Bàn về cấm đoán trong kinh tế (Bài 2)
May19

Bàn về cấm đoán trong kinh tế (Bài 2)

Thuốc lá lậu và các chính khách cứng đầu, khó dạy Phạm Nguyên trường dịch John Attarian “Trong lịch sử chỉ có một điều chắc chắn: nhân loại không thể dạy được”, Winston Churchill đã nói với thực khách như thế trong một buổi tối vào tháng 1 năm 1941[1]. Lúc đó ông đang thảo luận về quan hệ quốc tế, nhưng câu đó cũng nhắm vào những sai lầm ngớ ngẩn về mặt kinh tế của các chính khách. Thực ra, những ngôn từ sáng suốt của Churchill cần phải được khắc lên tường của toà nhà nghị viện bang Michigan ở Lansing. Bang Michigan đang vật lộn với vấn đề buôn lậu thuốc lá. Buôn lậu và những tội phạm liên quan với nó đang là vấn đề đau đầu và ngày càng xấu hơn. Nhưng chính quyền bang chỉ nên tự trách mình. Michigan tạo ra vấn đề buôn lậu vào năm 1994, đấy là khi họ tăng thuế từ 25 xu một bao lên 75 xu một bao – nghĩa là tăng tới 200%[2]. Tăng thuế là nhằm tăng thu nhập bị mất do giảm thuế đánh vào tài sản và hạn chế việc hút thuốc lá. (Rõ ràng là có sức ép giữa hai mục tiêu). Thuế thậm chí không làm tăng thêm được số tiền mà người ta kì vọng[3]. Nhưng tăng thuế đã kích thích tệ buôn lậu thuốc lá. Do tăng giá bán lẻ mà thuốc lá ở Michigan đắt hơn thuốc lá ở những bang có thuế suất thấp hơn. Giá càng chênh lệch thì càng kích thích người ta mua ở chỗ rẻ hơn, rồi vận chuyển tới chỗ đắt hơn và bán mà không nộp thuế. Khi giá thuốc lá của người buôn lậu rẻ hơn giá thuốc lá hợp pháp (do thuế khóa mà ra), anh ta sẽ có người mua. Khi thuế môn bài thấp, lợi nhuận của người buôn lậu cũng thấp và vì vậy mà không đáng làm. Nhưng khi thuế muôn bài cao, khác biệt về giá cả giữa các vùng miền cũng sẽ cao. Do đó, muốn ngăn chặn nạn buôn lậu thuốc lá thì trước hết phải sửa đổi thuế suất. Cảnh báo của lịch sử  Đấy là tất cả vấn đề. Người ta tự hỏi vì sao những người chủ trương tăng thuế không biết điều đó. Nhưng điều làm cho những đau khổ của Michigan trở thành khủng khiếp lại đã được lịch sử cảnh báo nhiều lần về những điều sẽ xảy ra nếu bang này tăng thuế môn bài đối với thuốc lá. Hai thế kỉ trước,...

Read More
Review sách: ‘Cảm tình viên’
May13

Review sách: ‘Cảm tình viên’

Phương Hoàng chuyển ngữ, CTV Phía Trước Helen Clark, Tạp chí Diplomat Người chiến thắng năm nay của giải thưởng Pulitzer cho tiểu thuyết chắc chắn đã hé lộ một vài vấn đề mới mẻ. Giải Pulitzer năm nay cho tiểu thuyết được trao cho một ứng viên ít ai ngờ đến: The Sympathizer (Tạm dịch: Cảm tình viên) của Nguyễn Thanh Việt, câu chuyện về một gián điệp cộng sản Việt Nam cùng vị tướng (tổng tư lệnh) chuyển từ quân đội miền Nam Việt Nam đến California sau sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn. Như cách người kể chuyện vô danh là Đại úy nói ngay lúc bắt đầu: Tôi là một gián điệp, một người đang ngủ, một tên quỷ, một người có hai khuôn mặt, The Sympathizer là câu chuyện của nhiều vai diễn. Nguyễn, Phó Giáo sư chuyên ngành Anh, Mĩ và Dân tộc học của Đại học Nam California trả lời thành thật trong cuộc phỏng vấn với tờ The Guardian, “Cuốn sách của tôi có những điều khiến mọi người bất bình”. Người kể chuyện của tác giả, đứa con ngoài giá thú của một thiếu nữ Việt Nam bình thường với một linh mục Pháp, được nhấn mạnh ở khả năng lớn nhất của anh ta là nhìn nhận bất cứ thứ gì từ cả hai phía. Những năm qua, lượng sách viết về Chiến tranh Việt Nam vô cùng đa dạng, phong phú. Matterhorn, viết từ quan điểm của một người lính Hoa Kì, được phát hành nhằm đưa ra những bình luận xuất sắc chỉ trong vài năm trước đây. Tuy vậy, một số ít bắt nguồn từ quan điểm của người Việt đã được công bố ở phương Tây. Lấy The Sorrow of War (Nỗi buồn chiến tranh) của Bảo Ninh hoặc cuốn nhật kí được khôi phục lại của bác sĩ quân y Tran Le Thuy, Last night I dreamed of Peace (Đêm qua tôi mơ thấy hòa bình) làm ví dụ: Cả hai đều chỉ được viết từ cách nhìn của người miền Bắc trong cuộc chiến và đều được yêu thích, tung hô; song lại có số lượng độc giả ít ỏi khi chuyển ngữ sang tiếng Anh. Tuy nhiên,  những gì được kể lại từ một người kể chuyện có thể nhìn thấy cả hai mặt của cuộc nội chiến Việt Nam dài đằng đẵng lại là những điều mới mẻ. The Sympathizer đề cập đến nhiều vấn đề phức tạp, từ cuộc sống của một gián điệp cảm thấy có cảm tình với những người anh ta đang buộc phải theo...

Read More
Bàn về cấm đoán trong kinh tế
May12

Bàn về cấm đoán trong kinh tế

Phạm Nguyên Trường dịch John Meadowcroft, Institute of Economic Affairs Mại dâm[1] Dẫn nhập Mại dâm là cung ứng dịch vụ tình dục để lấy tiền[2]. Mặc dù mại dâm không có mặt trong tất cả các xã hội mà ta từng biết, nhưng nó là thực tiễn đã từng tồn tại trên tất cả các các châu lục trong hàng ngàn năm và trong những nền văn hóa khác nhau và vì vậy mà đã được mệnh danh là “nghề lâu đời nhất thế giới”. Người bán dâm có thể là đàn ông hay đàn bà, mặc dù dân chúng và các học giả quan tâm nhiều nhất đến việc bán dâm của đàn bà cho đàn ông. Đấy là điều không đáng ngạc nhiên vì hiện tượng mại dâm đàn bà-đàn ông chiếm phần chủ yếu trong quan hệ tình dục mang tính thương mại, mặc dù hiện tượng mại dâm đồng tính nam cũng khá thịnh hành, cũng như mại dâm đàn ông-đàn bà và mại dâm đồng tính nữ nữa (Diana, 1985; Perkins and Bennett, 1985; Ringdal, 2004). Vì vậy, Ericsson (1980: 349) nhận xét rằng “Đáng lẽ phân đều giữa hai giới thì mại dâm lại có đặc điểm là có khá nhiều người bán dâm là đàn ông, còn số khách hàng là nữ giới lại tương đối ít”. Mặc dù là hiện tượng phổ biến, nhưng tại nhiều nước trên thế giới, mại dâm vẫn bị coi là phi pháp, còn ở những nơi mà nó được coi là hợp pháp thì nhiều hoạt động cần thiết cho mại dâm lại bị coi là phi pháp. Bài này khẳng định rằng cấm đoán mại dâm và những biện pháp khác của chính phủ nhằm ngăn chặn thị trường dịch vụ tình dục là vi phạm những quyền căn bản của công dân và là chính sách xã hội tồi dở. Thứ nhất, việc ngăn chặn như thế là vi phạm quyền căn bản của cá nhân trong việc tự do quan hệ tình dục với đối tác mà họ lựa chọn; nhà nước tìm cách ngăn chặn đàn ông và đàn bà trưởng thành tìm kiếm đối tác tình dục là việc làm vô đạo đức. Thứ hai, họ tạo ra thêm chi phí cho người bán dâm, cho khách hàng của họ và xã hội nói chung. Sau phần dẫn nhập, bài này sẽ trình bày những thị trường mại dâm trong xã hội đương thời và ba hệ thống pháp luật thường thấy trong việc quản lí hiện tương mại dâm. Sau đó sẽ trình bày những luận cứ căn...

Read More
Tại sao chủ nghĩa đa văn hoá lại thất bại? (II)
May09

Tại sao chủ nghĩa đa văn hoá lại thất bại? (II)

Thanh Bình chuyển ngữ, CTV Phía Trước Kenan Malik, Foreign Affairs Thất bại của chủ nghĩa đa văn hoá trong cộng đồng và xã hội ở châu Âu Xem thêm: Phần I *** Chủng tộc là hàng đầu Cho dù việc châu Âu đương thời có thực sự đa dạng hơn thế kỷ 19 hay không vẫn là một chủ đề cho các cuộc tranh cãi thì việc người châu Âu cảm nhận châu Âu đa dạng hơn lại là một vấn đề không cần phải bàn thêm. Có lẽ điều này là do sự thay đổi trong nhận thức của người châu Âu về sự khác biệt xã hội. Khoảng 150 năm trước cấu trúc tầng lớp xã hội quan trọng hơn bây giờ rất nhiều trong việc hiểu về tương tác xã hội. Tuy nhiên, đến giờ thật khó để hiểu tại sao lại như vậy. Nhiều người lúc đó nhìn nhận phân biệt chủng tộc không phải dựa trên sự khác nhau về màu da mà là về tầng lớp và vị trí xã hội. Hầu hết các nhà tư tưởng thế kỷ 19 có cảm giác lo ngại không phải với những người lạ vượt qua biên giới để bước vào nước họ mà với những người trên chính đất nước họ đang sống trong những khu tối tăm. Một trong những điều bí ẩn thịnh hành trong giới chính trị châu Âu là các chính phủ chấp nhận các chính sách đa văn hóa bởi vì các dân tộc thiểu số muốn sự khác biệt của họ được thừa nhận. Trải qua vài thập kỷ gần đây, tuy nhiên, sự phân loại tầng lớp lại không còn quan trọng ở châu Âu, cả trong phân loại chính trị và và phân tầng xã hội. Cùng trong thời gian đó, văn hóa lại ngày càng trở nên quan trọng trong nhận thức về sự khác biệt xã hội. Và xu thế đó ngày càng lan rộng. Tư tưởng phân hóa dựa trên các đặc tính chính trị mà phổ biến cách đây 200 năm ngày càng bị thu hẹp và cách phân biệt cũ giữa cánh tả và cánh hữu ngày càng ít ý nghĩa hơn. Khi mà tầng lớp lao động mất dần sức mạnh về kinh tế chính trị, thì sẽ dẫn đến sự giảm sút của các tổ chức lao động cũng như tư tưởng tập thể. Trong khi đó, thị trường ngày càng mở rộng, đi vào tất cả các ngóc ngách của đời sống xã hội. Các cơ quan đoàn thể mà có chức năng đoàn kết các cá thể...

Read More
Châu Á ở Washington
May06

Châu Á ở Washington

Hoàng Dương chuyển ngữ, CTV Phía Trước Theo The Brookings Institution Khám phá nửa tối của Quyền lực xuyên quốc gia Washington là một điểm nhấn đặc biệt thú vị liên quan đến chủ đề nghiên cứu về các thành phố chính trị toàn cầu bởi nhiều lí do khác nhau. Lí do quan trọng nhất, tất nhiên, là vị trí địa lí của chính phủ quyền lực nhất thế giới. Tuy nhiên, nó còn là một trong những trung tâm quan trọng nhất trên thế giới về hoạt động chính sách đa phương. Không chỉ xây dựng trên sự vượt trội về năng lực của chính phủ Hoa Kỳ, Washington còn cung cấp hệ phân tích những thông tin đáng gờm, bao gồm cả các lời cố vấn có ảnh hưởng nhất. Như một hệ quả, được tăng cường bởi tính hợp pháp của quyền lực mềm của xã hội Mĩ và những giá trị Mĩ trên một thế giới toàn cầu. Sự vĩ đại của Washington đã nổi bật lên trong thời đại Internet như một trung tâm tổ chức các chương trình nghị sự ưu việt. Điều đó cũng đúng thậm chí trong cả các vấn đề – như phạm vi từ cuộc thảm sát người Armenia tiến hành bởi quân Thổ trong Thế chiến I, đến việc điều trị bệnh “Phụ nữ nhàn rỗi” (Comfort women) ở Đông Á trong suốt Thế chiến II, cho đến việc thanh lọc sắc tộc ở Darfur hiện nay – những việc đó hầu như không liên quan đến quan hệ song phương thông thường của Mĩ với thế giới hoặc, thực sự, thậm chí là không liên quan đến Hoa Kỳ xét như một thực thể địa chính trị. Bên trong Washington, vai trò của châu Á, dường như bị trái ngược với các khu vực khác trên toàn cầu, là một chủ đề đặc biệt quan trọng cho nghiên cứu, đặc biệt như một chủ đề trong nền kinh tế chính trị quốc tế đương đại. Về tính trọng yếu, châu Á đại diện cho hạt nhân của thế giới công nghiệp hóa không thuộc phương Tây; triển vọng chính trị – kinh tế của châu Á quyết định đến quyền hạn của các quốc gia không thuộc phương Tây để thách thức địa vị ưu việt lâu dài của phương Tây. Trừu tượng hơn, sự phát triển kinh tế xã hội nhanh chóng của châu Á đã dấy lên câu hỏi có nội dung quan trọng: Làm thế nào quyền lực kinh tế và ảnh hưởng địa chính trị được liên kết với nhau trong thế...

Read More
Tác phẩm ‘Cảm tình viên’ của Nguyễn Thanh Việt
Apr20

Tác phẩm ‘Cảm tình viên’ của Nguyễn Thanh Việt

Phạm Nguyên Trường dịch, văn việt Philip Caputo, New York Times Đất nước càng mạnh thì người dân càng có xu hướng coi nước mình là nhân vật chính trong những hoạt cảnh đôi khi nhốn nháo, nhưng thường là đầy bi thảm của lịch sử. Chúng ta là như thế, những công dân của một siêu cường, đã coi cuộc chiến tranh Việt Nam là một bi kịch của riêng nước Mỹ, trong đó,những vùng đất hừng hực của voi và hổ chỉ là bối cảnh còn người Việt Nam thì chỉ những diễn viên phụ. Quan điểm đó được phản ánh trong văn học – và Việt Nam từng là một cuộc chiến văn chương, nó đã tạo ra một thư viện khổng lồ các tác phẩm hư cấu và phi hư cấu. Trong tất cả những tác phẩm đó, bạn sẽ chỉ tìm thấy một ít (tác phẩm A Good Scent From a Strange Mountain của Robert Olen Butler xuất hiện trong đầu) với các nhân vật nói tiếng Việt. Hollywood còn dĩ Mỹ vi trung (coi Mỹ là trung tâm) hơn nữa. Trong những bộ phim như “Apocalypse Now” và “Platoon”, người Việt Nam (thường thì những người châu Á khác đóng vai người Việt) chỉ là những vai phụ, nhiệm vụ chính dường như chỉ là chết hoặc than khóc giữa những đống tro tàn của ngôi làng đã bị thiêu rụi. Điều đó đã đưa tôi đến với cuốn tiểu thuyết đầu tay tuyệt vời – “The Sympathizer” của Nguyễn Thanh Việt. Nguyễn, sinh ra ở Việt Nam nhưng lớn lên ở Hoa Kỳ, mang tới cho ta bức tranh đặc biệt về chiến tranh và hậu quả của nó. Cuốn sách của ông lấp đầy khoảng trống trong văn học, cho những người trước đây chưa có tiếng nói lên tiếng, trong khi buộc những người còn lại trong chúng ta nhìn vào các sự kiện cách đây 40 năm với ánh sáng mới. Nhưng cuốn tiểu thuyết bi hài kịch này vượt ra ngoài bối cảnh lịch sử, đủ sức rọi sáng chủ đề phổ quát hơn: quan niệm sai lầm và sự hiểu lầm liên tục giữa Đông và Tây, và tình trạng tiến thoái lưỡng nan về đạo đức mà người ta buộc phải lựa chọn không phải giữa đúng và sai, mà giữa hai cái đúng. Nhân vật chính là một người vô danh – người kể chuyện, một nhân vật đáng nhớ dù nặc danh, là một người Việt đã Mỹ hóa với một trái tim và tâm trí bị phân chia. Tài khéo của Nguyễn trong...

Read More
Lời giới thiệu tác phẩm Luật Pháp của Walter E. Williams
Apr15

Lời giới thiệu tác phẩm Luật Pháp của Walter E. Williams

Phạm Nguyên Trường dịch Khi in tác phẩm Luật Pháp Frederic Bastiat, Nhà xuất bản Tri Thức đã cắt bớt một đoạn trong lời giới thiệu của Walter E. Williams. Đây là bản đầy đủ. *** Phải đến năm bốn mươi tuổi tôi mới đọc tác phẩm kinh điển Luật Pháp của Frerderic Bastiat . Tôi mãi mãi mang ơn, một người mà tôi không biết tên, đã gửi cho tôi cuốn sách này. Sau khi đọc, tôi tin rằng chưa đọc Bastiat thì hiểu về tự do vẫn còn chưa thể nói là trọn vẹn. Đọc Bastiat khiến tôi nhận thức sâu sắc về khoảng thời gian lãng phí, cùng những thất vọng về quá trình lạc lối giữa những con đường không lối thoát khi đi tìm triết lí cho cuộc đời mình. Đối với tôi, tác phẩm Luật Pháp không tạo ra sự chuyển biến về mặt triết học nhiều như nó từng tạo lập trật tự trong suy nghĩ của tôi về tự do và cách hành xử đúng đắn của con người. Nhiều nhà triết học đã có những đóng góp quan trọng vào cuộc thảo luận về tự do, Bastiat nằm trong số đó. Nhưng đóng góp lớn nhất của ông là đã đưa cuộc thảo luận ra khỏi tháp ngà và làm cho tư tưởng về tự do trở nên rõ ràng đến mức ngay cả những người không biết chữ cũng có thể hiểu, còn những người sùng bái nhà nước thì không thể che giấu được. Rõ ràng, việc thuyết phục nhân dân về tính ưu việt trên phương diện đạo đức của tự do cá nhân là công việc cực kì quan trọng. Giống như nhiều người, Bastiat cho rằng chính phủ là mối đe doạ lớn nhất đối với tự do. Xin lưu ý sự mạch lạc trong ngôn ngữ của ông, nó giúp chúng ta nhận ra và hiểu những hành động xấu xa của chính phủ được hợp pháp hóa. Bastiat viết: “Chỉ cần xem luật pháp có lấy những cái thuộc về một số người nào đó và đem cho những người mà chúng không thuộc về. Chỉ cần xem luật pháp có làm lợi cho công dân này mà công dân khác phải trả giá bằng cách làm cái điều mà tự người công dân kia không thể làm mà không phạm tội”. Với cách mô tả chính xác như thế về hành động xấu xa được hợp pháp hóa, chúng ta không thể không kết luận rằng hầu hết các hoạt động của chính phủ, trong đó có chính phủ của chúng ta,...

Read More
1956- 2016: kỷ niệm 60 năm Giai phẩm, Nhân văn
Mar23

1956- 2016: kỷ niệm 60 năm Giai phẩm, Nhân văn

Đặng Tiến, diễn đàn Orléans, ngày 24-3-2007 Hiệu đính 07- 3- 2016 Trích từ Book Hunter LTS. Rất nhiều sách báo đã viết về vụ đàn áp những văn nghệ sĩ chủ trương tạp chí “Nhân văn” và các “Giai phẩm” văn thơ ở Miền Bắc Việt Nam năm 1956, tới nay là đúng 60 năm. Góc cạnh chủ yếu trong phần lớn các bài viết là sự đàn áp trí thức trong một chế độ toàn trị. Điều này không sai, và bài viết mà chúng tôi đăng lại mới đây của nhà văn Lê Hoài Nguyên, tên thật là Thái Kế Toại, nguyên Đại tá công an, công tác tại A25 (chuyên theo dõi văn nghệ sĩ và văn hóa), nhấn mạnh tới khía cạnh  “NVGP trước hết là một trào lưu tư tưởng, một cuộc cách mạng văn học đòi hỏi dân chủ hóa ở miền Bắc Việt Nam năm 1954-1960” góp thêm những chứng từ trong chiều hướng đó của một người trong bộ máy. Tuy nhiên, có phải đó là khía cạnh duy nhất (hay duy nhất đáng lưu ý) về vụ án văn học – chính trị này? Kinh nghiệm cho thấy ta luôn luôn cần cảnh giác với những thông điệp mà Đảng Công sản muốn đưa ra, nói một chuyện nhưng đằng sau lại ẩn giấu nhiều chuyện khác, thường là quan trọng hơn. Bài viết dưới đây của Đặng Tiến phân tích vụ án dưới một “góc nhìn khác” (mượn chữ của nhà báo Trương Duy Nhất), gợi cho người đọc những câu hỏi lý thú liên quan tới cuộc tranh giành quyền lực ở chóp bu ĐCSVN, những câu hỏi không phải không liên quan tới tình hình đất nước hiện nay. Bài viết đã được đăng trên mạng Talawas năm 2007, tác giả hiệu đính lại và gửi Diễn Đàn nhân kỉ niệm 60 năm vụ án. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc. *** Giai phẩm và Nhân văn là tên hai ấn phẩm khác nhau. Giai phẩm là một tuyển tập thơ văn, phát hành đầu năm 1956 tại Hà Nội, ra được năm kỳ; Nhân văn là một tờ báo không định kỳ, xuất bản cuối 1956, ra được 5 số. Nhiều người có tên trong tuyển tập trước hợp tác với tờ báo sau. Nhưng cụm từ “Nhân văn Giai phẩm” ta thường nghe, tự thân nó là một thành ngữ vô nghĩa. Báo Nhân Văn và Giai phẩm 1956 Đảng quyền Hà Nội, cuối năm 1956 đã gôm hai tên lại với nhau thành một bản án văn học và chính trị. Thời đó “bọn“, “phần tử ” Nhân văn-Giai phẩm là một lời buộc tội nặng nề. Nhưng đồng thời ở miền...

Read More
%d bloggers like this: