Tác phẩm ‘Cảm tình viên’ của Nguyễn Thanh Việt
Apr20

Tác phẩm ‘Cảm tình viên’ của Nguyễn Thanh Việt

Phạm Nguyên Trường dịch, văn việt Philip Caputo, New York Times Đất nước càng mạnh thì người dân càng có xu hướng coi nước mình là nhân vật chính trong những hoạt cảnh đôi khi nhốn nháo, nhưng thường là đầy bi thảm của lịch sử. Chúng ta là như thế, những công dân của một siêu cường, đã coi cuộc chiến tranh Việt Nam là một bi kịch của riêng nước Mỹ, trong đó,những vùng đất hừng hực của voi và hổ chỉ là bối cảnh còn người Việt Nam thì chỉ những diễn viên phụ. Quan điểm đó được phản ánh trong văn học – và Việt Nam từng là một cuộc chiến văn chương, nó đã tạo ra một thư viện khổng lồ các tác phẩm hư cấu và phi hư cấu. Trong tất cả những tác phẩm đó, bạn sẽ chỉ tìm thấy một ít (tác phẩm A Good Scent From a Strange Mountain của Robert Olen Butler xuất hiện trong đầu) với các nhân vật nói tiếng Việt. Hollywood còn dĩ Mỹ vi trung (coi Mỹ là trung tâm) hơn nữa. Trong những bộ phim như “Apocalypse Now” và “Platoon”, người Việt Nam (thường thì những người châu Á khác đóng vai người Việt) chỉ là những vai phụ, nhiệm vụ chính dường như chỉ là chết hoặc than khóc giữa những đống tro tàn của ngôi làng đã bị thiêu rụi. Điều đó đã đưa tôi đến với cuốn tiểu thuyết đầu tay tuyệt vời – “The Sympathizer” của Nguyễn Thanh Việt. Nguyễn, sinh ra ở Việt Nam nhưng lớn lên ở Hoa Kỳ, mang tới cho ta bức tranh đặc biệt về chiến tranh và hậu quả của nó. Cuốn sách của ông lấp đầy khoảng trống trong văn học, cho những người trước đây chưa có tiếng nói lên tiếng, trong khi buộc những người còn lại trong chúng ta nhìn vào các sự kiện cách đây 40 năm với ánh sáng mới. Nhưng cuốn tiểu thuyết bi hài kịch này vượt ra ngoài bối cảnh lịch sử, đủ sức rọi sáng chủ đề phổ quát hơn: quan niệm sai lầm và sự hiểu lầm liên tục giữa Đông và Tây, và tình trạng tiến thoái lưỡng nan về đạo đức mà người ta buộc phải lựa chọn không phải giữa đúng và sai, mà giữa hai cái đúng. Nhân vật chính là một người vô danh – người kể chuyện, một nhân vật đáng nhớ dù nặc danh, là một người Việt đã Mỹ hóa với một trái tim và tâm trí bị phân chia. Tài khéo của Nguyễn trong...

Read More
Lời giới thiệu tác phẩm Luật Pháp của Walter E. Williams
Apr15

Lời giới thiệu tác phẩm Luật Pháp của Walter E. Williams

Phạm Nguyên Trường dịch Khi in tác phẩm Luật Pháp Frederic Bastiat, Nhà xuất bản Tri Thức đã cắt bớt một đoạn trong lời giới thiệu của Walter E. Williams. Đây là bản đầy đủ. *** Phải đến năm bốn mươi tuổi tôi mới đọc tác phẩm kinh điển Luật Pháp của Frerderic Bastiat . Tôi mãi mãi mang ơn, một người mà tôi không biết tên, đã gửi cho tôi cuốn sách này. Sau khi đọc, tôi tin rằng chưa đọc Bastiat thì hiểu về tự do vẫn còn chưa thể nói là trọn vẹn. Đọc Bastiat khiến tôi nhận thức sâu sắc về khoảng thời gian lãng phí, cùng những thất vọng về quá trình lạc lối giữa những con đường không lối thoát khi đi tìm triết lí cho cuộc đời mình. Đối với tôi, tác phẩm Luật Pháp không tạo ra sự chuyển biến về mặt triết học nhiều như nó từng tạo lập trật tự trong suy nghĩ của tôi về tự do và cách hành xử đúng đắn của con người. Nhiều nhà triết học đã có những đóng góp quan trọng vào cuộc thảo luận về tự do, Bastiat nằm trong số đó. Nhưng đóng góp lớn nhất của ông là đã đưa cuộc thảo luận ra khỏi tháp ngà và làm cho tư tưởng về tự do trở nên rõ ràng đến mức ngay cả những người không biết chữ cũng có thể hiểu, còn những người sùng bái nhà nước thì không thể che giấu được. Rõ ràng, việc thuyết phục nhân dân về tính ưu việt trên phương diện đạo đức của tự do cá nhân là công việc cực kì quan trọng. Giống như nhiều người, Bastiat cho rằng chính phủ là mối đe doạ lớn nhất đối với tự do. Xin lưu ý sự mạch lạc trong ngôn ngữ của ông, nó giúp chúng ta nhận ra và hiểu những hành động xấu xa của chính phủ được hợp pháp hóa. Bastiat viết: “Chỉ cần xem luật pháp có lấy những cái thuộc về một số người nào đó và đem cho những người mà chúng không thuộc về. Chỉ cần xem luật pháp có làm lợi cho công dân này mà công dân khác phải trả giá bằng cách làm cái điều mà tự người công dân kia không thể làm mà không phạm tội”. Với cách mô tả chính xác như thế về hành động xấu xa được hợp pháp hóa, chúng ta không thể không kết luận rằng hầu hết các hoạt động của chính phủ, trong đó có chính phủ của chúng ta,...

Read More
1956- 2016: kỷ niệm 60 năm Giai phẩm, Nhân văn
Mar23

1956- 2016: kỷ niệm 60 năm Giai phẩm, Nhân văn

Đặng Tiến, diễn đàn Orléans, ngày 24-3-2007 Hiệu đính 07- 3- 2016 Trích từ Book Hunter LTS. Rất nhiều sách báo đã viết về vụ đàn áp những văn nghệ sĩ chủ trương tạp chí “Nhân văn” và các “Giai phẩm” văn thơ ở Miền Bắc Việt Nam năm 1956, tới nay là đúng 60 năm. Góc cạnh chủ yếu trong phần lớn các bài viết là sự đàn áp trí thức trong một chế độ toàn trị. Điều này không sai, và bài viết mà chúng tôi đăng lại mới đây của nhà văn Lê Hoài Nguyên, tên thật là Thái Kế Toại, nguyên Đại tá công an, công tác tại A25 (chuyên theo dõi văn nghệ sĩ và văn hóa), nhấn mạnh tới khía cạnh  “NVGP trước hết là một trào lưu tư tưởng, một cuộc cách mạng văn học đòi hỏi dân chủ hóa ở miền Bắc Việt Nam năm 1954-1960” góp thêm những chứng từ trong chiều hướng đó của một người trong bộ máy. Tuy nhiên, có phải đó là khía cạnh duy nhất (hay duy nhất đáng lưu ý) về vụ án văn học – chính trị này? Kinh nghiệm cho thấy ta luôn luôn cần cảnh giác với những thông điệp mà Đảng Công sản muốn đưa ra, nói một chuyện nhưng đằng sau lại ẩn giấu nhiều chuyện khác, thường là quan trọng hơn. Bài viết dưới đây của Đặng Tiến phân tích vụ án dưới một “góc nhìn khác” (mượn chữ của nhà báo Trương Duy Nhất), gợi cho người đọc những câu hỏi lý thú liên quan tới cuộc tranh giành quyền lực ở chóp bu ĐCSVN, những câu hỏi không phải không liên quan tới tình hình đất nước hiện nay. Bài viết đã được đăng trên mạng Talawas năm 2007, tác giả hiệu đính lại và gửi Diễn Đàn nhân kỉ niệm 60 năm vụ án. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc. *** Giai phẩm và Nhân văn là tên hai ấn phẩm khác nhau. Giai phẩm là một tuyển tập thơ văn, phát hành đầu năm 1956 tại Hà Nội, ra được năm kỳ; Nhân văn là một tờ báo không định kỳ, xuất bản cuối 1956, ra được 5 số. Nhiều người có tên trong tuyển tập trước hợp tác với tờ báo sau. Nhưng cụm từ “Nhân văn Giai phẩm” ta thường nghe, tự thân nó là một thành ngữ vô nghĩa. Báo Nhân Văn và Giai phẩm 1956 Đảng quyền Hà Nội, cuối năm 1956 đã gôm hai tên lại với nhau thành một bản án văn học và chính trị. Thời đó “bọn“, “phần tử ” Nhân văn-Giai phẩm là một lời buộc tội nặng nề. Nhưng đồng thời ở miền...

Read More
Tại sao làm việc lại dễ dàng hơn tình yêu rất nhiều?
Mar19

Tại sao làm việc lại dễ dàng hơn tình yêu rất nhiều?

Hương Ly chuyển ngữ, CTV Phía Trước Theo The Book of Life Chúng ta đang ở trong một nền văn hóa hòa hợp cao với những thứ đẹp đẽ và đầy xúc cảm về tình yêu; chúng ta biết những điểm mạnh và thể hiện cái ngây ngất của tình yêu trong những bộ phim và ca khúc. Thông thường, làm việc là một việc nặng nề, và có chút buồn chán – việc mà chúng ta phải làm để trả chi phí sinh sống. Và tuy nhiên những việc đang bãi công thường xảy ra, cho dù chúng thiếu sự say mê, trong thực tế những việc đó lại trở nên dễ dàng hơn, thú vị hơn và sau cùng lại là việc nhân đạo của cuộc sống. Có một số lý do sau đây: Đầu tiên: Bạn cần trở nên chuyên nghiệp Làm việc yêu cầu tất cả những người bước qua cánh cửa văn phòng phải ứng xử “một cách chuyên nghiệp”. Và việc ứng xử chuyên nghiệp cơ bản có nghĩa là những tình huống nơi mà bạn dễ dàng bị nổ tung, bị sỉ nhục, nguyền rủa đến phát khóc, và công việc đòi hỏi bạn phải tự xử lý bằng sự kiên nhẫn bình tĩnh lẫn thận trọng. Ở nơi làm việc, bạn không thể thực sự “là chính mình” cũng như những người xung quanh mình – điều này nghe có vẻ hơi giả tạo và do đó dẫn đến giả dối và không thật, tuy nhiên thì sự thiếu trung thực trong thực tế có thể là một sự phát triển vô cùng đáng hoan nghênh sau khi chúng ta dành thời gian ở môi trường nơi mọi người cảm thấy nhiệm vụ của họ trở nên hoàn toàn chân thật, đúng với những tâm trạng và lo âu bên trong họ. Thứ hai: Bạn được đào tạo Giả định hầu hết các công việc mà những người bắt đầu làm nó không biết những tiểu tiết đầu về việc đó. Bạn không thể hy vọng mình sẽ biết về máy móc hay những cách thức làm việc chỉ thông qua trực giác của mình – và vì thế bạn được gửi đến những chương trình đào tạo và có được những tài liệu chỉ dẫn rộng hơn để tìm hiểu. Có lẽ sẽ mất hai năm trước khi bạn có thể hiểu mọi thứ một cách rõ ràng. Không có những sự xa xỉ như vậy cho những đôi tình nhân, những người “có” được một người khác bởi bản năng tức thì và lấy nhận thức nhanh nhạy làm...

Read More
Năm nền dân chủ đang lên
Mar12

Năm nền dân chủ đang lên

An Võ chuyển ngữ, CTV Phía Trước Theo Viện Nghiên cứu Brookings Năm quốc gia có thể quyết định số phận trật tự của nền dân chủ và nhân quyền toàn cầu. Bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi dưới tác động mạnh mẽ của dân chủ và quyền con người trong ba thập kỉ. Năm 1989, trong 69 nước được xếp vào dân chủ tuyển cử, trung bình dân số một nước là khoảng 2 triệu người. Đến này, con số đó gần gấp đôi lên tới 4 triệu người mỗi nước trên tổng số 125 nền dân chủ. Những cải cách chính trị ở Phillippines, Chile, Hàn Quốc và Mexico đã tiếp thêm hy vọng cho một trật tự tự do mới trên nguyên tắc dân chủ, hòa bình và phát triển cho toàn thế giới. Tuy nhiên, gần đây sự chuyển dịch đối trọng quyền lực đang lung lay nền tảng của trật tự tự do ấy, đồng thời cũng ngăn cản những phong trào ủng hộ dân chủ và quyền con người. Nhiều nền dân chủ trờ thành nạn nhân cho chế độ a-pác-thai, phân cực, và chủ nghĩa dân tộc, trong khi nhiều quốc gia khác đang trượt dài khỏi dân chủ tự do. Những nỗ lực hợp tác của cộng đồng quốc tế để bảo vệ và mở rộng chiến thắng hậu Chiến tranh Lạnh trở nên mờ nhạt khi mà Trung Quốc, Nga và các quốc gia độc tài khác khăng khăng bám lấy con đường phát triển mà không có tự do. Trong quyển sách mới, năm nền dân chủ đang lên và tương lai của trật tự tự do quốc tế, nghiên cứu sinh Viện Brookings, Ted Piccone tập trung vào năm quốc gia hiện đang có nhiều chuyển biến nhất – bao gồm Ấn Độ, Brazil, Nam Phi, Thỗ Nhĩ Kì và In-đô-nê-si-a. Ông cho rằng năm quốc gia trên là những tấm gương và nhà ủng hộ điển hình cho những ý tưởng và hành động tự do. Theo Piccone, những ngôi sao này nổi lên vì chuyển đổi từ chính phủ độc tài sang một hệ thống nhà nước đại diện và cởi mở hơn, vì tiến bộ đáng ghi nhận trong cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân; và vì một dân số đa dạng. Quá trình toán cầu hóa cũng như quá trình tự do mà họ nắm bắt đã có những ảnh hưởng trực tiếp và tích cực tới định hướng phát triển kinh tế và chính trị. Sự đổi mới diễn ra ở 5 nền dân chủ với dân số...

Read More
Lộ trình tới tự do
Mar05

Lộ trình tới tự do

Trường Sơn chuyển ngữ, CTV Phía Trước Tác giả sách: John Campbell, Grzegorz Ekiert, Joshua Kurlantzick, Shannon K. O’Neil, Carlos Pio, George Soroka, Jan Teorell & Andrew Wilson, CFR Công bố ngày 7 tháng 1 năm 2016 Bài học Chính trị và Kinh tế từ những Tiến trình Dân chủ hóa Trong ba năm qua, thế giới đã chứng kiến ​​không ít tiến trình dân chủ bén rễ trên khắp vùng Trung Đông và châu Á. Hàng triệu người bị áp bức ở các nước từng cai trị bởi chế độ chuyên chế giờ đang đấu tranh vì viễn cảnh tự do và công bằng về cơ hội. Và còn nhiều quốc gia khác trên thế giới giờ cũng cận kề quá trình chuyển đổi để xã hội của họ được tự do và cởi mở hơn. Xem thêm phần tóm lược tại đây. Những phong trào vì quyền tự do chính trị và sự thịnh vượng của quốc gia chỉ có thể kết trái ở thời điểm nền dân chủ có vẻ mờ nhạt, các chuyên gia như Larry Diamond, với công trình Tinh thần của Dân chủ (Spirit of Democracy), và Joshua Kurlantzick, với tác phẩm Khi Dân chủ phải lùi bước (Democracy in Retreat), đã lưu ý. Sau sự sụp đổ của Bức tường Berlin, nhu cầu dân chủ trỗi dậy, trở thành một làn sóng đầy sức mạnh trong những năm đầu của thế kỷ XXI với những cuộc “cách mạng màu” ở các nước từng thuộc Khối Sô-viết. Nhưng sau đó, chính nền dân chủ từng trỗi dậy tại Đông Âu, châu Phi và Mỹ Latinh lại suy kiệt hoặc thậm chí xuống dốc, những thể chế dân chủ ấy trở nên thật mong manh trước những thách thức quản lý tiềm tàng đầy bất trắc. Việc nước Mỹ thất bại trong nỗ lực xây dựng nền dân chủ ở Iraq và Afghanistan, và quá trình tăng trưởng kinh tế của một nước Trung Quốc độc đoán tiếp tục bào mòn những niềm tin về tính tất yếu và niềm khát vọng dân chủ hóa. Như báo cáo của Freedom House về tiến trình tự do hóa của thế giới năm 2013, mức độ tự do hóa trên toàn cầu tiếp tục suy giảm trong năm thứ bảy liên tiếp. Các học giả dân chủ nổi tiếng giờ đang bắt đầu cảnh báo về “Đà suy thoái dân chủ”. Nếu thành công, những tiến trình dân chủ còn non trẻ ở Tunisia, Ai Cập, Libya và Miến Điện, cùng những nỗ lực hướng tới tự do ở các nước như Georgia, Bờ Biển Ngà,...

Read More
Chiến thắng của Thành thị – Chương 1 (III)
Feb27

Chiến thắng của Thành thị – Chương 1 (III)

Trường Sơn chuyển ngữ, CTV Phía Trước Xem thêm: Giới thiệu sách: Chiến thắng của Thành thị Chúng ta là giống loại thành thị – Phần I – Phần II – Phần III Chương I: Họ đã làm được gì ở Bangalore? (Phần I) Chương I: Thương cảng của Trí tuệ: Thành Athens (Phần II) Baghdad – Ngôi nhà của sự Hiền minh Ở kinh thành Athens của thế kỷ V trước CN và thành phố New York của thế kỷ XX, các nhà tư tưởng độc lập tạo ra sự đổi mới bằng quá trình cạnh tranh và hợp tác trong một thị trường ý tưởng tự do. Nhưng trong thế giới Hồi giáo, những người cai trị kiến tạo hoạt động kết nối trí tuệ thông qua những sắc lệnh hoàng gia. Nhà nước Hồi giáo Abbasid lập thủ đô của họ ở Baghdad, cách Babylon cổ đại khoảng năm mươi dặm về phía bắc, và họ muốn trang điểm cho thành phố mới bằng những tuyệt tác về trí tuệ và thể chất. Họ đã tập hợp những học giả như thể đồ trang sức, nhưng sau cùng, vẫn có rất đông học giả tập trung trong Ngôi nhà của sự Hiền minh, một loại hình tổ chức nghiên cứu với trách nhiệm trên hết là kết tập tri thức của thế giới và dịch sang tiếng Ả Rập. Giữa rất nhiều công trình có giá trị, nhóm học giả này đã dịch Cách ngôn của Hippocrates, Cộng hòa của Plato, Vật lý của Aristotle, Cựu Ước, và cả Sindhind, một bản tóm tắt các kiến ​​thức toán học Ấn Độ. Vào đầu thế kỷ IX, Muhammad al–Khwarizmi đã sử dụng tri thức từ Sindhind để phát triển môn đại số, cũng chính ông đã định ra cái tên này. Al–Khwarizmi cũng mang chữ số Ấn Độ vào thế giới Ả Rập. Triết gia Yaqub al–Kindi đã viết một trong những chuyên luận đầu tiên về bảo vệ môi trường, và kiến giải triết lý Hy Lạp trong thế tương thích với thần học Hồi giáo. Kiến thức y khoa du nhập vào Baghdad từ Ba Tư; còn kỹ thuật làm giấy được đem đến bởi các tù nhân chiến tranh Trung Quốc. Trải qua hơn sáu thập kỷ vàng, một chuỗi sáng tạo đã khiến Baghdad trở thành trung tâm trí tuệ của Trung Đông và cũng có lẽ là của cả thế giới. Trong thời trung cổ, những hiểu biết của phương Đông chảy về phương Tây qua các thành phố của châu Âu. Venice, cổng phía đông của nước Ý, đã trở thành...

Read More
Chiến thắng của Thành thị – Chương 1 (II)
Feb20

Chiến thắng của Thành thị – Chương 1 (II)

Trường Sơn chuyển ngữ, CTV Phía Trước Xem thêm: Giới thiệu sách: Chiến thắng của Thành thị Chúng ta là giống loại thành thị – Phần I – Phần II – Phần III Chương I: Họ đã làm được gì ở Bangalore? (Phần I) Thương cảng của Trí tuệ: Thành Athens Ở thời điểm mà phải hơn 2.500 năm sau đấy, Ruban Phukan mới bắt đầu làm việc cho chi nhánh Bangalore của Yahoo!, những thành phố đã là cửa ngõ giao lưu của các nền văn hóa. Từ các cảng trên sông Pearl đến những thành phố dọc theo con đường tơ lụa, cũng như mọi trạm trung chuyển của những hoàng gia cổ đại khác, tất thảy đều khuyến khích những nhà lữ hành từ mọi nơi trên thế giới gặp nhau và trao đổi ý tưởng. Những điệu nhảy tuyệt vời của nền văn minh, chính là hành trình tri thức của nhân loại thuở nguyên sơ di chuyển từ Đông sang Tây và ngược lại, đã diễn ra chủ yếu ở vùng thành thị. Bangalore chỉ đơn giản là một trong những gương mặt mới của một truyền thống khiêu vũ bằng tuổi với lịch sử văn minh. Ở thế kỷ VI TCN, Athens hoàn toàn chưa phải là trung tâm trí tuệ của thế giới. Các nhà tư tưởng thú vị nhất của Hy Lạp cổ đại sống ở rìa của cộng đồng Hy Lạp ở Tiểu Á, nơi mà họ đã tiếp xúc và học hỏi từ những nền văn minh cổ xưa của vùng Cận Đông. Miletus, một vùng chuyên sản xuất len ở phía tây Thổ Nhĩ Kỳ, đã tạo ra nhà triết học đầu tiên của lịch sử triết học Hy – La, Thales, cũng như người cha đầu tiên của ngành quy hoạch đô thị châu Âu, Hippodamus, người đã kiến tạo mô hình đô thị cho những người La Mã và vô số các thành phố khác sau đấy. Athens đã trỗi dậy thông qua việc kinh doanh rượu, dầu ô liu, các loại gia vị, và giấy cói. Sau đấy, kinh thành này duy trì quyền lực bằng việc lãnh đạo cuộc kháng chiến của người Hy Lạp chống quân xâm lược Ba Tư, làn sóng xâm lăng đã tàn phá những nơi như Miletus. Cũng như cách thành phố New York phong phú, sôi nổi sau Đệ Nhị Thế chiến đã thu hút các nhà văn và họa sĩ từ châu Âu đầy vết thương, kinh thành Athens ở thế kỷ V trước CN đã lôi kéo những nhà tư tưởng kiệt xuất nhất từ vùng...

Read More
%d bloggers like this: