Nguồn gốc của chế độ độc tài
Jul03

Nguồn gốc của chế độ độc tài

TS Đỗ Kim Thêm, CTV Phía Trước Giới thiệu sách: Hannah Arendt – The Origins of Totalitarianism. New York: Harcourt Brace, 1951 Vấn đề  Gần đây, sự sụp đổ của Trung Quốc được học giới phương Tây đề cập và một học thuyết domino trong thời kỳ mới vẫn chưa thành hình. Chừng nào chế độ độc tài của Việt Nam sẽ sụp đổ và với hình thức nào là một câu hỏi quen thuộc của người Việt mà chưa có câu trả lời chính xác. Dù nguy cơ của ĐCSVN thường được đặt ra, nhưng nguyên ủy cho sự tan rã chung này cũng là vấn đề cần tìm hiểu: chế độ toàn trị do đâu mà có. Sự thành hình của nhà nước toàn trị là một khảo hướng lý thuyết đa dạng, nhưng sau khi chế độ Đức Quốc Xã đầu hàng thì “The Orgins of Totalitarianism“ (1951) của Hannad Arendt được học giới ca ngợi đây là một tác phẩm trứ danh, được liệt kê vào một trong số 100 danh phẩm của thế kỷ XX và tác giả được vinh danh là một triết gia có ảnh hưởng sâu đậm trong lịch sử tưởng chính trị cận đại. Bài viết sau đây sẽ giới thiệu danh phẩm này. Tác giả Hannad Arendt (1906-1975) là người Do Thái, nhưng sinh ở Linden gần Hannover (Đức) và trưởng thành ở Königsberg. Arendt học Triết học, Thần học và Hy lạp (1924-28) tại các Đại học Marburg, Heidelberg và Freiburg với các triết gia nổi danh Martin Heidegger và Karl Jaspers. Luận án Tiến sĩ của bà là “Khái niệm về tình yêu của Augustin”. Vì gốc Do thái nên bà không được phép dạy học. Khi Hitler cầm quyền bà bị giam và sau đó cùng chồng là Günter Stern đào thoát sang Paris tháng 8 năm 1933. Tại Paris, bà làm việc cho Jungend Aliyad, một tổ chức thanh niên tỵ nạn người Do Thái, nhưng mất quyền công dân Đức và sống trong tình trạng không quốc tịch. Bà ly dị vào năm 1937 và làm việc cho tổ chức Jewish Agency tại Paris. Bà tái giá với Heinrich Blücher. Sau khi bị giam tại trại tập trung Gurs, miền nam nước Pháp, bà và toàn gia đình sang tỵ nạn taị Hoa Kỳ năm 1941. Khởi đầu bà làm việc cho tuần báo Aufbau, sau đó cho nhà xuất bản Schocken và phụ trách điều hành cho tổ chức Jewish Cultural Reconstruction Agency. Năm 1951 bà nhập tịch Mỹ sau 14 năm sống không có quốc tịch và cho ra mắt tác phẩm...

Read More
Lộ trình tới tự do
Jun03

Lộ trình tới tự do

Lê Duy Nam chuyển ngữ, CTV Phía Trước Theo CFR Các bài học chính trị và kinh tế từ chuyển đổi dân chủ Nội dung chính Nhiều quốc gia đang phát triển đã thực hiện chuyển đổi mô hình từ độc tài sang dân chủ trong 25 năm vừa qua. Trong khi một số quốc gia đã đạt được thành công trong việc xây dựng được các nền tảng dân chủ khá mạnh với một nền thịnh vượng được chia sẻ, thì còn nhiều quốc gia khác đã thất bại. Vì con sóng thay đổi này vẫn tiếp tục vươn tới Trung Đông, châu Phi và châu Á, các kinh nghiệm quý báu liên quan tới chính sách có thể được rút ra từ những chuyển đổi dân chủ gần đây ngày càng trở nên quan trọng và đáng chú ý hơn bao giờ hết. Qua các bài học ví dụ ở Brazil, Indonesia, Mexico, Nigeria, Ba Lan, Nam Phi, Thái Lan và Ukraine, cuốn sách Lộ trình tới tự do (Pathways to Freedom) khám phá những nhân tố cấu trúc và các sự lựa chọn chính sách đã hình thành nên tám chuyển dịch quan trọng – một số thành công, một số không được như vậy. Các bài học ví dụ tập trung vào sáu chủ điểm: thêm vào hoặc loại trừ mang tính kinh tế xã hội học, các chính sách và cấu trúc kinh tế, truyền thông và xã hội dân sự, hệ thống pháp lý và pháp trị, cấu trúc chính phủ, giáo dục và dân số. Các chương phụ phân tích các chủ điểm này qua những ví dụ định lượng nhẹ nhàng về tiến trình dân chủ hoá trong các bài học ví dụ. Với các phân tích lịch sử xúc tích và các kế hoạch cải tiến tích cực, cuốn sách Lộ trình tới tự do cho chúng ta một cái nhìn dễ tiếp cận và đủ tin cậy về những điều các quốc gia phải làm để xây dựng các nền dân chủ bền vững và thịnh vượng – và đó cũng là điều Hoa Kỳ cũng như nhiều nước khác có thể giúp. © 2007-2015 Bản tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC – www.phiatruoc.info Share on Facebook Scridb filterLike this:Like...

Read More
Phát triển là tự do
May29

Phát triển là tự do

 Lê Duy Nam chuyển ngữ, CTV Phía Trước Victor A Matheson, theo Fee.org Tự do chính trị, kinh tế và xã hội là những tài sản sinh lời Amartya Sen, nhận giải Nobel Kinh tế năm 1998, đã được gọi là “sinh viên của thế giới đau thương”. Nghiên cứu của ông tập trung vào các vấn đề kinh tế ảnh hướng tới các cư dân nghèo nhất của thế giới: đói triền miên, mù chữ, tỉ lệ tử vong cao ở trẻ em, và bệnh dịch. Trong 35 năm qua, ông đã công hiến tài năng nghiên cứu đáng kể của mình để giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế tại các quốc gia nghèo. Trong cuốn sách mới nhất của ông, Phát triển là tự do, ông Sen định nghĩa phát triển là một “sự tăng cường tự do cho phép con người có được một cuộc sống mà họ có lý do để trân trọng.” Ông tin rằng các nhà kinh tế học đã coi trọng một cách sai lầm vào GDP với tư cách là một thước đo vàng cho phát triển, và do đó định nghĩa của ông còn đi xa hơn việc chỉ đơn giản là tối đa hoá thu nhập bình quân đầu người. Ông Sen lý luận rằng nếu thu nhập của một quốc gia tăng lên mà không đi kèm bởi các yếu tố khác cấu thành nên một mức sống cao hơn (ví dụ như tự do chính trị, tính sẵn sàng của các “sản phẩm xã hội” bao gồm giáo dục, chăm sóc y tế cho mọi công dân, và bảo vệ người dân khỏi đói và chết non) thì quốc gia đó chỉ đơn giản là giàu lên mà thôi. Đó không thực sự là “phát triển”. Mặc dù nhiều nhà kinh tế học cho rằng thu nhập bình quân cao là một điều kiện tiên quyết cho việc hình thành nên sự phát triển, ông Sen chỉ ra rằng có nhiều ví dụ hoàn toàn phủ định quan điểm này. Một ví dụ như thế đó là tại bang Kerala của Ấn Độ, với tuổi thọ bình quân rất cao, tỉ lệ sinh thấp, và tỉ lệ mù chữ thấp khi so sánh với các quốc gia như Brazil, Nam Phi, và Gabon, là những quốc gia giàu có hơn rất nhiều. (Thật vậy, tuổi thọ của công dân Kerala cao hơn tuổi thọ của người Mỹ gốc Phi cho dù thu nhập bình quân chênh nhau tới 20 lần). Tự do chính trị, kinh tế và xã hội thường là những tài sản có lời, ông...

Read More
Giới thiệu sách “The Zero Marginal Cost Society”
May05

Giới thiệu sách “The Zero Marginal Cost Society”

Trích từ Book Hunter Trong cuốn sách kinh tế có tên “Một xã hội chi phí cận biên bằng không”, tác giả mô tả về một xã hội số tương đối lý tưởng trong tương lai: các cơ sở vật chất và hạ tầng cơ bản được cung cấp với cái giá gần như là cho không, các công ty dịch vụ xây dựng trên nền tảng cơ sở hạ tầng đó gần như sẽ không mất chi phí nào đáng kể, và họ có thể cung cấp sản phẩm và dịch vụ của mình với cái giá siêu rẻ mà các mô hình công ty truyền thống trong cùng lĩnh vực không thể nào cạnh tranh nổi. 2 động lực chính để tạo ra sự thay đổi đó được tác giả nhắc đến trong cuốn sách đến từ hai xu hướng công nghệ, xã hội đang rất phát triển trong thời gian gần đây : Internet of Things và Sharing economy (kinh tế chia sẻ). Cả hai xu hướng này đều nhắm đến việc tận dụng tối đa nguồn lực có sẵn, giảm chi phí vận hành các hệ thống khổng lồ với chi phí rất rẻ. Được dựa trên tiền đề sẵn có của các thành tựu công nghệ thông tin trước đó như điện toán đám mây, mobile, mạng xã hội, Big Data… các xu hướng đi sau này sẽ có tốc độ phát triển và quy mô ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế, xã hội và cuộc sống trong tương lai của con người nói chung. Một ví dụ trong cuốn sách đưa ra về việc hiện nay ở nước Mỹ đã có tới 37 triệu tòa nhà đã sử dụng hệ thống cảm biến để kết nối với Internet, cung cấp thông tin thời gian thực về số lượng điện tiêu thụ và giá điện mà họ đang được tính. Có thể xem nó như một sàn giao dịch năng lượng khổng lồ thời gian thực. Việc xuất hiện một hệ thống như vậy cho phép các công ty và hộ gia đình tự trang bị năng lượng mặt trời có thể tính toán để “mua” năng lượng từ điện lưới khi giá điện ở mức rẻ nhất và “bán” ngược điện sinh ra từ hệ thống điện mặt trời khi nhu cầu và giá điện đang lên cao với chi phí giao dịch gần như bằng không. Ngoài ra cũng có thể kể đến trào lưu kinh tế chia sẻ đang nổi lên gần đây trên thế giới, khi người dùng bắt đầu tìm cách phân phối hàng hóa và dịch vụ...

Read More
Giới thiệu sách “Made to Stick: Why Some Ideas Survive and Others Die”
Apr21

Giới thiệu sách “Made to Stick: Why Some Ideas Survive and Others Die”

Trích từ Book Hunter Nhà văn Mark Twain từng nói: “Một lời dối trá có thể chu du nửa vòng trái đất trước khi sự thật kịp đi giày”. Nếu có đọc báo mạng, chúng ta có thể nhận ra những câu chuyện có tính chất ‘lá cải’ thường xuyên được giới truyền thông khai thác, và chúng có độ lan tỏa , phủ sóng tới những ngóc ngách trong xã hội rất cao. Trong khi những bài viết học thuật chất lượng, chứa nhiều nội dung bổ ích thì lượng truy cập thường rất thấp. Tại sao trong khi có những thông điệp lại tồn tại và ‘dính chặt’ vào tâm trí chúng ta, còn những thông điệp khác đi qua không để lại chút ấn tượng nào? Đây là câu hỏi mà anh em Chip và Dan Heath đã nghiên cứu, tìm hiểu rồi trả lời trong quyển “Made to Stick: Why Some Ideas Survive and Others Die”. Được xuất bản năm 2007, Made to Stick tiếp tục diễn giải ý tưởng ‘Stickiness – Sức kết dính’ được nhắc đến trong quyển ‘The Tipping Point’ của Malcolm Gladwell, tìm kiếm lời giải thích vì sao một số ý tưởng hay khái niệm lại trở nên dễ nhớ, thú vị, và dễ dàng lan truyền trong cộng đồng như một con virus mà không gặp phải nhiều khó khăn. Lối diễn giải của sách cũng có nhiều điểm tương đồng với Gladwell, người đọc có thể thấy kha khá câu chuyện có thật, theo sau đó là những nguyên tắc được sử dụng ẩn sau những câu chuyện đó. Mỗi chương trong cuốn sách đều bao gồm một mục có tiêu đề ‘Clinic’, đề cập đến những nguyên tắc và ví dụ cụ thể, rất trực quan cho vấn đề mà chương đó đang nói tới. Theo như tác giả, để một ý tưởng, thông điệp trở nên dễ lây lan và ‘dính’ lâu hơn trong tâm trí, cần có 6 yếu tố mà tên viết tắt là SUCCES: Simple (Đơn giản): Thông điệp cần phải đơn giản, dễ nhớ với đối tượng cần truyền tải. Unexpected (Bất ngờ): Yếu tố bất ngờ sẽ thu hút sự chú ý của mọi người hơn so với thông thường. Thông điệp cũng trở nên thú vị hơn, là yếu tố cần thiết để có thể lan truyền rộng. Concrete (Cụ thể): Những gì trừu tượng thường khó có thể hình dung cũng như diễn đạt một cách trôi chảy. Credible (Đáng tin): Nếu thông điệp của bạn không đáng tin, đồng nghĩa với việc không ai muốn ghi nhớ. Emotional...

Read More
Vòng quanh Nhận Bản qua cái nhìn của Thomas Piketty
Mar20

Vòng quanh Nhận Bản qua cái nhìn của Thomas Piketty

Yuriko Koike, Project Syndicate Lê Duy Nam, CTV Phía Trước chuyển ngữ Tokyo – Sáu tháng sau khi làm mưa làm gió tại Mỹ và Châu Âu, cuốn sách Tư bản trong thế kỷ 21 của Thomas Piketty đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất tại Nhật Bản. Nhưng vì giữa Nhật Bản và các quốc gia phát triển phương Tây vẫn có nhiều điểm khác biệt rất lớn, do đó, giống như nhiều chuyên gia phương Tây khác, tranh luận của Piketty tập trung vào nhiều điểm đặc biệt. Theo khẳng định chính của Piketty, những nhân tố đi đầu trong việc dẫn tới bất bình đẳng ngày càng tăng tại các quốc gia phát triển chính là sự tích luỹ tài sản của những người đã giàu, do tỉ lệ hồi vốn luôn luôn cao hơn so với tỉ lệ tăng trưởng GDP. Tuy nhiên, tỉ lệ bất bình đẳng ở Nhật Bản lại thấp hơn hầu hết những quốc gia phát triển khác. Thật vậy, mặc dù Nhật Bản lúc nào cũng được coi là một nhà máy công nghiệp, nhưng lại luôn luôn được tôn vinh là một trong những đất nước theo chủ nghĩa cộng sản thành công nhất thế giới. Nhật Bản có tỉ lệ thuế thu nhập cho người giàu khá cao (45%) và thuế di sản cũng lên tới tận 55%. Điều này làm cho việc tích luỹ tư bản qua các thế hệ trở nên khó khăn, và theo Piketty, tích luỹ chính là một trong những nhân tố chủ chốt gây nên sự bất bình đẳng. Do đó, những gia đình giàu có nhất Nhật Bản thường mất đi tài sản trong vòng ba thế hệ. Điều này làm cho nhiều gia đình giàu có của Nhật Bản phải di chuyển sang Singapore hoặc Úc, nơi thuế di sản thấp hơn. Quê hương có vẻ như đã không đủ sức níu kéo những người giàu có này khi mà họ phải chịu thuế má quá cao tại chính đất nước của mình. Và trong trường hợp đó, có thể thấy rất rõ tình trạng những người siêu giàu của Nhật Bản không thể so bì được với những người giàu tại các quốc gia khác. Ví dụ, tại Mỹ, thu nhập bình quân gia đình của 1% giàu nhất thế giới là khoảng gần 30 tỉ VND mỗi năm (theo số liệu từ Viện Nghiên cứu Đầu tư Sadoff). Tại Nhật, con số này chỉ vào khoảng 240.000 đô la. (theo tỷ giá hối đoái năm 2012) Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn rất nhạy cảm với sự bất...

Read More
Các loại không gian nghệ thuật trong văn xuôi Yasunari Kawabata
Mar19

Các loại không gian nghệ thuật trong văn xuôi Yasunari Kawabata

Hà Văn Lưỡng (Đại học Khoa học Huế) Trong văn xuôi của Y.Kawabata, sự biểu hiện của các loại không gian nghệ thuật rất phong phú và đa dạng. Nó luôn gắn liền với nhân vật và các sự kiện nhằm khai thác sâu hơn thế giới nội tâm con người với những biến đổi của tâm lý. Khảo sát văn xuôi của Y.Kawabata, chúng tôi thấy nổi rõ bốn loại không gian nghệ thuật: không gian thiên nhiên vũ trụ; không gian huyền ảo, khúc xạ ảo ảnh; không gian sinh hoạt đời thường và không gian tâm tưởng (tâm trạng hay tâm lý). 1. Không gian thiên nhiên vũ trụ Không gian thiên nhiên, vũ trụ, nhìn chung là những không gian nhỏ, hẹp được kiến tạo thông qua tầm nhìn của nhân vật. Dường như mọi biểu hiện của không gian ngoại cảnh, chủ yếu được khúc xạ qua lăng kính chủ quan, qua sự cảm nhận của tâm hồn nhân vật và đó cũng chính là cái cớ để tác giả mở rộng những cảm xúc, kích thích những suy nghĩ và diễn biến tâm lý của nhân vật. Không gian thiên nhiên hoà hợp với đời sống nhân vật đồng thời thế giới bên ngoài và thế giới nội tâm nhân vật dường như nhạt nhòa đường ranh. Trong Thuỷnguyệt, chồng của Kyoko “Không chỉ nhìn thấy mảnh vườn rau bé bỏng trước nhà… mà còn thấy trong gương bầu trời ánh lên sắc bạc, sắc cây in bóng trong gương cũng xanh tươi hơn, còn màu trắng của hoa huệ cũng rực rỡ hơn so với màu thực có”. Một không gian biển vào lúc hoàng hôn qua cảm nhận của bà Muramo thật huyền ảo: “Đến bây giờ tôi vẫn nhớ lại cảnh hoàng hôn đó… Vịnh biển cắt dải núi non thành một hình bán nguyệt… và màu sắc hoàng hôn ở sâu trong vịnh như đậm thêm, rực rỡ hơn. Còn bầu trời mây hôm đó như thấp hơn mọi khi, và đường chân trời gần một cách kỳ lạ, tưởng chừng đàn chim đổi mùa chẳng còn nơi nào mà bay” (Vịnh cánh cung). Không gian thiên nhiên, qua nhân vật “tôi” trong Cánh tay nhằm khơi gợi tâm trạng nhân vật: “Tôi kéo màn nhìn ra. Sương mù hình như đè xuống với một sức mạnh trống rỗng… Sự dày đặc của sương mù có vẻ vô biên, tuy nhiên vượt qua nó có một cái gì đáng sợ đang quằn quại, ngoằn ngoèo… Thỉnh thoảng, tôi có thể nghe tiếng mưa rơi nhẹ, một âm thanh rất...

Read More
Niềm tin đã và đang định hình luật pháp Mỹ như thế nào?
Mar16

Niềm tin đã và đang định hình luật pháp Mỹ như thế nào?

  Burt Neuborne, Forward.com Cuồng Phong, CTV Phía Trước chuyển ngữ Review sách: “Tinh thần pháp luật – Tiếng nói của tôn giáo và hiến pháp ở nước Mỹ hiện đại” (The Spirit of the Laws – Religious Voices and the Constitution in Modern America) – Tác giả:  Sarah Barringer Gordon. Các học giả về luật pháp thường nói rằng luật, đặc biệt là luật hiến pháp, định hình tôn giáo: nuôi dưỡng sự phát triển của nó  theo điều khoản tự do thực hành tôn giáo, trong khi kiềm chế quyền lực của nó theo định chế tôn giáo. Sally Gordon, giáo sư luật hiến pháp và Arlin M.Adams, giáo sư lịch sử tại đại học Pennylvania, đã thay đổi hoàn toàn quan niệm thông thường đó bằng cách chứng minh rằng chính sức mạnh phi thường của xung lực tôn giáo chứ không phải điều ngược lại đã, đang và tiếp tục định hình luật pháp Mỹ. Bằng cách lặp lại tiêu đề tác phẩm thế kỷ 18 của Montesquieu mang tên “Tinh thần pháp luật”, câu chuyện của Gordon bắt đầu một thế kỷ sau đó với hình ảnh đạo quân cứu thế. Ngày nay chúng ta nghĩ về đạo quân này như những nhân vật vui tính trong phim “Guys and Dolls”. Nhưng Gordon đã gợi lại nhiệt huyết sôi sục của đạo quân cứu thế lúc ban đầu, một giáo phái Tin lành mang tính cách phô trương mạnh mẽ đã tìm cách đưa tôn giáo đến với người nghèo bằng việc diễu hành, chơi nhạc ồn ã thường xuyên bất chấp sự phản đối của chính quyền địa phương. Bà thuật lại chi tiết những việc làm táo bạo của Joe the Turk, người có lối ăn mặc kỳ dị, có tài năng âm nhạc, và đã trải qua nhiều trận chiến pháp lý với chính quyền để làm chứng cho sức sống mãnh liệt của các xung lực tôn giáo bất chấp sự phản đối của phe thế tục.Nó chỉ ra rằng việc ngày nay người dân được tự do tụ tập ở các đường phố một phần nhờ công lao của đội quân cứu thế. Họ đã chiến đấu và đã chiến thắng.  Một trong những thắng lợi quan trọng đầu tiên để giành quyền tự do hội họp ở Mỹ. Robert Jackson Gordon sau đó chuyển sang nhóm Nhân chứng Jehovah vào thế kỷ 20. Lòng nhiệt thành truyền giáo của họ, với giọng điệu chống Công giáo một cách quyết liệt và từ chối thừa nhận quyền lực thế tục đã dẫn giáo phái này tới việc nhiều lần va chạm liên...

Read More
%d bloggers like this: