Phát triển bền vững và quản lý hợp cách
Aug29

Phát triển bền vững và quản lý hợp cách

Trường Sơn chuyển ngữ, CTV Phía Trước Theo Urban Governance Phát triển chủ yếu là trách nhiệm của từng quốc gia Trách nhiệm phát triển bền vững ở tầm quốc gia – trong đó, hệ thống phức tạp của những yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa và sinh thái phải liên kết với nhau bằng một tập hợp những điều kiện đặc thù – phải là mục tiêu hàng đầu và quan trọng nhất với các nước có liên quan đến vấn đề này. Bất kỳ tiến trình nào nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân phải bắt đầu và được duy trì “ngay trong gia đình”. Tất nhiên, một môi trường kinh tế thuận lợi với những điều kiện công bằng cho cạnh tranh và thương mại sẽ giúp những nỗ lực của mỗi quốc gia nhằm đạt được mục tiêu như vậy diễn ra dễ dàng hơn, nhưng những kẻ “ngoài cuộc” cũng chỉ có thể hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển bền vững – họ không thể thay thế được những nỗ lực nội tại của một đất nước. Cơ cấu kinh tế, xã hội và chính trị của từng quốc gia có tầm quan trọng quyết định đối với khả năng tự lực phát triển thành công. Trên hết, đó là hệ thống phụ thuộc vào bản chất của chính sách phát triển mà mỗi quốc gia đã lựa chọn cũng như phụ thuộc vào phẩm cách của chính phủ và các cơ quan chức năng. Đóng góp tích cực cho sự phát triển Trong hơn ba mươi năm qua, nhiều nước đang phát triển với những đặc trưng có thể so sánh trong tài nguyên tự nhiên (lãnh thổ, nguồn nước, đất canh tác, khoáng sản, khí hậu,…) và cấu trúc xã hội đã thể hiện những khác biệt đáng kể về tiến bộ kinh tế, xã hội. Với những tiêu chí là tỷ xuất sinh thô, tuổi thọ và học vấn của dân số – những chỉ số quan trọng cho thấy chất lượng cuộc sống của người dân – một số quốc gia đã đạt được tiến bộ nổi bật đáng kể so với những quốc gia ngang hàng khác, mặc dù tất cả đều là một phần trong môi trường kinh tế thế giới và đều cùng trải qua quá khứ làm thuộc địa. Điều này cho thấy gánh nặng lịch sử, những bất lợi từ điều kiện kinh tế toàn cầu như việc giảm giá nguyên vật liệu hoặc những yếu tố bên ngoài khác, dù vẫn quan trọng, vẫn không...

Read More
Tám yếu tính của quản lý hợp cách
Aug10

Tám yếu tính của quản lý hợp cách

Trường Sơn chuyển ngữ, CTV Phía Trước Theo Governance Pro Quản lý hợp cách hoặc còn được gọi là quản trị tốt (good governance), có tám yếu tính chính. Đó là tinh thần hợp tác, sự thống nhất trong định hướng, trách nhiệm giải trình, tính minh bạch, tính cởi mở, hiệu lực và hiệu quả, tính công bằng và toàn diện, và dựa trên nền tảng pháp quyền (thượng tôn pháp luật – rule of law). Quản lý hợp cách (good governance) là nỗ lực đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai của một cộng đồng, là việc thực hành sự cẩn trọng trong hoạch định chính sách và ra quyết định, và theo đó những lợi ích thiết thực nhất của tất cả các bên liên quan đều được đáp ứng. Pháp quyền Quản lý hợp cách đòi hỏi sự hiện diện của các khuôn khổ pháp lý công bằng và được thực thi bởi cơ quan quản lý không thiên vị, nhằm bảo vệ đầy đủ quyền lợi của các bên liên quan. Tính minh bạch Minh bạch có nghĩa là thông tin phải được cung cấp trong hình thức dễ hiểu và qua truyền thông; qua đó thông tin phải luôn sẵn có và có thể được truy cập trực tiếp bởi những người chịu tác động từ những chính sách và việc thi hành chính sách trong hoạt động quản lý, cũng như tác động từ hệ quả phát sinh; và theo đó bất kỳ quyết định nào họ đưa ra và việc họ thực thi pháp luật đều phù hợp với các quy tắc và quy định. Tính cởi mở Quản lý hợp cách đòi hỏi các tổ chức và quy trình tương ứng phải được thiết kế để đáp ứng lợi ích thiết thực nhất của các bên liên quan trong một khung thời gian hợp lý. Thống nhất trong định hướng Quản lý hợp cách đòi hỏi sự tham khảo mọi ý kiến trái chiều ​​để hiểu được những khác biệt về lợi ích nhằm đạt được sự đồng thuận phổ quát đáp ứng được lợi ích thiết thực nhất của toàn bộ các bên liên quan, cũng như bằng cách nào đó đạt được tiến trình như vậy một cách bền vững và thận trọng. Tính công bằng và toàn diện Một tổ chức đảm bảo được cơ hội duy trì, nâng cao, hay nói chung là cải thiện tình hình của tất cả các bên liên quan cũng đồng thời truyền tải được thông điệp giàu tính thuyết phục nhất về lý do tồn tại của nó,...

Read More
Tại sao các nước đang phát triển cần và muốn dân chủ
Jul27

Tại sao các nước đang phát triển cần và muốn dân chủ

Lê Duy Nam chuyển ngữ, CTV Phía Trước Carl Gershman, Chủ tịch National Endowment for Democracy Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 50 của Ấn Độ vào năm 1997, Trung tâm Bghiên cứu các Xã hội đang Phát triển (CSDS) có trụ sở tại New Delhi đã tiến hành một cuộc khảo sát tầm quốc gia đánh giá quan điểm chung đối với nền dân chủ Ấn Độ. Các kết quả đã bác bỏ niềm tin phổ biến rằng người dân Ấn Độ đã mất niềm tin vào hệ thống dân chủ của đất nước. Ngược lại, giám đốc của CSDS Ashis Nandy đã viết, “Ngày nay, các hệ thống dân chủ được hưởng tính hợp pháp lớn hơn so với quá khứ. Người nghèo và người bị bóc lột bảo vệ dân chủ mạnh mẽ hơn các tầng lớp lãnh đạo.” Tính hấp dẫn của dân chủ, ông cho biết, nhờ một phần rất lớn vào niềm tin của Ấn Độ rằng tính toàn diện của nó cung cấp cách tốt nhất để đối phó với sự đa dạng sắc tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, và khu vực đáng kinh ngạc của nước này. Người nghèo đặc biệt coi trọng dân chủ, theo Nandy, bởi vì họ tin rằng “lá phiếu của mình có trọng lượng” và họ dường như thích thú thực hiện nhượng quyền của mình bất chấp các nhà hảo tâm chuyên nghiệp trong các tầng lớp giàu có hơn – những người có những ý tưởng riêng của họ về những gì người nghèo cần. Trong khi cuộc khảo sát của CSDS và bình luận của Nandy chỉ tập trung tại Ấn Độ, chúng chứa một thông điệp quan trọng về tầm quan trọng của nền dân chủ cho nhân dân ở các nước đang phát triển khác trên thế giới. Tại thời điểm khảo sát ý kiến của Ấn Độ xuất hiện, Lý Quang Diệu và một số nhà lãnh đạo chính trị khác đã thúc đẩy lập luận rằng dân chủ là một hệ thống phương Tây không phù hợp với văn hóa châu Á. Luận điểm “giá trị châu Á” này đã nhận được sự lắng nghe tôn trọng trong giới lãnh đạo ở châu Á, Bộ Ngoại giao và các ấn phẩm phương Tây khác. Uy tín của nó đã được củng cố thêm bởi sức mạnh của các nền kinh tế Đông Á mà dường như cho thấy rằng các hệ thống dựa trên đảng chiếm ưu thế, các lãnh đạo vô trách nhiệm, và các tập đoàn lớn được chống lưng bởi nhà nước đưa ra một hướng...

Read More
Vì sao phát triển lại cần nền tảng pháp quyền
Apr18

Vì sao phát triển lại cần nền tảng pháp quyền

Lê Duy Nam chuyển ngữ, CTV Phía Trước James Goldston, Open Society Foundation Những quốc gia có nhiều giao tranh thường là những quốc gia thiếu vắng nềng tảng pháp quyền – tức thượng tôn pháp luật – và phần lớn thường ở các quốc gia đang phát triển, thiếu giáo dục và tỉ lệ trẻ em tử vong cao. Tại Mexico kể từ năm 2006, mười nghìn người đã bị giết và nhiều người khác bị mất tích khi cuộc chiến nổ ra giữa các băng đảng buôn thuốc phiện và lực lượng an ninh quốc gia. Người dân bị nhấn chìm vào cuộc chiến khốc liệt trong khi chỉ có vài kẻ tội phạm bị đưa ra ánh sáng. Tại quốc gia Euqatorial Guinea, một nơi có GPD cao hơn cả Italy và Hàn Quốc trong đó 60% dân số chỉ tồn tại qua ngày với ít hơn 1 đô la một ngày, vì dầu mỏ ở đây bị rút ruột bởi nạn tham nhũng không kiểm soát được. Xuyên suốt Trung và Đông Âu, trẻ em dân tộc thiểu số Roma vẫn bị phân biệt đối xử chỉ bởi vì màu xa của chúng. (Roma là dân tộc thiểu số sống rải rác khắp châu Âu với khoảng 10 triệu người, một trong những nhóm dân tộc thiểu số lớn nhất châu Âu), Một vấn đề nằm đằng sau tất cả những bi kịch này: sự thất bại của nền tảng pháp puyền. Trong những năm gần đây, khái niệm “pháp quyền” đã ngày càng thu hút được mối quan tâm trong cộng đồng học thuật và chính trị. Giờ đây, một cơ hội lớn để hiện thực hoá pháp quyền đang ở phía chân trời rồi: Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ hậu thế hệ 2015. Vào tháng Chín năm 2000, các nhà lãnh đạo thế giới đã tập hợp lại và tuyến bố trong Tuyên ngôn Thiên niên kỷ rằng, “thách thức trọng tâm mà chúng ta phải đối mặt hiện nay là để đảm bảo sự toàn cầu hoá trở thành một sức mạnh tích cực cho toàn nhân loại trên toàn thế giới” (khổ 5). Bản tuyên ngôn đã yêu cầu Hội đồng Liên Hiệp Quốc thực hiện một tập hợp các mục tiêu tham vọng cao, có hạn định cụ thể và có thể đo đạc được nhằm thúc đẩy phát triển và giảm đói nghèo. Nhưng bản Tuyên ngôn cũng nhận diện một con số các “mục tiêu quan trọng,” bao gồm hoà bình và an ninh tương lai, bảo vệ môi trường, và “thúc đẩy dân chủ đồng thời củng...

Read More
Nền tảng của trưng cầu dân ý
Mar06

Nền tảng của trưng cầu dân ý

Nguyễn Tiến Trung, Võ Tấn Huân Theo VOA Ủy ban thường vụ Quốc hội đang lấy ý kiến về luật trưng cầu ý dân. Qua quá trình tranh luận, ta có thể nhận ra nhiều điều về một nhà nước tự xưng là “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Lòng dân và ý đảng Phó Chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn đã lo lắng “Nếu kết quả trưng cầu ý dân không đúng như ý muốn thì có tổ chức trưng cầu lại không, phải làm rõ nếu dân không đồng ý thì thế nào.” Ông Sơn đã công nhận rằng “lòng dân” chưa chắc đã trùng với “ý muốn” của những người lãnh đạo đảng cộng sản. Báo cáo thẩm tra sơ bộ của Ủy ban Pháp luật của Quốc hội nêu rõ: “Trưng cầu ý dân tuy đã được ghi nhận trong Hiến pháp từ năm 1946, nhưng ở nước ta hình thức này chưa được thực hiện trên thực tế.” Do đó, các văn bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992, 2013 đều không có giá trị vì chưa bao giờ được toàn dân phúc quyết qua trưng cầu dân ý. Như thế, những khẩu hiệu tuyên truyền như “Hiến pháp là kết tinh trí tuệ của toàn đảng, toàn quân, toàn dân”, “nhà nước của dân, do dân, vì dân”,… là không đúng thực tế. Thậm chí, những người lãnh đạo đảng cộng sản còn vi phạm điều 70 của Hiến pháp 1946 do chính họ soạn thảo khi tự động thay đổi Hiến pháp mà không hề đưa ra cho toàn dân phúc quyết. Câu khẩu hiệu “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” phải chăng chỉ dành cho dân thường chứ lãnh đạo thì không cần tuân thủ Hiến pháp và pháp luật? Ý dân là ý trời Quốc hội họp bàn về luật trưng cầu dân ý nhưng “đại biểu nhân dân” lại sợ ý dân trái ý đảng. Đó là do từ trước đến nay người dân chưa bao giờ được quyền quyết định những vấn đề hệ trọng của quốc gia qua trưng cầu dân ý, cơ bản nhất là quyết định chế độ chính trị, phúc quyết Hiến pháp – bản khế ước xã hội, và trao quyền lực nhà nước cho chính quyền. Tuyên truyền là “nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” mà quyền lực chính trị chưa bao giờ được dân trao cho là mạo danh. Do đó, đảng cộng sản cầm quyền như hiện nay là không chính danh. Việc nắm quyền như vậy...

Read More
Bất tuân dân sự – Vũ khí có sức công phá mạnh nhất
Jan22

Bất tuân dân sự – Vũ khí có sức công phá mạnh nhất

Phạm Nguyên Trường dịch Benny Tai, Hong Kong Economic Journal Theo tuyên bố của ông Chzhenina Liang [đứng đầu đặc khu hành chính Hồng Công], không cần phải liên hệ một cách trực tiếp việc Hồng Công giành được quyền phổ thông đầu phiếu thực sự với năm 2017 [năm “bầu lại” người đứng đầu chính quyền] hay năm 2020 [năm bầu lại cơ quan lập pháp]. Vì ở Hồng Công người ta đã chờ đợi quyền phổ thông đầu phiếu hàng chục năm rồi, ngày tháng cụ thể cũng không quan trọng hơn là cuộc thảo luận – hiện đang diễn ra – về cải cách chính trị nói chung. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, khó có khả năng là Bắc Kinh sẽ cho Hồng Công quyền biểu quyết đầy đủ. Chúng ta có thể làm gì nhằm hỗ trợ quyền phổ thông đầu phiếu, hỗ trợ chương trình của nhóm các đảng ủng hộ dân chủ và các tổ chức của xã hội dân sự? Chiến lược đã được sử dụng, trong đó có các cuộc biểu tình vào tháng 3 năm 2003, những cuộc trưng cầu dân ý phi chính thức (được thực hiện trong các cuộc trưng cầu ở năm khu vực) hoặc biểu tình-tuyệt thực trong văn phòng chính phủ (xảy ra trong cuộc xung đột xung quanh việc xây dựng các nhà thờ trên quảng trường Chi), đã thu được thành công nhất định. Tuy nhiên, có lẽ những vụ phản đối kiểu đó là chưa đủ: có thể giả định rằng việc phản đối quyền phổ thông đầu phiếu ở Hồng Công – vốn được nhiều người ủng hộ – của Bắc Kinh sẽ khá mạnh. Vì vậy, để giành được mục tiêu này, cần phải có những phương tiện nghiêm túc hơn. Có thể bảo vệ quyền phổ thông đầu phiếu tại Hồng Công bằng vũ khí có sức mạnh hơn: Chiếm toàn bộ khu trung tâm thành phố. Hành động bất tuân dân sự phi bạo lực – vi phạm pháp luật, phong tỏa trong một thời gian dài huyết mạch giao thông chính của Hồng Công – tạm thời làm tê liệt các thiết chế chính trị và kinh tế của thành phố nhằm buộc Bắc Kinh phải thay đổi quan điểm. Để đạt được hiệu quả, hành động phải được tiến hành theo những quy tắc sau đây. Số lượng Số người tham gia phản đối vượt quá số lượng tới hạn nhất định. Nếu các cuộc biểu tình không đủ đông thì cảnh sát có thể giải tán ngay. Khi số người biểu tình chưa...

Read More
Tầm quan trọng của Magna Carta
Jan20

Tầm quan trọng của Magna Carta

Charlotte Gunnell, Blog Metro Lê Duy Nam, CTV Phía Trước chuyển ngữ Năm 2015 đánh dấu mốc 800 năm ngày ra đời văn bản mang tên Magna Carta. Chắc chắn các bạn sẽ còn được nghe người ta nhắc tới nó nhiều hơn trong 365 ngày sắp tới. Trong bài viết này, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về nguồn gốc ra đời và tầm quan trọng của Magna Carta.  Magna Carta là gì và tầm quan trọng của Magna Carta Magna Carta là một văn bản ra đời với mục đích hạn chế quyền lực của nhà vua và thiết lập nhân quyền cho tất cả người dân ở Vương quốc Anh. Được vua John của Vương quốc Anh ký kết tại Runnymede, Surrey, Magna Carta được xem như là một hiệp ước giữa vua John và thần dân; đồng thời, nó yêu cầu tất cả mọi người đều phải tuân thủ luật pháp, kể cả nhà vua. Trong số 63 điều khoản được viết vào năm 1215, Magna Carta phản ánh nhiều vấn đề liên quan tới những hành động sai trái của vua John trong giai đoạn cai trị độc đoán của mình. Ngoài ra, Magna Carta lần đầu tiên cho phép tất cả các “công dân tự do” có quyền được xét xử và phán quyết công bằng bởi bồi thẩm đoàn và tất cả các thành phố, thị trấn, hải cảng … đều có quyền hải quan “tự do”. Trong tiếng Latin, Magna Carta có nghĩa là “Bản Hiến Chương vĩ đại”. Việc ký kết “hiệp ước hòa bình” này được xem như là một thời khắc mấu chốt trong quá trình thiết lập nhân quyền mà tất cả chúng ta ngày nay đều đang được hưởng. Bạn có thể tới Vương quốc Anh để thăm địa điểm ký kết lịch sử của bản hiệp ước vĩ đại này. Magna Carta góp phần xây dựng hệ thống pháp lý như ngày nay? Đúng vậy. Mặc dù trong văn bản gốc năm 1215, Magna Carta chỉ giới hạn trong phạm vi “những công dân tự do”, tức là không bao gồm nông dân (trong thời Trung Cổ), những người vẫn bị các lãnh chúa nắm quyền sinh sát, nhưng vào thế kỷ 14, “những công dân tự do” trong Magna Carta đã được hiểu là toàn bộ các cá nhân, không kể giai cấp, quê quán…, ai cũng có quyền được xét xử công bằng bởi bồi thẩm đoàn. « Không một công dân tự do nào bị bắt giữ hay giam cầm, bị tước quyền hay tài sản, bị đặt ra ngoài vòng pháp luật hay...

Read More
Trong vòng pháp luật
Dec17

Trong vòng pháp luật

Donald Boudreaux, FEE Nguyễn Thủy, CTV Phía Trước dịch Chúng ta vẫn luôn đồng ý rằng chế độ pháp quyền là tốt, về cả mặt đạo đức lẫn kinh tế. Gần như không ai, trừ những hệ tư tưởng chính trị, dám đặt câu hỏi về những mặt tốt và tầm quan trọng của pháp quyền.  Tất nhiên là cả tôi cũng không. Nhưng, chính xác thì chế độ pháp quyền là gì? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng tôi đã khám phá ra lý do tại sao con người có thể có vô vàn quan điểm khác nhau về vai trò đúng đắn của chính phủ nhưng đều thể hiện lòng trung thành đối với chế độ nhà nước pháp quyền. Sau đây liệt kê những đặc điểm không phải là bản chất của một chế độ pháp quyền. Chế độ pháp quyền không tồn tại đơn giản vì chính phủ, với nhiệm vụ ban bố mệnh lệnh và hành pháp, được bầu chọn một cách hợp pháp và dân chủ. Chế độ pháp quyền không tồn tại đơn giản vì mệnh lệnh và luật lệ được thi hành theo đúng ý nghĩa các thuật ngữ pháp lý mà không thiên vị, không ngoại lệ hay sai khác. Chế độ pháp quyền không tồn tại đơn giản vì tất cả các cá nhân trong xã hội, bao gồm cả những cá nhân nắm giữ quyền lực chính trị, đều phải tuân theo mệnh lệnh của chính phủ. Một hệ thống chính trị và pháp lý chuẩn mực với những đặc trưng kể trên hẳn là một giấc mơ, nhưng dù có tách ra hay gộp lại thì chúng đều không phải là cốt lõi của một chế độ pháp quyền. Mệnh lệnh và Luật pháp Một chế độ pháp quyền tồn tại khi và chỉ khi sự cai trị do chính phủ áp đặt chính là pháp luật một cách thực tế. Định nghĩa của bản thân tôi có thể hơi trùng lặp. Nhưng rốt cục, liệu tất cả các mệnh lệnh đều trở thành pháp luật chính thức khi được áp chế bởi chính phủ không? Không phải vậy. Nhưng, thuật ngữ “Pháp quyền” vì thế trở nên nhập nhằng do bị phổ cập quá nhanh , trong khi vẫn bị hiểu sai rằng, việc mệnh lệnh trở thành luật là do chính phủ áp đặt thi hành. Về bản chất, pháp luật được sinh ra từ những hoạt động thường ngày của con người trong quá trình nỗ lực phát triển bản thân, đồng thời vừa phải tránh xung đột với nhau. Pháp luật...

Read More
%d bloggers like this: