỳ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Song nói như vậy không có nghĩa là chúng ta khẳng định sự thắng thế, lớn mạnh của nhà Mạc trong bối cảnh lịch sử đất nước thế kỷ XVII. Dù rằng xét trong tương quan lực lượng với triều đình vua Lê chúa Trịnh, nhà Mạc vẫn còn một số lợi thế nhất định như trên, song nếu đặt nó trong thế so sánh với giai đoạn trước đó<a href="http://newvietart.com/index4.1350.html#_ftn6">[6]</a> và với một triều đình chính thống như triều Lê – Trịnh lúc bấy giờ thì dù sao nhà Mạc lúc này chỉ tồn tại như là một thế lực cát cứ phong kiến. Vì thế, phạm vi ảnh hưởng và tiềm lực về mọi mặt của nhà Mạc trong bối cảnh mới hạn chế hơn nhiều so với triều Lê Trung Hưng – dẫu rằng triều đình này đang lâm vào bước đường suy yếu, khủng hoảng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Trong cái thế đối sánh như vậy, khi mà nguy cơ chống đối từ triều đình Lê &#8211;  Trịnh luôn thường trực và tham vọng bành trướng từ phía Bắc của các triều đại phong kiến Trung Hoa chưa bao giờ dứt thì nhà Mạc không thể đủ sức để chống chọi lại cùng một lúc với 2 đối thủ “nặng ký” ấy là điều dễ hiểu. Và hơn ai hết các vua nhà Mạc hiểu rõ rằng: muốn đối phó với đối phương thì trước hết phải giữ được cho chặt vùng đất cát cứ. Trong khi triều đình Lê &#8211; Trịnh đang tìm mọi cách để lấy lại vùng đất cát cứ đó từ tay nhà Mạc bằng mọi giá thì các vua Mạc, từ Mạc Kính Cung đến Mạc Kính Vũ đều nhận chân được sự cần thiết phải có sự trợ giúp của một thế lực “đủ mạnh” để có thể kiềm chế “tham vọng” ấy của triều Lê. Trong bối cảnh bị “cô lập” đó, trên hành trình đi tìm đồng minh ấy thì ngoài Minh triều, Thanh triều ra, nhà Mạc còn có thể nương nhờ uy thế của thế ai nữa? Vì vậy, việc nhà Mạc ra sức chiếm giữ vùng đất Cao Bằng làm căn cứ một mặt là do nơi đây địa hình hiểm trở, gây khó khăn cho những lần tấn công của họ Trịnh, nhưng mặt khác cũng là để dễ nương nhờ thanh thế của Minh triều, Thanh triều trong những tình thế cấp bách.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Về phía triều đình phong kiến Trung Hoa, lúc bấy giờ, bước vào thế kỷ XVII, nhà Minh đang lâm vào bước đường suy thoái, khủng hoảng. Hàng loạt cuộc nổi dậy liên hồi của nhân dân, đặc biệt là nông dân đã diễn ra. Trong cơn bão táp sôi trào ấy, Minh triều đã nhanh chóng bị nhấn chìm bởi cuộc khởi nghĩa nông dân của Lý Tự Thành. Từ đây vào năm 1644, Thanh triều được thành lập, tiếp nối sứ mệnh lịch sử của các triều đại phong kiến trước đó. Là một vương triều “ngoại tộc” lại nắm quyền lãnh đạo một đất nước đa phần là người Hán, ngay từ đầu nhà Thanh đã vấp phải rất nhiều khó khăn từ sự chống đối điên cuồng của những thế lực cựu thần nhà Minh cũng như sự nổi đậy không dứt của những tộc người Hán. Vì vậy vào nửa sau thế kỷ XVII, mặc dù rất muốn mở rộng bành trướng thế lực xuống phương Nam để phô trương thanh thế, song khi nội trị chưa yên thì bản thân Thanh triều đang phải gắng sức giữ cái thế “tĩnh” trong quan hệ với các nước xung quanh, trong đó có Đại Việt chúng ta. Bởi thế mà hơn bao giờ hết, triều Minh rồi đến triều Thanh trong suốt thế kỷ XVII luôn tìm mọi cách chia rẻ hòng làm suy yếu tiềm lực Đại Việt để chuẩn bị cho một âm mưu bành trướng lâu dài, chứ chưa sử dụng  ngay đến vũ lực trực tiếp gây chiến. Để làm được điều này, nhà Thanh đã không chối từ sự nương nhờ của nhà Mạc suốt từ thời Mạc Kính Cung đến Mạc Kính Vũ với mưu đồ biến nhà Mạc thành đối trọng tương xứng trong cuộc chiến chống lại triều Lê, duy trì tình trạng chia cắt lâu dài ở Đại Việt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Như vậy là, nguyên vọng tìm “đồng minh” trong thế cô lập của nhà Mạc đã gặp đúng sở nguyện của các triều đại phong kiến Trung Quốc lúc bấy giờ. Và mối quan hệ giữa 2 bên được thiết lập như một sự tất yếu. Song vấn đề là hiệu quả của mối quan hệ ấy như thế nào? Với tư cách là vị vua cuối cùng của nhà Mạc, mối quan hệ giữa Mạc Kính Vũ với Minh triều, Thanh triều ra sao? Những chuyển biến của mối quan hệ ấy có tác động như thế nào đến kết cục của nhà Mạc trong lịch sử dân tộc?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #660099; font-size: medium;"><strong>Mạc Kính Vũ trong mối quan hệ với Trung Quốc thế kỷ XVII – Hệ quả và thực chất</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Trong bối cảnh lịch sử như trên, ngay từ khi thay cha là Mạc Kính Khoan lên làm vua, Mạc Kính Vũ đã tiếp tục mối quan hệ “thần phục” Minh triều của các vị vua trước đó, không chấp nhận thần phục họ Trịnh, tự lập làm vua, xưng hiệu là Thuận Đức. Bởi thế mà trong suốt những năm từ khi Mạc Kính Vũ lên làm vua (1638) cho đến khi Minh triều chấm dứt sự tồn tại của vương triều mình (năm 1644), đã bao phen họ Trịnh cầu cứu nhà Minh giúp quân đánh tan nhà Mạc trong nước, song Minh triều vẫn tìm mọi cách để chối từ nhằm duy trì sự tồn tại của cả nhà Mạc lẫn triều Lê Trung Hưng, đặt Đại Việt trong tình trạng chia cắt. Nhờ đó mà trong thời gian này, tuy họ Trịnh bao phen cất quân lên Cao Bằng tiêu diệt nhà Mạc song rốt cục không thắng nổi Mạc Kính Vũ và đành lui quân về kinh thành. Đó là vào tháng 3 năm 1638, chúa Trịnh Tráng đích thân đem quân đi đánh Kĩnh Vũ, ngay trận đầu ra quân thì tướng Trịnh là Hạ Quận công bị bắt và Lâm Quận Công bị chém tại trận. Trịnh Tráng đã nổi giận đốc quân vây bốn mặt Cao Bằng tìm cách tiêu diệt Mạc Kĩnh Vũ nhưng không tài nào thắng nổi. Một lần khác, ấy là vào mùa đông năm đó (11/1638), Trịnh Tráng sai Trịnh Kiều đem quân đi đánh Kính Vũ cũng không thành bèn rút quân về vào đầu tháng giêng năm sau (1640). Nửa năm sau (6/1639), Trịnh Trạng lại tự mình đốc quân quyết đánh Mạc Kính Vũ. Lần này trước trước khi xuất quân, Trịnh Trạng gửi thư cho Qúy Đạo – một tướng nhà Minh đóng ở Quảng Tây xin giúp sức cùng đánh nhưng kết quả vẫn không thắng lợi, đành lui binh lần nữa. Một năm sau, chúa Trịnh tiếp tục cầu cứu nhà Minh, đồng thời biên thư cho các doanh tướng nhà Minh đóng ở các tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam xin phối hợp quân cùng quan quân nhà Lê đánh tan Mạc Kính Vũ. Song suốt từ đó cho đến năm 1643, tuy nhà Minh có thư phúc đáp nhưng lại “cố tình” sai hẹn nên cuối cùng Trịnh Trạng vẫn không thể đánh thắng được Mạc Kính Vũ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Vậy là chúng ta không thể nào phủ nhận được rằng: Sự duy trì mối quan hệ “hòa hảo” giữa nhà Mạc và Minh triều trong thời gian trị vì của Mạc Kính Vũ đã góp phần không nhỏ trong việc tăng cường sức mạnh đề kháng của nhà Mạc trước sự tấn công liên hồi của quan quân Lê – Trịnh. Mặc dù sự nương nhờ vào thế lực của Minh triều không thể giúp nhà Mạc đủ sức đánh tan triều Lê Trung Hưng (và bản thân Minh triều cũng không muốn điều này xảy ra) song trong một chừng mực nhất định, nó đã giúp nhà Mạc tiếp tục tồn tại trong một bối cảnh đầy thử thách.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Khi nhà Minh mất, nhà Thanh lên nối quyền thì Mạc Kính Vũ lại tiếp tục “thần phục” Thanh triều, dựa vào cái uy của nhà Thanh trong suốt một thời gian dài sau đó. Và nhờ vậy mà trong suốt nửa sau thế kỷ XVII, chúa Trịnh đã bao phen phải tự mình đốc quân đi đánh nhà Mạc mà không hề nhận được sự trợ giúp nào từ phía Thanh triều. Bản thân Mạc Kính Vũ lúc bấy giờ cũng đã bao lần chọn Trung Quốc làm điểm dừng chân trên hành trình lánh nạn trước sự tấn công của quan quân Lê – Trịnh. Đó là vào những năm 1666 và năm 1667. Đặc biệt là vào năm 1667, khi bị quân Trịnh đánh đuổi khỏi Cao Bằng, Mạc Kính Vũ đã chạy sang Vân Nam dâng sớ tố cáo. Bằng con đường ngoại giao mềm dẻo, Mạc Kính Vũ đã được vua Thanh phong cho làm Đô thống sứ An Nam, đồng thời đổi tên là Nguyên Thanh và  xin Thanh triều gây sức ép buộc nhà Lê phải trả lại đất Cao Bằng cho họ. Về phía vua Lê, để biện minh cho hành động đánh Mạc cũng đem việc tổ tiên của Mạc Nguyên Thanh là Mạc Đăng Dung giết vua Lê và quốc mẫu ra tố cáo.  Nhưng kết quả là nhà Thanh cho đem Mạc Kính Vũ về Nam Ninh và sai sứ mang sắc dụ sang ta đòi Trịnh Tạc cắt 4 châu ở Cao Bằng: Thạch Lâm, Quảng Uyên, Thượng Lang, Hạ Lang nhường cho họ Mạc. Sắc dụ có đoạn viết:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">“Hoàng đế sắc dụ quốc vương An Nam Lê Duy Hỷ: Theo lời tâu của người có những lời rằng tổ của Mạc Nguyên Thanh là Mạc Đăng Dung là kẻ cừu thù đã bức giết tiên Quốc mẫu cùng Vương nối dõi, làm việc giết người để đoạt lấy nước, nên nay hưng binh đánh dẹp. Lại nói báo phục mối thù trước, nên tiểu trừ họ Mạc. Nhưng về việc Mạc Kính Cung, Mạc Kính Khoan chiếm cứ Cao Bằng, trước kia nước người đến đánh, rồi có thề ước hòa hảo. Cứ như vậy, thì mối thù đã trả xong, đã kết giao hòa hảo, mỗi bên chiếm cứ đất riêng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Những người họ Mạc làm loạn nay đã chết, sự việc đã giải quyết xong thời Gai Tĩnh triều Minh, thuộc thời xửa năm cũ. Thời nay, Mạc Nguyên Thanh trước tiên đến nạp cống dốc lòng thành qui phụ, trẫm ban chức Đô thống sứ; sau đó người cũng đến nạp công qui phụ, đã được phong Vương. Nay ngươi sinh sự hưng binh, bảo là phục cừu; đáng lý ra trước khi hưng binh, phải trình tấu mọi tình tiết, để nghe theo sắc chỉ. Rồi chưa xin chiếu chỉ, đã hưng binh gấp, tàn phá địa phương Cao Bằng, chém giết binh dân, việc làm thực không hợp. Nay đã xưng tuân chỉ bãi binh, hãy đem địa phương nhân dân Cao Bằng trao lại cho Mạc Nguyên Thanh, mỗi bên giữ đất yên ổn sinh sống, để đáp ứng với lòng chuộng lẽ yên dân của trẫm, tận xứng đạo nghĩa phiên bang, vĩnh viễn được phúc ân sủng. Hãy cẩn thận suy nghĩ, tuân kính; đừng trái lệnh! Đặc dụ<a href="http://newvietart.com/index4.1350.html#_ftn7">[7]</a>”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Vậy là nhờ áp lực từ “Thiên triều” Trung Hoa, họ Trịnh đã buộc lòng phải nhún nhường trao lại cho nhà Mạc 4 châu ở Cao Bằng – những vùng đất mà khó khăn lắm nhà Trịnh mới giành lại được từ tay họ Mạc. Trong cái thế một nước nhỏ phải “thần phục” “Thiên triều” Trung Hoa, lại đang muốn Thanh triều giúp đỡ trong cuộc chiến khốc liệt chống lại họ Mạc, vua Lê chúa Trịnh đã không có sự lựa chọn nào khác. Mạc Kính Vũ một lần nữa đã rất tinh ý trong việc tận dụng tối đa điểm yếu của đối phương để ra sức duy trì sự tồn tại của dòng họ mình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Đã có không ít người đồng nhất sự “thần phục” ấy của Mạc Kính Vũ với hành động thỉnh cầu quan quân Trung Hoa mang quân vào trợ lực trong cuộc chiến trường kì của họ Trịnh. Song nếu nhìn sâu hơn thực chất của vấn đề chúng ta sẽ thấy sự khác nhau rất căn bản trong hành động nương nhờ sự giúp đỡ của “Thiên triều” từ phía họ Mạc và từ phía triều đình Lê &#8211; Trịnh. Trên thực tế,  vì quyền lợi ích kỷ của dòng họ mình, chúa Trịnh đã không ít lần cầu cứu nhà Minh, nhà Thanh cùng các tướng lĩnh “Thiên triều” đóng quân ở biên giới 2 nước đem quân vào nước Việt cùng phối hợp với họ tiêu diệt thế lực cát cứ nhà Mạc. Nếu như những yêu cầu đó được chấp thuận thì rõ ràng vô hình trung họ Trịnh đã tự đẩy dân tộc mình, nhân dân mình vào cái thế bị mất độc lập. Trong khi đó, các ông vua nhà Mạc thời hậu kỳ, từ Mạc Kính Cung cho đến vị vua cuối cùng – Mạc Kính Vũ tuy đều ra sức “thần phục” triều đình phong kiến Trung Hoa cốt giữ mối quan hệ hòa hảo và tìm “chỗ dựa” để tránh thế cô lập trong cuộc chiến có phần không cân sức giữa một bên là thế lực cát cứ (nhà Mạc) và một bên là triều đình vua Lê chúa Trinh, song chưa bao giờ sự thần phục ấy đe dọa đến an nguy quốc gia, đến sự tồn vong và độc lập dân tộc. Hơn ai hết, các vua Mạc thời bấy giờ biết mượn” cái uy” quyền của “Thiên triều” để kiềm chế sức mạnh của họ Trịnh nhằm đảm bảo sự tồn tại của mình chứ không hề “mượn quân” dọn đường cho người Trung Quốc vào Đại Việt để đánh dẹp họ Trịnh bằng quân sự. Bởi thế mà trong cuộc chiến chống Lê – Trịnh, suốt từ triều Minh đến triều Thanh, chúng ta chưa hề thấy một lần nào các vua Mạc, cả Mạc Kính Vũ cầu xin “Thiên triều” đem quân sang hỗ trợ về lực lượng chiến đấu. Thậm chí trong những lúc nguy nan nhất, trên hành trình lánh nạn ở đất Trung Hoa, Mạc Kính Vũ cũng chưa hề ngỏ lời để Thanh triều giúp đỡ về mặt quân sự. Có chăng thì Mạc Kính Vũ chỉ xin Minh triều, Thanh triều hãy bằng lời nói của bậc “thượng quốc” mà gây sức ép cho quan quân Lê – Trịnh. Và từ chỗ phát hiện ra điểm yếu của triều Lê Trung Hưng lẫn âm mưu hòng chia cắt làm suy yếu Đại Việt của “Thiên triều” Trung Hoa, vua Mạc đã biết tận dụng tối đa những  điểm yếu của kẻ thù để duy trì thế cân bằng lực lượng giữa họ Mạc và họ Trinh suốt một thời gian dài (trong khi bản thân Minh triều, Thanh triều cũng chưa thể làm gì đe dọa đến an nguy dân tộc). Sự sáng suốt trong cuộc đấu tranh sinh tồn của Mạc Kính Vũ chính là ở chỗ đó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Hơn thế, trong tư tưởng của các vị vua nhà Mạc thì sự thần phục “Thiên triều” Trung Hoa chỉ là phương cách để duy trì sự tồn tại của dòng họ mình mà thôi còn thực chất thì chưa bao giờ họ muốn nhân dân lâm vào cái họa binh đao, muốn để mất độc lập dân tộc vào tay Minh – Thanh. Tư tưởng ấy được chứng thực trong lời căn dặn lúc lâm nguy của Mạc Ngọc Liễn: “Nay họ Mạc khí vận đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời. Dân ta là dân vô tội, mà đê cho mắc nạn binh đao, sao lại nỡ thế. Bọn ta nên tránh ở nước khác, chứa nuôi uy sức, chịu khuất đợi thời, xem khí nào mệnh trời trở lại mới có thể làm được. Rất không nên lấy sức chọi sức, ahi con hổ đánh nhau, tất có một con bị thương không được việc gì. Nếu thấy quân họ đến thì ta nên tránh, chớ có đánh nhau, cốt phải giữ cẩn là hơn. <em>Lại chớ nên mời người nước Minh vào trong nước ta, đến nỗi dân ta phải chịu lầm than, đó cũng là tội không có gì nặng bằng</em><a href="http://newvietart.com/index4.1350.html#_ftn8">[8]</a>” và được chứng thực trong mọi hoạt động nêu trên của vị vua cuối cùng &#8211;  Mạc Kính Vũ. Rõ ràng, ngay trong những giờ phút hiểm nguy nhất thì ý thức dân tộc vẫn không hề mất đi trong tiềm thức của các vị vua nhà Mạc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Và dường như chính sự thần phục Trung Hoa về danh nghĩa, thái độ luôn dè chừng trước nguy cơ xâm lược của phương Bắc ấy là một trong những căn nguyên khiến Mạc Kính Vũ cuối cùng đã quay lưng lại với Thanh triều để rồi cuối đời ủng hộ thế lực cát cứ Ngô Tam Quế ở Vân Nam. Phải chăng Mạc Kính Vũ tìm thấy ở Ngô những nét tương đồng với mình trong vai trò người đứng đầu thế lực cát cứ nên có phần “hơi vội” trong việc thừa nhận Ngô Tam Quế khi thế lực này chưa đủ mạnh để đương đầu với triều đình nhà Thanh? Để rồi rốt cục sự việc võ lỡ và họ Trịnh nhân đó mang quân dẹp tan sự tồn tại của thế lực cát cứ nhà Mạc. Thiết nghĩ với một kẻ thù luôn thường trực âm mưu xâm lược Đại Việt như “Thiên triều” Trung Hoa, việc cắt đứt mối quan hệ với họ của nhà Mạc trước sau rồi cũng sẽ xảy ra như một sự tất yếu, nhưng phải chăng Mạc Kính Vũ đã chọn chưa đúng thời điểm để tỏ thái độ ấy. Dù chúng ta có thể dễ dàng hiểu được sự chuyển đổi thái độ trong mối quan hệ với Trung Hoa của Mạc Kính Vũ song vẫn không thể nào phủ nhận đây là bước đi có phần hơi “vội” của vị vua cuối cùng nhà Mạc thời hậu kỳ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><strong><em style="font-size: medium;">Vậy là</em></strong> dưới ảnh hưởng của tư tưởng triết học Trung Hoa mà chủ yếu là Nho giáo, những người đứng đầu nhà Mạc đều đã tự đặt quyền lực của mình dưới quyền lực của “thiên triều” và xem đó như là điều hợp lẽ trời trong quan hệ giữa nước lớn và nước nhỏ, nhất là khi nhà Mạc sau năm 1592 chỉ còn tồn tại với tư cách là thế lực cát cứ. Và cũng như các vị vua nhà Mạc trước đó, Mạc Kính Vũ đặc biệt coi trọng mối quan hệ với Minh triều rồi Thanh triều và xem đó như là một chỗ dựa quan trọng để tạo nên thế cân bằng trong cuộc chiến chống lại thế lực Lê – Trịnh – một cuộc chiến vốn dĩ không cân xứng giữa một bên là triều đại chính thống với một bên là thế lực cát cứ. Chính mối quan hệ ấy đã giúp các vua Mạc, trong đó có Mạc Kính Vũ duy trì được vùng đất cát cứ của mình suốt một thời gian tương đối dài, dù có lực tưởng như đã mất lại vào tay họ Trịnh. Đó là điều mà chúng ta không thể nào phủ nhận.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Song nếu chỉ nhìn bề ngoài thì rất dễ để cho rằng: sự “thần phục” của vua Mạc bấy giờ là biểu hiện cho sự “phụ thuộc” của nhà Mạc trong mối quan hệ với “đại quốc”. Thực chất của vấn đề này ra sao?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Chúng ta đều biết rằng, trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam từ xưa đến nay thì khái niệm “độc lập” được hiểu là đất nước hòa bình, không có ngoại bang xâm lược, phương Bắc và phương Nam cương giới phân định rõ ràng, còn “lệ thuộc” có nghĩa là mất độc lập, bị ngoại bang xâm chiếm, đè nén, áp bức trên mọi lĩnh vực. Nếu chúng ta đối chiếu cách hiểu trên với mối quan hệ của nhà Mạc với “Thiên triều” lúc bấy giờ thì rõ ràng vua Mạc đã không hề xâm phạm nguyên tắc “độc lập” về cơ bản, tức là không bị “lệ thuộc” theo cách hiểu nêu trên. Tư tưởng giữ vững độc lập dân tộc ấy đã được chứng thực trong cả lời nói lẫn hành động của các vị vua nhà Mạc đương thời và Mạc Kính Vũ cũng không là ngoại lệ. Phải chăng chính tính không “lệ thuộc” ấy trong quan hệ với Thanh triều bấy giờ chính là nguyên nhân khiến Mạc Kính Vũ dễ dàng và có phần hơi “vội” trong việc ủng hộ thế lực cát cứ nhà Thanh  &#8211; Ngô Tam Quế?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="font-size: small;"><strong>Tài liệu tham khảo:</strong></span></em></p>
<p><em>- Ngô Đăng Lợi (chủ biên): Mạc Đăng Dung và vương triều Mạc, Hội Sử học Hải Phòng.</em><br />
<em> &#8211; Ban liên lạc họ Mạc: Hợp biên thế phả họ Mạc, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2007.</em><br />
<em> &#8211; Ngô Đăng Lợi (chủ biên): Nhà Mạc và dòng họ Mạc trong lịch sử, Hà Nội, 1996.</em><br />
<em> &#8211; Đinh Khắc Thuân: Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001.</em><br />
<em> &#8211; Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử kỷ toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1973, tập 4.</em><br />
<em> &#8211; Lê Qúy Đôn: Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978</em></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">_______________________________________ </span></p>
<div style="text-align: justify;" align="justify">
<p><span style="font-size: small;"><em>[1] Thời kỳ nhà Mạc ở Cao Bằng<br />
[2] Từ năm 1592 đến 1677<br />
[3] Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: “Đại Việt sử kỷ toàn thư”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1973, tập 4, tr.197<br />
[4] Lê Qúy Đôn:</em><em> Đại Việt thông sử</em>, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978, tr.370.<br />
[5] Thậm chí trong 20 năm đầu thế kỷ XVII, dư đảng của nhà Mạc đã chiếm được<br />
Thăng Long khiến họ Trịnh đã phải 2 lần bỏ kinh đô chạy về đất Thanh Hóa.<br />
[6] Thế kỷ XVI<br />
[7] <em>Thanh thực lục</em>, Thánh Tổ Thực Lục, quyển 25, tr.25 – 26.<br />
[8] Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tr.205</span></p>
<h5 style="text-align: right;"><span style="font-size: small;"><em>Chân thành Cảm tạ anh Mạc Mai Trang chủ nhân website Mạc Tộc. </em></span></h5>
</div>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> </span></p>
<p class="facebook"><a href="http://www.facebook.com/share.php?u=http://phiatruoc.info/mac-kinh-vu-trong-quan-he-voi-trung-quoc-the-ky-xvii/" target="_blank"><img src="http://phiatruoc.info/wp-content/plugins/add-to-facebook-plugin/facebook_share_icon.gif" alt="Share on Facebook" title="Share on Facebook" /></a><a href="http://www.facebook.com/share.php?u=http://phiatruoc.info/mac-kinh-vu-trong-quan-he-voi-trung-quoc-the-ky-xvii/" target="_blank" title="Share on Facebook">Share on Facebook</a></p>
<p><iframe src='http://www.facebook.com/plugins/like.php?href=http%3A%2F%2Fphiatruoc.info%2Fmac-kinh-vu-trong-quan-he-voi-trung-quoc-the-ky-xvii%2F&amp;layout=button_count&amp;show_faces=true&amp;width=280&amp;action=recommend&amp;colorscheme=light&amp;height=30' scrolling='no' frameborder='0' style='border:none; overflow:hidden; height:30px' allowTransparency='true'></iframe>
<div class="bottomcontainerBox" style="background-color:#F0F4F9;">
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<iframe src="http://www.facebook.com/plugins/like.php?href=http%3A%2F%2Fphiatruoc.info%2Fmac-kinh-vu-trong-quan-he-voi-trung-quoc-the-ky-xvii%2F&amp;layout=button_count&amp;show_faces=false&amp;width=85&amp;action=like&amp;font=verdana&amp;colorscheme=light&amp;height=21" scrolling="no" frameborder="0" allowTransparency="true" style="border:none; overflow:hidden; width:85px; height:21px;"></iframe></div>
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<g:plusone size="medium" href="http://phiatruoc.info/mac-kinh-vu-trong-quan-he-voi-trung-quoc-the-ky-xvii/"></g:plusone>
			</div>
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<a href="http://twitter.com/share" class="twitter-share-button" data-url="http://phiatruoc.info/mac-kinh-vu-trong-quan-he-voi-trung-quoc-the-ky-xvii/"  data-text="Mạc Kính Vũ trong quan hệ với Trung Quốc thế kỷ XVII" data-count="horizontal"></a>
			</div>
</p></div>
<div style="clear:both"></div>
<div style="padding-bottom:4px;"></div>
<p><i>Scridb filter</i><!-- Scridb filter--></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phiatruoc.info/mac-kinh-vu-trong-quan-he-voi-trung-quoc-the-ky-xvii/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, và cao tăng Tây Tạng Tenzin Drodon</title>
		<link>http://phiatruoc.info/nguyen-truong-to-bui-vien-va-cao-tang-tay-tang-tenzin-drodon/</link>
		<comments>http://phiatruoc.info/nguyen-truong-to-bui-vien-va-cao-tang-tay-tang-tenzin-drodon/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 26 Nov 2012 15:58:37 +0000</pubDate>
		<dc:creator>tapchiphiatruoc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Lịch sử]]></category>
		<category><![CDATA[Bùi Viện]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Trường Tộ]]></category>
		<category><![CDATA[Phạm Vũ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phiatruoc.info/?p=9661</guid>
		<description><![CDATA[
Phạm Vũ
Trích từ newvietart
1. NƯỚC TA LỠ THỜI CƠ “DUY TÂN”: NGUYỄN TRƯỜNG TỘ (1828-1871)
 Chí sĩ, danh sĩ, kiến trúc sư, quê làng Bùi Chu, Hưng Nguyên, Nghệ An. Con đông y sĩ Nguyễn Quốc Thư. Gia đình ông theo đạo Thiên Chúa, cha mất sớm, ông theo học chữ Hán với cụ Tú Giai. Năm 1855, nhà thờ ...]]></description>
	
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: right;"><span style="font-size: medium;"><strong>Phạm Vũ<br />
</strong><span style="font-size: small;"><em>Trích từ <a href="http://newvietart.com/index4.1355.html">newvietart</a></em></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><strong>1. NƯỚC TA LỠ THỜI CƠ “DUY TÂN”: NGUYỄN TRƯỜNG TỘ</strong> (1828-1871)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Chí sĩ, danh sĩ, kiến trúc sư, quê làng Bùi Chu, Hưng Nguyên, Nghệ An. Con đông y sĩ Nguyễn Quốc Thư. Gia đình ông theo đạo Thiên Chúa, cha mất sớm, ông theo học chữ Hán với cụ Tú Giai. Năm 1855, nhà thờ xứ Tân Ấp mời ông dạy chữ Hán, từ đó ông học chữ Pháp và Quốc ngữ với các giáo sĩ. <span id="more-9661"></span></span></p>
<div id="attachment_4495" class="wp-caption aligncenter" style="width: 584px"><img class=" wp-image-4495" title="BuiVien_Grant" src="http://phiatruoc.info/wp-content/uploads/2011/09/BuiVien_Grant.png" alt="" width="574" height="397" />
<p class="wp-caption-text">Bùi Viện và Tổng thống Hoa Kỳ Grant</p>
</div>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Ở ẩn nơi quê nhà, Trường Tộ lần lượt gửi lên triều đình vua Tự Đức nhiều bài điều trần giá trị, đè nghị triều đình cải cách chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục…Các điều trần của ông nếu được áp dụng sẽ là một ách lược lớn, biến Việt Nam thành một nước hùng cường, tạo nên chuyển biến quan trọng trong lịch sử giữ nước của dân tộc.ta. Ông từng nói rõ lý do khiến ông viết bản điều trần:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> &lt;…Hàn công nói: “Biết không nói là kẻ bất nhân, nói mà không nói hết là kẻ bất nghĩa. Thế cho nên thân tôi tuy ở chốn giang hồ mà lòng vẫn gửi nơi lăng miếu. Tôi thạt không nỡ nhìn thấy nước nhà đổ nát, trăm họ lưu ly, cho nên không xét phận hèn mọn mà dám phạm vào lỗi nói ngay thẳng. Nếu cho lời tôi là khi trá, hoặc có ai xúi giục, thì xin đem tờ biểu này treo ở Quốc môn để sau này làm chứng”.&gt;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> (Điều trần thời sự)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Hoặc ngụ lòng qua mấy câu thơ thắm thiết:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> “Nhật mộ tuy vô hồi chiếu xứ</span><br />
<span style="font-size: medium;"> Quì hoa tự hữu hưởng dương thần”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Dịch nghĩa:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Vừng nhật dù không quày dọi lại</span><br />
<span style="font-size: medium;"> Lòng quì vẫn cứ hướng theo mà.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Ngày 22-11-1871, ông mất, hưởng dương 44 tuổi. Nguyễn Trường Tộ còn để lại đời hơn 14 bản trần tình về quốc kế dân sinh và khá nhiều bài thơ hay được truyền tụng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> <strong>Bàn về những tình thế lớn trong thiên hạ (Thiên hạ đại thế luận) </strong> In trong Nam Phong tạp chí. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> (Tháng 2-3 năm Tự Đức 16, tức tháng 3-4 năm 1836)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> <em>Tôi là Nguyễn Trường Tộ, bề tôi nước Đại Nam, đã từng trốn ra nước ngoài, xin đem những điều mà tôi đã biết và thấy một cách chính xác về sự thế trong thiên hạ, mạo tôi kính bẩm. Trộm nghĩ việc trong thiên hạ chỉ có “thể” mà thôi…</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><em> Hãy nói về thiên đạo trước. Khí đất từ Bắc đến Nam, vận trời từ Tây sang Đông…</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><em> Ngày nay các nước phương Tây, đã bao trùm suốt từ Tây Nam cho đến Đông Bắc, toàn lãnh thổ châu Phi…cho Nhật Bản, Trung Quốc và các đảo ở ngoài biển…không đâu là không chiếm đất và nô dịch dân những nơi đó…Huống hồ nước Việt ta là một nước bé nhỏ, tại sao lại muốn trái đạo trời mà làm những việc thiên hạ khó làm được?&#8230;</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><em> Tôi thường nghiên cứu sự thế trong thiên hạ mà biết rằng hòa với Pháp là thượng sách&#8230;Hiện nay tình hình trong nước rối loạn. Trời thì sanh tai biến…tiền của, sức lực của dân đã kiệt quệ… Trong Triều đình quần thần chỉ làm trò hề cho vui lòng vua, che đậy những việc hư hỏng trong nước, ngăn chặn các bậc hiền tài…, những kẻ hận đời sẽ thừa cơ nổi dậy…Thế mà sao đối ngoại thì không có cách nào để giải vây cho. Lại đi tàn sát dân mình…</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><em> Vả lại, các điều mà nước Pháp xin mở bến tàu, lập phố xá, thông cửa bể để buôn bán, lập nhà thờ để giảng đạo mà thôi…</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><em> Vậy kính xin đại nhân tâu lại đầy đủ. Cho họ một miếng đất thì…người buôn trong thiên hạ đua nhau đến buôn bán trong nước mình, mà nước nhà sẽ được vững như bàn thạch, là dân sẽ tránh được khổ lầm than, để giữ vững cơ nghiệp…</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><em> Kính xin soi xét. Sau này nếu được yên, tôi xin đích thân đến để trình bày rõ lòng riêng bấy lâu ấp ủ của tôi.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><em> Nay bái bẩm</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><em> Ngày 3-4-1863, năm Tự Đức 16: Nguyễn Trường Tộ kí.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> &#8211; Nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải, Huỳnh Thúc Kháng và học giả Lê Thước đã ca ngợi ctài đức của Nguyễn Trường Tộ: là “nhà khoa học, nhà chính trị và cũng là nhà tân học nước ta xưa. Tư tưởng và kiến thức của tiên sinh hơn người đồng thời muôn nghìn”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> <strong>2. BÙI VIỆN</strong> (1841 – 1878)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Danh sĩ đời vua Tự Đức, hiệu Mạnh Dực, quê làng Trình Phổ, An Hồi, Trực Định, nay thuộc Kiến Xương, tỉnh Nam Định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Năm Bính thìn 1856 có Ân khoa, ông đỗ Cử nhân. Năm 1855 trước năm ông thi đỗ, Quốc tử giám Tế tửu là Võ Duy Thanh biết tài ông, nên tiến cử ông với Tham tri bộ Lễ là Lê Tuấn trong việc bình định các nhóm Cờ đen, Cờ vàng khuấy rối ở miền Bắc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Doanh điền sứ Doãn Tuấn nghe danh tiếng, mời Bùi Viện cộng sự mở mang bến Ninh Hải thành cửa bể Hải Phòng ngày nay. Hoàn thành công tác, ông lại đảm nhận trách vụ dẹp loạn quân Quảng văn Tế ở Quảng Yên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Có lòng yêu nước, Bùi Viện cùng Hoàng Phan Thái, Nguyễn Tư Giản, Đặng Đức Thuận, Nguyễn Trường Tộ lập Tân Đảng, chủ ý khuyến cáo triều đình vua Tự Đức nên duy tân cải cách chính trị, quân sự, văn hóa v v…</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Lòng bất vụ lợi và yêu nước của ông, được chứng tỏ trong mấy lời ưu ái của vua Tự Đức ban khen ông:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> “ Trẫm ư tử vị hữu thâm ân nghĩa, tử nãi dĩ quốc an, nãi bảo gia an, thâm đồ viễn lự, quỷ thần đương diệc giám chi”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Nghĩa: “ Trẫm đối với người chưa có ân nghĩa gì mà người đã coi việc nước như việc nhà, không quản xa xôi lo lắng, quỷ thần ắt cũng chứng cho”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Năm Quý dậu 1873,<strong> vua Tự Đức cử Bùi Viện xuất dương đầu tiên, nhưng vẫn lưỡng lự</strong> nên triều đình chưa chính thức cử đi công cán nên ông không có chức vụ và giấy tờ gì cả. Ông ghé Hong Kong, rồi sang Nhật Bản, từ đây ông sang thẳng thủ đô Washington. Tại nước Mỹ, <strong>Bùi Viện đã được Tồng thống Lincoln tiếp kiến</strong>, nhưng vì ông không có Quốc thư chính thức của nước mình chứng minh, nên ông đành phãi trở về nước để xin triều đình Quốc thư. Nhưng khi có Quốc thư trong tay, sang Mỹ lần thứ hai, tình hình nước Mỹ đã có Tồng thống mới, nội bộ vẫn rối ren nên Bùi Viện lại đành phải trở về.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Đã thế, về đến Nhật, ông được tin mẹ mất, xúc đông, ngậm ngùi, ông có làm bài văn tế cực kỳ thống thiết. Vua Tự Đức vẫn trọng dụng ông, bổ làm Tham tri. Rồi đổi làm Tham chính Thương biện, cùng với Nguyễn Tăng Doãn coi về việc quan thuế ở Bắc Kỳ. Ít lâu sau , đổi làm Chánh quản đốc Nha tuần tải, Bùi Viện liền thực thi kế hoạch chỉnh đốn Hải quân, thành lập đội tuần dương quân đật dưới quyền chỉ huy trực tiếp của ông. Năm Mậu dần 1878, ngày 1-11 âm lịch, Bùi Viện mất. Triều đình và cả nước đều thương tiếc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> -<strong> Nguyễn Tư Giản</strong>, danh dĩ đương thời là Nguyễn Tư Giản &#8211; người đã cùng Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện dân nhiều bản điều trần &#8211; có đôi liễn điếu ông:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> “ Tha sinh nhược vị vong gia quốc</span><br />
<span style="font-size: medium;"> Trang chí không lân phó hải sơn”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Nghĩa:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Kiếp sau chưa dứt niềm nhà nước</span><br />
<span style="font-size: medium;"> Chí lớn đành đem gửi biển non. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> -<strong> Bùi Dị </strong>- danh sĩ đời Tự Đức &#8211; ngậm ngùi điếu:</span></p>
<h4 style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> “Thôn thanh do thảo đăng tiền sớ</span><br />
<span style="font-size: medium;"> Tế chio1 nan thù hải ngoại du”.</span></h4>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Nghĩa:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Thoi thóp sớ dâng còn để lại</span><br />
<span style="font-size: medium;"> Vẫy vùng chí lớn vội đem đi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> <strong>BỎ LỠ DỊP “NGÀN NĂM MỘT THUỞ ĐỂ DUY TÂN ĐẤT NƯỚC”</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Bùi Viện đã được vinh dự tiếp kiến bởi Tổng thống Mỹ Lincoln. Đây là vị Tổng thống đã đề ra việc xóa bỏ nô lệ da đen, nên 11 Tiều bang miền Nam tách ra thành lập Liên hiệp “Confederate States of America (CSA) để gây chiến với chính phủ Liên Bang “United States of America (USA)”, sau đó Tổng thống Lincoln chiến thắng. Chúng ta biết rằng, trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ, nước Pháp có ý muốn công nhận chính quyền miền Nam, muốn làm cho Hoa Kỳ chia rẽ, yếu đi để không thể trở thành một cường quốc; mặc dù thời chiến tranh cách mạng chống người Anh trước đó, nhờ có sự giúp đỡ tận tình của nước Pháp, Hoa Kỳ mới có thể giành được nền độc lập. <strong>Nếu vua Tự Đức ngay từ lúc đầu đặt niềm tin thực sự vào Bùi Viện</strong>, chính thức phong chức tước cho ông đi công cán ngoại quốc mang theo Chiếu chỉ giới thiệu với quốc gia sở tại, thì biết đâu vào thời gian đó, <strong>Tổng thống Lincoln</strong> – vì bất mãn với nước Pháp có ý định ngấm ngầm công nhận chính quyền ly khai miền Nam – <strong>sẽ chỉ thị Hoa Kỳ tận tình giúp đỡ Việt Nam “duy tân đất nước”</strong>.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Tuy nhiên, sau đó với sự phản bác của giáo sư đại học Paris là Laboulaye và nhiều người khác trên báo chí, chính phủ Pháp đã bỏ ý định công nhận chính quyền miền Nam, từ đó Laboulaye cùng với kiến trúc sư Bartholdi – vì yêu nền dân chủ đầu tiên trên thế giới với bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 và Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 – nên đã vận động, quyên góp tài chánh để sáng tác ra bức tượng khổng lồ, chớ sang tặng nhân dân Mỹ nhằm kỳ niệm 100 năm bản Tuyên ngôn Độc lập. Đó là bức tượng Nữ thần Tự do nổi tiếng &#8211; là quốc bảo, biểu tượng của Hoa Kỳ, được thiết kế tọa lạc uy nghi ngay cửa vào Cảng thành phố New York. (Paris hiện còn một tượng Tự do bé tí cùng kích thước tượng Tự do tại Hà Nội nhưng không còn vì năm 1945 đã thành tượng A-di-đà chùa Ngũ Xá. Thế là Thần lại thành Bụt. Thật nuối tiếc!) </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> <strong>3. NHÀ SƯ VIỆT NAM TRỞ THÀNH MỘT “CAO TĂNG TÂY TẠNG” </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Đây là điều đặc biệt vì nhà sư là người đầu tiên rời Hoa Kỳ qua Ấn Độ xuống tóc trong một tu viện Tây Tạng vào dịp Tết Kỷ Mão 1999, khi mới 12 tuổi. Đặc biệt hơn nữa, đây là người Việt Nam đầu tiên được truyền thừa trong lịch sử hơn ngàn năm của Phật giáo Tây Tạng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> <strong>Kusho Tenzin Drodon </strong>sinh tại Quận Cam, ở miền Nam California trong một gia đình khá giả, lên tám tuổi, <strong>cậu bé họ Phạm đã muốn trở thành một Geshe Tây Tạng. </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Mà <strong>Geshe là gì</strong>? </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Geshe là học vị trong hệ thống Phật giáo Tây Tạng, tương đương với bằng Tiến sĩ về Phật học của Tây phương. Bình thường ra thì phải mất hai chục năm mới xong và nhiều người không xong nổi. Thế giới hiện chỉ có chừng 200 vị Geshe thôi. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Muốn được thành một Geshe thì phải thấm nhuần năm ngành học là Bát nhã ba la mật (Prajnaparamita), Trung quán luận (Madhyamika), Giới luật (Vinaya), A tỳ đạt ma luận (Abidharma) và Lý luận căn bản (Pramana Vidya). Thấm nhuần ở đây là phải nhập tâm, bằng Tạng ngữ, trong vài chục năm tu tập gian nan, hầu có thể ứng đối tranh luận trong mọi tình huống về mọi chủ đề trong các cuộc khảo hạch thường xuyên và từ đó đi hoằng pháp cho nhân thế. Đã vậy, từ thấp lên cao, học vị Geshe còn có bốn cấp là Dorampa, Lingtse, Tsorampa và cao nhất là Lharampa và trung bình thì phải sáu năm mới lên tới cấp tối ưu. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> <strong>Thánh tăng Tây Tạng ngày nay, Kyabje Lati Rinpoche, được Đức Đạt Lai Lạt Ma yêu cầu hướng dẫn chú bé gốc Việt họ Phạm </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Vị cao tăng Tây Tạng đã hướng dẫn chú bé họ Phạm là một Lharampa Geshe, một hóa thân của danh tăng Gongkar Rinpoche. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Ngài được tôn là châu báu trong hàng Thánh tăng Tây Tạng ngày nay, pháp danh là Kyabje Lati Rinpoche, hiện là cố vấn về Lý luận (Tsen-shabs) của đức Đạt Lai Lạt Ma. Môn sinh của Tulku Lati Rinpoche thường chỉ là những nhà sư được xác nhận là báo thân của một cao tăng, một vị đạo sư, một guru từ kiếp trước nguyện tái sinh để tiếp tục hạnh nguyện. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Và<strong> đức Đạt Lai Lạt Ma là người trực tiếp yêu cầu Tulku Lati Rinpoche dìu dắt chú bé. </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Vì sao một chú bé sinh trong một gia đình Việt Nam tại Hoa Kỳ lại được nhận vào tu viện Tây Tạng, rồi được chính đức Đạt Lai Lạt Ma trao phó cho một vị cao tăng hàng đầu của Ngài việc hướng dẫn tu học đó? </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Có lẽ phải đi từng bước để nhìn ra con đường học đạo của vị tăng người Việt này. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Với người Tây Tạng, đức Đạt Lai Lạt Ma là hóa thân của Đại từ Đại bi Bồ tát Quán Thế Âm. Việt Nam ta quen gọi vị Bồ tát ấy là Phật Quan Âm, vì vậy, nhiều người cũng gọi Ngài là Phật Sống Tây Tạng. Người Tây Tạng tôn Ngài là &#8220;Kundun&#8221; với ý nghĩa ấy. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Trong hệ thống Phật giáo Tây Tạng, một Lạt Ma được coi là hiện thân của Phật, và Bồ tát nguyện tái sinh để cứu độ chúng sinh. Bậc hóa thân ấy được tôn là Tulku (&#8220;Chu cô&#8221; theo cách phiên âm Hán-Việt). Danh hiệu Lạt Ma chỉ được dành cho những người giảng dạy giáo pháp và có thẩm quyền thực hành nghi lễ của Phật giáo. Trong số những người được chứng nhận là Lạt Ma, những vị uyên thâm và cao quý nhất thì được tôn là Rinpoche (nghĩa là &#8220;vô cùng quý báu&#8221;). Trong hàng giáo phẩm và triều đình Tây Tạng, người ta thấy nhiều cao tăng được tôn vinh là Rinpoche. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Bây giờ, chúng ta có đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 &#8211; một vị Phật Sống &#8211; ủy thác cho một Tulku Rinpoche việc dẫn đạo cho một nhà sư trẻ của Việt Nam&#8230; </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Nhà sư này phải có gì đặc biệt mà có lẽ người thường như chúng ta chưa thấy hết được.. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Từ ngày đó đến nay, việc tu học của nhà sư này đã có sự tăng tiến. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Một người Mỹ xuất gia sang Ấn Độ tu Phật giáo đã là hiếm, nhưng vẫn có. Một người sinh tại Mỹ &#8211; thuộc thế hệ thứ nhì vì cha mẹ là người Việt tỵ nạn &#8211; thì lại hiếm hơn. Đây lại là người Mỹ đầu tiên được nhận vào tu viện Tây Tạng Gaden Shartse, trong tỉnh Mundgod của tiểu bang Karnataka ở miền Nam Ấn Độ để được tu học thành Sa di.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> <strong>Tên Mỹ-Việt Donald Phạm đổi thành Konchog Osel.</strong> Người thân thì gọi là Kusho. Konchog có nghĩa là hiếm quý, Osel là tịnh quang, ánh sáng trong lành, và Kusho là một cao tăng. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Thế rồi, sau khi khảo hạch thì chính Tulku Lati Rinpoche đã thỉnh đức Đạt Lai Lạt Ma làm lễ thọ giới Cụ túc cho chú tiểu sa môn. Có mặt trong buổi lễ cử hành vào đúng ngày Phật Đản còn có bốn vị Rinpoche khác. <strong>Chú được ban pháp danh là Tenzin Drodon, nghĩa là &#8220;Người nắm giữ Phật pháp&#8221; (Tenzin) &#8220;cứu độ chúng sinh&#8221; (Drodon). </strong>Drodon là một pháp danh ít có trong hệ thống Tăng già Tây Tạng. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Ngày nay, Phật giáo Tây Tạng có một nhà sư dung mạo sáng rỡ, nói sành sõi tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Tây Tạng với phương ngữ quý phái của Kinh đô Lhasa, ở bên kia đỉnh núi tuyết ngàn trùng. Vào mùa Xuân Đinh Hợi 2007, ở tuổi 21, Kusho sẽ thọ giới Tỳ kheo với đức Đạt Lai Lạt Ma, một điều kỳ lạ nữa.<strong> Trong lịch sử Tây Tạng, đây là người Việt đầu tiên được chính đức Đạt Lai Lạt Ma truyền thừa và truyền giới. </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Năm chú lên bốn, bà mẹ đọc báo thấy có tin là vị Đạo sư Lati Rinpoche sẽ đến thuyết pháp ở Los Angeles. Quá mừng khi được cơ hội gặp vị cao tăng mà mình đã đọc lời giảng trong sách từ khi còn mang thai chú bé, bà dẫn chú đi nghe và năm đó<strong> Donald đã quy y với Tulku Lati Rinpoche!</strong> </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Gần bốn năm trôi qua, rồi vào dịp Tết Kỷ Mão 1999, cả gia đình Donald Phạm đã theo Hoà thượng Geshe La qua Ấn Độ. Chú sẽ ở lại nơi đây. Tết Nguyên đán Kỷ Mão thì xuống tóc, trở thành Sa di Kusho Konchog Osel. Tu viện có 1.500 người cùng học nhưng chú được chính đức Đạt Lai Lạt Ma ân cần phó thác cho vị Viện trưởng Tulku Lati Rinpoche trực tiếp hướng dẫn. Mọi người ân cần gọi chú là Kusho-la. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Hai năm sau, Kusho được đưa lên Dharamsala, miền cực Bắc Ấn Độ, vào học viện Lý luận Phật giáo, Institute of Buddhist Dialectics. Có 300 sinh viên, học viện này nằm gần thị trấn McLeod Ganj của Ấn. Thị trấn được gọi là &#8220;Little Lhasa&#8221;, trụ sở của Chính quyền Lưu vong Tây Tạng, và học viện IBD là nơi đức Đạt Lai Lạt Ma thường giảng pháp. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Trong học viện,<strong> tiểu Sa di Kusho là người trẻ nhất và được chú ý vì khả năng lãnh hội lẫn tranh luận</strong>. Chú còn được khen là từ tốn khiêm nhường và thường trầm lặng trước mối quan tâm của truyền thông báo chí. Nhiều người đã luận rằng Kusho có thiện nghiệp để trở thành sư, và có phúc duyên được hướng dẫn bởi những vị cao tăng để theo đuổi Phật học đến chỗ thâm sâu. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Ngày nay, Kusho đã thành một vị sư 21 tuổi, và Xuân này sẽ thọ giới Tỳ kheo với chính đức Đạt Lai Lạt Ma, thành Shakya Bikshu Tenzin Drodon. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Nếu tu học để thành sư mà không nghĩ đến việc giúp đỡ người khác thì là một sự lãng phí! Phật giáo Tây Tạng rất chú ý đến việc tu dưỡng Bồ đề tâm, đến Bồ tát hạnh và coi việc giúp đỡ người khác là một bổn phận trọng yếu, một phần không thể tách rời trong đức từ bi của người Phật tử. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Nói đến người khác, Kusho có nghĩ đến người Việt và Phật giáo Việt Nam không? </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Vị Sa môn trẻ này cám ơn mẹ cha là những Phật tử đã khuyến khích và giúp đỡ mình trên con đường học đạo. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Chính là tấm lòng yêu thương của bà mẹ đã khiến chú cố gắng tu tập để có thể làm tròn bổn phận với Việt Nam. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Vì vậy, sau giai đoạn tu chứng, <strong>nhà sư trẻ còn phải đi một bước rất xa là học hỏi thêm về Việt Nam và Phật giáo Việt Nam. </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Phật giáo Tây Tạng theo Kim cang thừa (Varayana) của Đại thừa Mahayana, nhưng cũng áp dụng phép tu có đặc tính Mật tông và cả Bồ tát hạnh trong những giáo lý nền tảng của Phật giáo Nguyên thủy Theravada. Vì vậy, trong giáo trình đào tạo và tu học, các học viên đều phải thấm nhuần những lý giải Tiểu thừa hay Nguyên thủy. Sau này, Kusho sẽ học thêm về những đặc tính đa diện của Phật giáo Việt Nam và phải thông thạo tiếng Việt để tiếp xúc với Phật tử người Việt. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Một con đường rất dài&#8230; Khi viết, Kusho sử dụng cả hai tay, trái và phải, để viết chữ Tây Tạng hay tiếng Anh. Khi học, có lẽ cũng phải nhớ đến tương lai là tìm đến Phật giáo Việt Nam. Vả lại, chính đức Đạt Lai Lạt Ma đã căn giặn như vậy. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Hôm đó, sau khi được Ngài truyền giới, vị tiểu sa môn được đức Đạt Lai Lạt Ma gọi riêng ra chụp chung tấm hình. &#8220;Con giữ tấm hình này cho quê hương con, cho nước Việt Nam&#8221;. Kusho treo tấm hình trong trai phòng tại học viện, như một nhắc nhở hàng ngày. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Việc nhà sư Tenzin Drodon này sẽ chứng đắc học vị Geshe có thể chỉ là thời gian vì tâm nguyện như vậy. Nhưng, việc một người có tâm hồn và giáo dục Việt Nam được tu học thành nhà sư Tây Tạng mới là một hạnh ngộ hiếm hoi. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Lời khuyên của Tulku Lati Rinpoche là Kusho hãy cố gắng tinh tấn tu học để trở thành một sa môn đầy đủ Bồ tát hạnh là Bi, Trí, Dũng để hoằng pháp lợi sanh cho nhân thế. Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rõ hơn trong từng buổi gặp gỡ: &#8220;Đừng quên Việt Nam. Lòng từ bi và trí tuệ của con sẽ giúp ích rất nhiều cho quê hương con.&#8221; </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> <strong>Pháp danh Drodon quý hiếm này, có lẽ Ngài chọn cho Kusho để hướng tới trách nhiệm với Việt Nam. </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Sông Mekong xuất phát từ vùng đất Kham đã tái sinh của hai vị cao tăng Tây Tạng là Gehse La và Tulku Rinpoche. Nơi con sông này đổ ra biển chính là Việt Nam. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Phải chăng, đức Đạt Lai Lạt Ma đã thấy vạn sự từ đầu nguồn tiền kiếp, mà chưa đến lúc nói ra?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> <strong>TÓM TẮT</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Thật đáng tiếc cho cả nước Mỹ và cả Việt Nam là, chỉ sau chiến thắng vài ngày, Tổng thống Lincoln bị ám sát nên khi Bùi Viện mang Quốc thư của vua Tự Đức sang trở lại nước Mỹ lần thứ hai thì tình hình chính trị ở đây đã thay đổi: Tổng thống mới là Ulysse Grant bận đối phó với hậu quả ngổn ngang của cuộc Nội chiến, tinh thần chia rẽ giữa Nam – Bắc vẫn chưa hàn gắn được, dù Tổng thống Lincoln đã có chính sách khoan hồng tối đa cho phe miền Nam. Chính vì thế, nước Mỹ đau buồn trước sự mất mát một vị Tồng thống tài ba nhất của nước Mỹ, mà<strong> nước Việt cũng đau buồn vì cơ hội “ngàn năm một thuở để duy tân đất nước” đã tiêu tan </strong>ra mây khói, <strong> biết đâu nước ta được duy tân sẽ trở thành một nước Việt cường thịnh trước cả Nhật Bản.</strong> Vì chúng ta biết rằng chỉ sau vua Tự Đức ( 1848 – 1883) một thời gian ngắn, tại Nhật Bản với vua Mutsuhito, niên hiệu Meiji, Minh trị Thiên hoàng (1867 – 1912) đã tiến hành một cuộc duy tận hoàn toàn nước Nhật, trở thành một cường quốc ớ châu Á, rồi chiến thắng Tàu và Nga trong hai cuộc hải chiến lẫy lừng. làm rang danh giống da vàng châu Á.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Chính Bùi Viện hội đủ điều kiện tín nhiệm của vua Tự Đức và triều thần, chứ khác hẳn với trường hợp khó khăn hơn của nhà tân học Nguyễn Trường Tộ, vì là giáo dân Thiên Chúa giáo. Tuy nhiên thái độ lưng chừng, lưỡng lự của triều thần và vua Tự Đức cũng đáng bị Lịch sử phán xét.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Chúng ta ngậm ngùi xúc động trước tấm thịnh tình và lòng yêu nước tha thiết tột đỉnh của hai nhà Tân học<strong> Bùi Viện và giáo dân Thiên Chúa giáo Nguyễn Trường Tộ.</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"> Dù sao, với việc có <strong>một nhà sư người Mỹ gốc Việt trờ thành một Cao tăng Tây Tạng</strong> vào năm 2008, cũng đem lại nhiều niềm hãnh diện và an ủi cho non nước Tiên Rồng. Mong thay một cơ duyên mới sẽ đến!</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h6 style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">___________________________________ </span></h6>
<p><span style="font-size: medium;"> (Tham khảo: Từ điển Nhân vật Lịch sử VN, của Nguyễn Q. Thắng, 1992 và tài liệu trên Internet) </span>
<p class="facebook"><a href="http://www.facebook.com/share.php?u=http://phiatruoc.info/nguyen-truong-to-bui-vien-va-cao-tang-tay-tang-tenzin-drodon/" target="_blank"><img src="http://phiatruoc.info/wp-content/plugins/add-to-facebook-plugin/facebook_share_icon.gif" alt="Share on Facebook" title="Share on Facebook" /></a><a href="http://www.facebook.com/share.php?u=http://phiatruoc.info/nguyen-truong-to-bui-vien-va-cao-tang-tay-tang-tenzin-drodon/" target="_blank" title="Share on Facebook">Share on Facebook</a></p>
<p><iframe src='http://www.facebook.com/plugins/like.php?href=http%3A%2F%2Fphiatruoc.info%2Fnguyen-truong-to-bui-vien-va-cao-tang-tay-tang-tenzin-drodon%2F&amp;layout=button_count&amp;show_faces=true&amp;width=280&amp;action=recommend&amp;colorscheme=light&amp;height=30' scrolling='no' frameborder='0' style='border:none; overflow:hidden; height:30px' allowTransparency='true'></iframe>
<div class="bottomcontainerBox" style="background-color:#F0F4F9;">
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<iframe src="http://www.facebook.com/plugins/like.php?href=http%3A%2F%2Fphiatruoc.info%2Fnguyen-truong-to-bui-vien-va-cao-tang-tay-tang-tenzin-drodon%2F&amp;layout=button_count&amp;show_faces=false&amp;width=85&amp;action=like&amp;font=verdana&amp;colorscheme=light&amp;height=21" scrolling="no" frameborder="0" allowTransparency="true" style="border:none; overflow:hidden; width:85px; height:21px;"></iframe></div>
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<g:plusone size="medium" href="http://phiatruoc.info/nguyen-truong-to-bui-vien-va-cao-tang-tay-tang-tenzin-drodon/"></g:plusone>
			</div>
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<a href="http://twitter.com/share" class="twitter-share-button" data-url="http://phiatruoc.info/nguyen-truong-to-bui-vien-va-cao-tang-tay-tang-tenzin-drodon/"  data-text="Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, và cao tăng Tây Tạng Tenzin Drodon" data-count="horizontal"></a>
			</div>
</p></div>
<div style="clear:both"></div>
<div style="padding-bottom:4px;"></div>
<p><i>Scridb filter</i><!-- Scridb filter--></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phiatruoc.info/nguyen-truong-to-bui-vien-va-cao-tang-tay-tang-tenzin-drodon/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>3</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Quyền ngôn luận của ta: Nếu có chăng, sẽ sản sinh sau khi lập hiến</title>
		<link>http://phiatruoc.info/quyen-ngon-luan-cua-ta-neu-co-chang-se-san-sinh-sau-khi-lap-hien/</link>
		<comments>http://phiatruoc.info/quyen-ngon-luan-cua-ta-neu-co-chang-se-san-sinh-sau-khi-lap-hien/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 13 Nov 2012 19:40:11 +0000</pubDate>
		<dc:creator>tapchiphiatruoc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Lịch sử]]></category>
		<category><![CDATA[Phan Khôi]]></category>
		<category><![CDATA[tư do ngôn luận]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://phiatruoc.info/?p=9559</guid>
		<description><![CDATA[
Phan Khôi
 Nguồn: Đông Tây, Hà Nội, số 131 (12.12.1931)
Trong khi quan Tổng trưởng Raynaud còn lưu trú trong cõi Đông Pháp, các báo Tây, Nam ở xứ này đều đã đồn vang lên rằng rồi đây người Việt Nam ngôn luận sẽ được tự do. Sau rõ ra thì cái tin ấy quả không đến nỗi sai lầm. Nhưng ...]]></description>
	
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: right;"><span style="font-size: medium;"><strong>Phan Khôi</strong></span><br />
<span style="font-size: small;"><em> Nguồn: Đông Tây, Hà Nội, số 131 (12.12.1931)</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Trong khi quan Tổng trưởng Raynaud còn lưu trú trong cõi Đông Pháp, các báo Tây, Nam ở xứ này đều đã đồn vang lên rằng rồi đây người Việt Nam ngôn luận sẽ được tự do. Sau rõ ra thì cái tin ấy quả không đến nỗi sai lầm. Nhưng kỳ thực thì chỉ có bỏ sở kiểm duyệt đi, các báo được tự do xuất bản mà chịu lấy trách nhiệm; còn như sự lập ra một tờ báo thì cần phải xin phép. Chánh phủ có cho mới được lập.<span id="more-9559"></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><strong>Như vậy, chưa phải là ngôn luận tự do đâu; chúng ta chưa có được cái quyền ấy đâu. Chớ vội tưởng mà lầm</strong>.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Và nếu thi hành luôn một lần hai việc: sở kiểm duyệt đã bỏ, sự lập báo lại không cần xin phép nữa, là chúng ta cũng chưa được quyền ngôn luận tự do đâu vậy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">- Sao thế? Hẳn có người lấy làm lạ mà hỏi. Nếu Chánh phủ tha hồ cho ta ra báo, và muốn nói gì thì nói, muốn viết gì thì viết, không có kiểm duyệt, ấy là Chánh phủ cho ta ngôn luận tự do đó, chớ còn thế nào nữa mới là ngôn luận tự do?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">- Phải. Nhưng mà cái quyền tự do ấy không có gốc. Từ đâu sản sinh ra nó? Câu ấy quả thật không có đường trả lời. Bởi vậy biết cái quyền tự do không có gốc nó không vững.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Chớ tưởng rằng sau khi quan Toàn quyền ra một cái nghị định, bãi sở kiểm duyệt, ấy là nhà ngôn luận Việt Nam được quyền tự do, chớ tưởng vậy mà lầm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Nếu rồi đây quả có cái nghị định ấy của quan Toàn quyền thật nữa là chúng ta cũng chỉ nên kêu nó là cái nghị định bãi sở kiểm duyệt mà thôi, không thể kêu nó là cái nghị định ban quyền tự do cho nhà ngôn luận Việt Nam được.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Quyền ngôn luận tự do không hề bởi một ông quan thủ hiến ban cho mà có được, nó không khi nào sản sinh ra bởi một cái nghị định.</span></p>
<p style="text-align: justify;" align="center">
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;"><strong>Ở các nước văn minh, quyền ngôn luận tự do cho đến các quyền tự do khác nữa cũng đều sản sinh ra bởi hiến pháp</strong>. Hiến pháp nhìn nhận cho nhân dân có quyền ấy thì nhân dân có quyền ấy, chứ không phải bởi một người nào ban cho đâu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Hiến pháp đã sản sinh ra quyền ngôn luận tự do được rồi, nhưng nếu nó bị giày đạp đi thì sao? Vì lẽ đó nên còn phải có pháp luật để bảo hộ nó nữa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Tức như hiến pháp Nhật Bản, điều thứ 20, nói rằng: Thần dân Nhật Bản, ở trong phạm vi pháp luật, có quyền tự do được ngôn luận, xuất bản, v.v.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Mà chẳng những Nhật Bản, trong hiến pháp nước nào cũng vậy, cũng có một điều nói riêng về quyền ngôn luận tự do từa tựa như thế. (Xem điều thứ 10 và 11 trong bản tuyên bố nhân quyền của nước Pháp).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Nói thế, nghĩa là: Về quyền ngôn luận tự do, hiến pháp đã nhìn nhận cho nhân dân có quyền ấy rồi; nếu nhân dân ở trong phạm vi pháp luật mà ngôn luận, thì không ai được xâm phạm tới. Như vậy là còn có pháp luật nữa để bảo hộ cho cái quyền mà hiến pháp đã nhận nhìn cho.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Hiện nay xứ ta chưa có hiến pháp, cái quyền tự do ấy không ai nhìn nhận cho, nó đã không từ đâu sản sinh ra được; mà cũng chưa có luật riêng về việc làm báo, thì dầu có quyền ấy chăng nữa, nó cũng chẳng có cái gì bảo hộ cho. Thế thôi, còn nói chuyện gì!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Nếu quả trong ít hôm nữa, quan Toàn quyền ra nghị định bãi sở kiểm duyệt, thì chúng ta cũng chỉ nên coi là một điều quảng đại mà thôi, chứ cái đó chưa phải là có ích lợi gì cho sự bày tỏ ý kiến của nhân dân ta vậy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Bởi sao? Bởi hiến pháp chưa có, pháp luật chưa phân minh, nhà ngôn luận trên không có chỗ chằng, dưới không có chỗ cột, thì sự khó khăn lại còn hơn là lúc còn cái chế độ kiểm duyệt nữa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Quả như trong lúc này mà bãi sở kiểm duyệt, thì thật là một cái thời kỳ quá độ của nhà ngôn luận Việt Nam. Mà quá độ một cách hiểm nghèo, khác nào chiếc thuyền không chèo không lái mà thả ra giữa biển khơi?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Ai dám dự đoán rằng sau khi bãi chế độ kiểm duyệt thì báo chí An Nam sẽ mạnh dạn hơn xưa?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Ai dám đoán như vậy, chứ chúng tôi thì không. Trên không chằng, dưới không cột, thì lấy đâu mà mạnh dạn? Nếu vậy, chúng tôi đâu dám nhận là sự lợi ích?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Cái quyền ngôn luận Việt Nam có hay không, không ở trong thời kỳ phế kiểm duyệt này mà ở trong thời kỳ lập hiến sẽ tới.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Đông tây trong một số trước, bài nói về trừ tiệt cái tệ hối lộ, chúng tôi cũng tỏ ý rằng đợi đến ngày lập hiến, quan và dân có quyền hạn phân minh thì cái tệ ấy họa may mới trừ hẳn được. Hôm nay về sự ngôn luận tự do, chúng tôi cũng chỉ tỏ ra cùng một cái ý kiến ấy. Trừ ra chỉ có đến ngày lập hiến, mà trong hiến pháp không nhận nhìn cho dân có một chút quyền nào hết thì chúng ta mới là thất vọng đó thôi!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Song có lẽ nào lại thất vọng đến như thế. Gọi là hiến pháp, chẳng qua là một tờ giao kèo để làm việc với nhau. Nếu dân không có một chút quyền gì, thì sao gọi là hiến pháp?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Nhà ngôn luận chúng ta nếu được quyền tự do nhiều ít là ở vào sau cuộc lập hiến sẽ tới đây. Còn ngày nay, nếu cái chế độ kiểm duyệt mà quả bị phế đi nữa, chúng ta chưa phải đã được tự do đâu, xin các bạn đồng nghiệp hãy chú ý.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><em>Trích từ <a href="http://chigiaolang.wordpress.com/2011/05/04/quy%E1%BB%81n-ngon-lu%E1%BA%ADn-c%E1%BB%A7a-ta-n%E1%BA%BFu-co-chang-s%E1%BA%BD-s%E1%BA%A3n-sinh-sau-khi-l%E1%BA%ADp-hi%E1%BA%BFn/">chigiaolang</a></em></span></p>
<p class="facebook"><a href="http://www.facebook.com/share.php?u=http://phiatruoc.info/quyen-ngon-luan-cua-ta-neu-co-chang-se-san-sinh-sau-khi-lap-hien/" target="_blank"><img src="http://phiatruoc.info/wp-content/plugins/add-to-facebook-plugin/facebook_share_icon.gif" alt="Share on Facebook" title="Share on Facebook" /></a><a href="http://www.facebook.com/share.php?u=http://phiatruoc.info/quyen-ngon-luan-cua-ta-neu-co-chang-se-san-sinh-sau-khi-lap-hien/" target="_blank" title="Share on Facebook">Share on Facebook</a></p>
<p><iframe src='http://www.facebook.com/plugins/like.php?href=http%3A%2F%2Fphiatruoc.info%2Fquyen-ngon-luan-cua-ta-neu-co-chang-se-san-sinh-sau-khi-lap-hien%2F&amp;layout=button_count&amp;show_faces=true&amp;width=280&amp;action=recommend&amp;colorscheme=light&amp;height=30' scrolling='no' frameborder='0' style='border:none; overflow:hidden; height:30px' allowTransparency='true'></iframe>
<div class="bottomcontainerBox" style="background-color:#F0F4F9;">
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<iframe src="http://www.facebook.com/plugins/like.php?href=http%3A%2F%2Fphiatruoc.info%2Fquyen-ngon-luan-cua-ta-neu-co-chang-se-san-sinh-sau-khi-lap-hien%2F&amp;layout=button_count&amp;show_faces=false&amp;width=85&amp;action=like&amp;font=verdana&amp;colorscheme=light&amp;height=21" scrolling="no" frameborder="0" allowTransparency="true" style="border:none; overflow:hidden; width:85px; height:21px;"></iframe></div>
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<g:plusone size="medium" href="http://phiatruoc.info/quyen-ngon-luan-cua-ta-neu-co-chang-se-san-sinh-sau-khi-lap-hien/"></g:plusone>
			</div>
<div style="float:left; width:85px;padding-right:10px; margin:4px 4px 4px 4px;height:30px;">
			<a href="http://twitter.com/share" class="twitter-share-button" data-url="http://phiatruoc.info/quyen-ngon-luan-cua-ta-neu-co-chang-se-san-sinh-sau-khi-lap-hien/"  data-text="Quyền ngôn luận của ta: Nếu có chăng, sẽ sản sinh sau khi lập hiến" data-count="horizontal"></a>
			</div>
</p></div>
<div style="clear:both"></div>
<div style="padding-bottom:4px;"></div>
<p><i>Scridb filter</i><!-- Scridb filter--></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://phiatruoc.info/quyen-ngon-luan-cua-ta-neu-co-chang-se-san-sinh-sau-khi-lap-hien/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
