Lời giới thiệu tác phẩm Luật Pháp của Walter E. Williams
Apr15

Lời giới thiệu tác phẩm Luật Pháp của Walter E. Williams

Phạm Nguyên Trường dịch Khi in tác phẩm Luật Pháp Frederic Bastiat, Nhà xuất bản Tri Thức đã cắt bớt một đoạn trong lời giới thiệu của Walter E. Williams. Đây là bản đầy đủ. *** Phải đến năm bốn mươi tuổi tôi mới đọc tác phẩm kinh điển Luật Pháp của Frerderic Bastiat . Tôi mãi mãi mang ơn, một người mà tôi không biết tên, đã gửi cho tôi cuốn sách này. Sau khi đọc, tôi tin rằng chưa đọc Bastiat thì hiểu về tự do vẫn còn chưa thể nói là trọn vẹn. Đọc Bastiat khiến tôi nhận thức sâu sắc về khoảng thời gian lãng phí, cùng những thất vọng về quá trình lạc lối giữa những con đường không lối thoát khi đi tìm triết lí cho cuộc đời mình. Đối với tôi, tác phẩm Luật Pháp không tạo ra sự chuyển biến về mặt triết học nhiều như nó từng tạo lập trật tự trong suy nghĩ của tôi về tự do và cách hành xử đúng đắn của con người. Nhiều nhà triết học đã có những đóng góp quan trọng vào cuộc thảo luận về tự do, Bastiat nằm trong số đó. Nhưng đóng góp lớn nhất của ông là đã đưa cuộc thảo luận ra khỏi tháp ngà và làm cho tư tưởng về tự do trở nên rõ ràng đến mức ngay cả những người không biết chữ cũng có thể hiểu, còn những người sùng bái nhà nước thì không thể che giấu được. Rõ ràng, việc thuyết phục nhân dân về tính ưu việt trên phương diện đạo đức của tự do cá nhân là công việc cực kì quan trọng. Giống như nhiều người, Bastiat cho rằng chính phủ là mối đe doạ lớn nhất đối với tự do. Xin lưu ý sự mạch lạc trong ngôn ngữ của ông, nó giúp chúng ta nhận ra và hiểu những hành động xấu xa của chính phủ được hợp pháp hóa. Bastiat viết: “Chỉ cần xem luật pháp có lấy những cái thuộc về một số người nào đó và đem cho những người mà chúng không thuộc về. Chỉ cần xem luật pháp có làm lợi cho công dân này mà công dân khác phải trả giá bằng cách làm cái điều mà tự người công dân kia không thể làm mà không phạm tội”. Với cách mô tả chính xác như thế về hành động xấu xa được hợp pháp hóa, chúng ta không thể không kết luận rằng hầu hết các hoạt động của chính phủ, trong đó có chính phủ của chúng ta,...

Read More
Khái niệm “Quản trị” nên hiểu như thế nào?
Apr04

Khái niệm “Quản trị” nên hiểu như thế nào?

Thiên Thanh chuyển ngữ, CTV Phía Trước Anna Bruce-Lockhart, WEF Quản trị toàn cầu, quản trị tốt hay quản trị thất bại là những từ ngữ mà chúng ta hay gặp trong lĩnh vực phát triển quốc tế. Tuy nhiên, ở mỗi bối cảnh tổ chức khác nhau, “quản trị” lại có những nét nghĩa khác nhau. Vậy thì quản trị là gì? Hiểu theo nghĩa đơn thuần nhất, quản trị nói về quá trình xây dựng, cơ cấu bộ máy và đưa ra quyết định để một nhà nước, một tổ chức hay một nhóm thực hiện công việc hiệu quả. Ví dụ rõ ràng nhất là việc chính phủ điều hành đất nước, các cơ quan có thẩm quyền hay các nhóm người nhằm đảm bảo sự an toàn và hiệu quả cho chính phủ nước đó. Tuy nhiên, không chỉ có chính phủ mới có thể chi phối việc quản trị. Chúng ta thấy rằng những tổ chức như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (World Bank) hay Liên Hiệp Quốc (UN) có những cơ quan đại diện ở nhiều quốc gia trên toàn thế giới. Những cơ quan này thực hiện kế hoạch tiếp cận đa phương, tập hợp các thủ lĩnh của công chúng, các thành phần tư nhân cũng như các công dân trong một xã hội rộng lớn hơn để có thể đạt được mục tiêu chung và giải quyết các mỗi đe dọa an ninh quốc tế. Lĩnh vực kinh doanh có thể được xem như một mảnh ghép khác của công việc quản trị. Mối quan tâm của thành phần này chủ yếu tập trung vào việc các công ty điều chỉnh bản thân như thế nào và điều đó cũng góp phần vào sự điều chỉnh khung toàn cầu nói chung. Mối quan tâm về việc điều chỉnh khung toàn cầu ấy ngày càng trở nên quan trọng. Ông Jim Hagemann Snable phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới rằng: “Ở các công ty hiện nay, người ta cũng đã bắt đầu có những lo lắng về địa chính trị”. Tuy nhiên, cũng đáng mừng khi các thành phần kinh tế tư nhân điều chỉnh tốt (có hiệu quả và có trách nhiệm) có thể thực hiện các quyết định cần thiết để giải quyết các thách thức toàn cầu, ví dụ như thúc đẩy vấn đề về việc làm và thúc đẩy phát triển bền vững. Nguồn: Australian National Audit Office Tại sao lại có nhiều loại hình quản trị? Người Mỹ tiên phong trong lĩnh vực Internet Vint Cerf đã từng...

Read More
Dân chủ trực tuyến
Mar01

Dân chủ trực tuyến

Hương Ly chuyển ngữ, CTV Phía Trước Andrew Chadwick, Britannica E-democracy, tên đầy đủ là nền Dân chủ Kỹ thuật số (hoặc Dân chủ trực tuyến) – sử dụng thông tin và công nghệ truyền thông để cải thiện và trong một số trường hợp – để thay thế các đại diện của các đảng dân chủ. Các lý thuyết gia về E-democracy tuy khác nhau, nhưng phần lớn đồng quan điểm rằng có một số hạn chế trong quyền công dân đối với các chính thể tự do dân chủ hiện đại (contemporary liberal-democratic polities)—Các vấn đề về quy mô, khan hiếm về thời gian, suy giảm cộng đồng, và thiếu cơ hội để thảo luận về các chính sách—đều có thể vượt qua nhờ hình thức thảo luận mới trực tuyến. Lý thuyết gốc Một vài thành phần ý kiến khác nhau tạo ra nền tảng cho e-democracy trong cả lý thuyết và thực hành. Trong những năm 1960 có một thế hệ các nhà lý luận chính trị, bao gồm Benjamon Barber, C.B. Macpherson, và Carole Pateman, thành lập một chương trình nghị sự cho các đảng dân chủ tham gia mà tồn tại tới tận thế kỷ 21. Vào những năm 1980 có nhiều nhà xã hội học và các nhà khoa học chính trị xem xét lại khái niệm về cộng đồng. Một số, như Robert Bellah và các đồng nghiệp, than vãn về việc tăng trưởng của chủ nghĩa cá nhân trong xã hội Mỹ và kêu gọi một công đoàn có đạo đức hơn. Những người khác, như Amitai Etzioni, tranh cãi ủng hộ cho một cộng đồng lớn mạnh, gắn kết dựa trên các gia đình và địa phương. Lý thuyết gia cuối cùng tạo cảm hứng cho việc hình thành nên nền dân chủ kỹ thuật số là khái niệm không gian công cộng của Jürgen Habermas: một cộng đồng tự lý tưởng hóa mà trong đó các công dân có thể tự do tranh luận khỏi các tác động làm chủ của tiểu bang, các công ty truyền thông lớn, và các cấu trúc xã hội bất bình đẳng. Ý tưởng các công dân được cân nhắc một cách tự do tạo nên một hiệp hội kín trong xã hội trước khi đưa các kiến thức đó lên cấp chính phủ làm gợi nhớ lại nền dân chủ trực tiếp của thời Athens cổ; tuy nhiên, e-democracy đang cập nhật điều này bằng cách tập trung vào việc làm thế nào để dàn xếp các cuộc đàm luận chính trị. Internet nổi lên như một phương tiện giao tiếp...

Read More
Ngành luật học so sánh có gì mới?
Feb11

Ngành luật học so sánh có gì mới?

Ka Đặng chuyển ngữ, CTV Phía Trước Patrick Yingling, theo I-CONnect Theo Wikipedia, Luật so sánh hay Luật học so sánh là một môn khoa học, một phương pháp tiếp cận nghiên cứu so sánh các hệ thống pháp luật khác nhau nhằm tìm ra sự tương đồng và khác biệt, giải thích nguồn gốc, đánh giá cách giải quyết trong các hệ thống pháp luật. Luật học so sánh còn là lý luận, hay là môn khoa học trong các ngành khoa học pháp lý nhằm nghiên cứu và so sánh các văn bản pháp luật và hệ thống pháp luật khác nhau với nhau và với các quy phạm của luật quốc tế để làm sáng rõ sự giống nhau và khác nhau, xác định khuynh hướng phát triển chung của pháp luật. Trong chuyên mục tuần này, I-Connect đưa ra một danh mục được sắp xếp về những tiến bộ trong việc nghiên cứu so sánh luật công của các nước. “Những tiến bộ” bao gồm một sự tuyển chọn của những nguồn tin tức, các phán quyết của tòa án tối cao, sách học giả và những bài báo mới đây cùng với các bài blog từ khắp nơi trên thế giới về ngành so sánh luật công. Những tiến bộ trong các Tòa án Hiến Pháp Tòa án nhân quyền Châu Âu quy định rằng một doanh nghiệp có thể theo dõi thông tin trao đổi cá nhân của nhân viên nếu thông tin đó được truyền đi từ máy tính và mạng Internet của doanh nghiệp. Tòa án tối cao của Canada đã ban hành một phán quyết cho phép các bác sĩ trợ tử trong một số hoàn cảnh cụ thể nhất định và trao thời hạn bốn tháng cho chính phủ để thông qua một đạo luật yêu cầu các bác sĩ phải thực hiện việc này. Tòa án lập hiến của Đức sẽ xem xét lại năm vụ kiện cáo buộc rằng nước này phản đối chương trình ‘mua trái phiếu’ 2012 của Ngân hàng Trung ương châu Âu ngay cả sau khi tòa án Liên minh châu Âu năm vừa rồi đã cho phép gần như vô điều kiện. Tòa án giám đốc thẩm của Ai Cập đã từ chối đơn kháng án của Tổng thống bị trục xuất Hosni Mubarak về bản án tham những của ông. Tòa Thượng thẩm Ontario đã phán quyết rằng mệnh lệnh của cảnh sát khi yêu cầu các công ty viễn thông cung cấp dữ liệu điện thoại di động của người dùng đã vi phạm Hiến chương của Canada về quyền...

Read More
Sự khác biệt giữa tự do và dân chủ
Feb09

Sự khác biệt giữa tự do và dân chủ

Trường Sơn chuyển ngữ, CTV Phía Trước John T. Wenders, FEE Công bố ngày 1 tháng 8 năm 1990. Chuỗi sự kiện chấn động ở Đông Âu trong vài tháng qua đã tạo ra những niềm kinh ngạc, cú sốc, niềm hy vọng, và sự tán thưởng trên toàn thế giới. Tuy nhiên, kết quả quan trọng nhất của chuỗi diễn biến này, không phải là thời khắc cáo chung của chính phủ độc tài ở các nước xã hội chủ nghĩa, mà là động lực để chúng ta xem xét mối liên hệ giữa lĩnh vực chính sách công và tư ở mọi quốc gia. Trái ngược với quan niệm thường được phổ biến bởi các phương tiện truyền thông rằng tự do đồng nghĩa với dân chủ, sự thay thế đơn thuần một nhà nước cộng sản bằng một nhà nước dân chủ, dẫu vẫn là một bước tiến, thực chất không thể một mình thúc đẩy diễn trình của tự do. Tự do và dân chủ khác nhau. Một nền dân chủ luôn xem xét cách hiện thực hóa mọi vấn đề trong lĩnh vực quyền lợi công. Một nền dân chủ sẽ càng hùng mạnh khi công dân bỏ phiếu để xác định cách giải quyết những vấn đề thuộc lợi ích công. Mặt khác, tự do lại thiên về mối liên hệ giữa những chủ đề trong khu vực quyền lợi cá nhân. Tự do có nghĩa là con đường cá nhân có quyền lựa chọn để tương tác với xã hội trên cơ sở tự nguyện, bên ngoài phạm vi quản lý của nhà nước. Tựu trung, dân chủ có nghĩa là bạn có thể bỏ phiếu trong lĩnh vực quyền lợi công; tự do có nghĩa là bạn có thể xác định cách thức tương tác với những người khác trong khu vực quyền lợi tư. Làn sóng tin tức và tranh luận về quá trình cải cách ở Đông Âu chỉ tập trung vào khuynh hướng vận động hướng đến dân chủ trong lĩnh vực quyền lợi công, và bỏ qua những truy vấn còn quan trọng hơn về khả năng phân bố hành động của công dân giữa khu vực quyền lợi công và tư. Người ta hoàn toàn có thể hình dung đến một nhà nước độc tài, nhưng lĩnh vực quyền lợi công chỉ ở quy mô nhỏ, thực tế tự do cá nhân ở đó lại ở mức lớn hơn nhiều so với một nhà nước dân chủ, nhưng duy trì bộ máy quyền lợi công đồ sộ. Điều cốt yếu là một bản hiến pháp xác...

Read More
Hiến pháp Singapore – Một phân tích dựa vào đặc thù
Feb05

Hiến pháp Singapore – Một phân tích dựa vào đặc thù

Ka Đặng chuyển ngữ, CTV Phía Trước Jaclyn L. Neo, I-CONnect Tương xứng với danh hiệu là một trong những sử gia chính thống hàng đầu tại Singapore, Kevin YL Tan đã đi thẳng vào việc giới thiệu một cách đầy hiểu biết về luật hiến pháp của Singapore ngay từ lúc bắt đầu. Hiến pháp Singapore được đặt vào bối cảnh lịch sử chính trị trong lúc còn là một thuộc địa đang nảy nở của Anh, được thừa hưởng luật pháp Anh cùng với những truyền thống chính trị và pháp luật được gắn kết trong suốt cả giai đoạn thuộc địa đáng chú ý này. Bối cảnh lịch sử về pháp lý, chính trị và xã hội cho thấy nguồn gốc khai sinh hiến pháp, không kém phần quan trọng bởi vì những câu chuyện lịch sử được dùng để viện dẫn một cách sáng suốt và liên tục trong bài thuyết giảng trước công chúng nhằm để minh chứng, xác thực, và báo hiệu cho những lựa chọn hiến pháp. Nó cũng là chìa khóa giúp hiểu được những nghịch lý mà Singapore đưa ra cho chủ nghĩa hợp hiến, đặc biệt là chủ nghĩa hợp hiến tự do. Singapore không phải là một chính thể tự do và cũng không có ý định như thế. Tuy nhiên, hệ thống hiến pháp của nước này bao gồm các đặc trưng mà rõ ràng đã được phỏng theo mô hình hiến pháp của nhiều quốc gia dân chủ tự do, như Anh và Hoa Kỳ. Điều này chứng tỏ, cũng không đúng đắn khi phân loại Singapore là một nhà nước độc tài, như một số người đã lầm. Thật vậy, ông Tan miêu tả hiến pháp của Singapore thuộc về một nhà nước công xã hoặc hơi chuyên quyền. Về phương diện này, ông bị chất vấn bởi các học giả, những người tìm cách bám lấy các nghịch lý trong hệ thống hiến pháp của Singapore vì nó phơi bày một số yếu tố chuyên quyền nhưng cũng có một sự cam kết chặt mẽ với pháp quyền[1]. Ví dụ, gần đây nhất, Mark Tushnet đã xác định Singapore là trường hợp điển hình đầu tiên làm hình mẫu cho chủ nghĩa hợp hiến chuyên quyền, trong đó “các quyền tự do được bảo vệ ở mức độ trung bình, và các cuộc bầu cử thì tự do và công bằng một cách hợp lý”[2]. Ông Tan lưu ý rằng, “Singapore là một ví dụ điển hình về một nhà nước ‘chuyên quyền mềm’, một chế độ độc tài nhưng nhân từ”. Ông giải...

Read More
Màn kịch Hiến pháp Ba Lan: Toà án, dân chủ, màn Lập hiến lừa đảo và duy quân sự
Jan28

Màn kịch Hiến pháp Ba Lan: Toà án, dân chủ, màn Lập hiến lừa đảo và duy quân sự

Trường Sơn chuyển ngữ, CTV Phía Trước Tomasz Tadeusz Koncewicz, I-CONnect Công bố ngày 6 tháng Mười hai năm 2015 Cuộc tổng tuyển cử của Ba Lan vào ngày 26 tháng Mười năm 2015 vừa qua đã thay đổi hoàn toàn bối cảnh chính trị, cũng như tái lập quyền lực cho đảng cánh hữu bảo thủ Prawo i Sprawiedliwość (Đảng PiS – nghĩa là “Law and Justice”, tức “Luật pháp và Công lý”, một cái tên thật mỉa mai nếu chúng ta kết nối với những sự kiện vừa được sáng tỏ ở Ba Lan), vốn từng phải rời khỏi chính trường vào năm 2007 bởi những bê bối liên quan đến tham nhũng và tệ gia đình trị; và nỗi lo của dư luận trước tư tưởng hoài nghi, chủ nghĩa dân tộc và tinh thần chống châu Âu của tổ chức này. Giờ đây, sau tám năm từ bỏ quyền lực, Đảng PiS đang quay lại với khát vọng phục thù, khát vọng bẻ cong nền chính trị, hệ thống pháp luật và văn hóa hiến pháp của Ba Lan, và tiến tới tạo ra một “Nền Đệ tứ Cộng hòa mới mẻ và đạo đức”, không còn bóng dáng của những “mạng lưới đáng ghét”. Theo khẳng định của Đảng PiS, Ba Lan ngày nay rất cần đến một cuộc đại biến chính trị và đạo đức. Tòa án Hiến pháp Ba Lan là nạn nhân đầu tiên của lòng nhiệt thành cách mạng này. Đa số thành viên của Quốc hội mới được bầu, trong sự thỏa hiệp với ngài Tổng thống, không cần hơn một tháng để triệt hạ cơ quan này. Đảng PiS đã từ chối quy trình bổ nhiệm thẩm phán của Tòa án Hiến pháp sau kỳ bầu cử Quốc hội, cũng như từ chối thực thi quy định, thay vào đó họ lại chỉ định riêng những “thẩm phán tốt” của họ; và như vậy tự trao cho họ quyền phán xét hiến pháp và quay lại vô hiệu hóa Nhiệm kỳ hiện tại của Chủ tịch và Phó Chủ tịch Tòa án Hiến pháp. Để làm rõ tư tưởng và học thuyết pháp lý mới, nhóm diễn giả danh dự của Hạ viện Quốc hội (Sejm) đã tóm tắt màn kịch của họ vài ngày trước đây: “Đó là ý chí của nhân dân, pháp luật không có nghĩa gì ở đây, và ý muốn của người dân luôn đứng trên luật pháp”. Không cần phải nhắc rằng thứ ngôn ngữ như vậy, khi được sử dụng ở châu Âu, có thể gợi lại cho chúng ta những...

Read More
Tham nhũng: Thách thức đối với nỗ lực thúc đẩy đổi mới trong quản lý hợp cách (Phần II)
Nov14

Tham nhũng: Thách thức đối với nỗ lực thúc đẩy đổi mới trong quản lý hợp cách (Phần II)

Trường Sơn chuyển ngữ, CTV Phía Trước Alina Mungiu-Pippidi, Nature Trong bài viết này, tác giả Alina Mungiu-Pippidi cảnh báo về nạn tham nhũng như một rào cản đối với sự đổi mới. Để khoa học và công nghệ phát huy trọn vẹn tiềm năng, mọi kế hoạch chi tiêu công phải được xem xét kỹ lưỡng. Xem thêm Phần I Người này lợi dụng người kia Tại sao khả năng đổi mới phản ánh được chất lượng của việc quản lý? Không phải vì sự phân bố không đồng đều nhân tài giữa các quốc gia, và cũng không hoàn toàn vì tình trạng nghèo đói – mặc dù, dĩ nhiên, hoàn cảnh như vậy vẫn là một trở lực đáng kể vì nó đồng nghĩa với việc hệ thống cơ sở hạ tầng không thuận lợi để thay đổi và phát triển công nghệ. Romania và Bulgaria đúng là những quốc gia nghèo nhất ở châu Âu, nhưng Italy và Hy Lạp hoàn toàn không phải là những nước kém phát triển. Đơn giản vì, nơi sự tiến bộ dựa trên nền tảng là phẩm chất cá nhân và những trường hợp thiên vị chỉ là ngoại lệ, chính phủ, cũng như thị trường, đều đề cao những hệ giá trị, và kết quả thịnh vượng. Ở những nơi không tạo dựng được môi trường như vậy, hoạt động phân phối trong xã hội thường mang tính ưu tiên chứ không vì những chuẩn mực đạo đức nữa. Cũng trong hoàn cảnh ấy, khoa học và công tác nghiên cứu sẽ bị cách ly vì lực lượng cầm quyền e sợ rằng nhân tài có khả năng đe dọa mục tiêu chính của họ – là kiểm soát quyền sử dụng các nguồn tài lực công cộng và tư nhân. Những chính phủ dùng tiền để tranh thủ sự ủng hộ về chính trị sẽ không thể đầu tư nhiều vào giáo dục và nghiên cứu – vì lợi ích đạt được thường không cụ thể. Việc xây dựng một sân thể thao hoặc một sân bay mới chắc chắn sẽ hỗ trợ những công ty muốn xây dựng công trình như vậy (đó cũng là một đóng góp khả dĩ cho chiến dịch bầu cử tiếp theo), cũng như tranh thủ sự ủng hộ của những cử tri sẽ cần đến sân thể thao hoặc sân bay. Trong lĩnh vực như vậy, một ngàn học bổng khoa học lại ít tạo ra lợi nhuận hơn –không thể đem trao cho những người ủng hộ không có năng khiếu khoa học. Đó là lý do tại sao...

Read More
%d bloggers like this: