Nhà thơ Trần Tế Xương nghe chúc Tết và chúc Tết
Jan31

Nhà thơ Trần Tế Xương nghe chúc Tết và chúc Tết

Phan Thành Khương Trích từ Việt Văn Mới Trần Tế Xương (1870-1907) vừa là một nhà thơ trữ tình vừa là một nhà thơ trào phúng hàng đầu ở cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX. Chùm thơ Tết gồm 5 bài của ông thật đặc sắc. Ở 4 bài đầu, nhà thơ “nghe” thiên hạ chúc Tết và ở bài cuối – bài thứ 5 – nhà thơ chúc Tết thiên hạ. Vậy, thiên hạ chúc Tết những gì và nhà thơ non Côi sông Vị đã “nghe” những lời chúc đó ra làm sao, đã có thái độ như thế nào đối với những lời chúc tụng đó? Ở 4 bài thơ đầu, ta thấy tác giả đã sử dụng nghệ thuật trùng điệp: dòng đầu của cả 4 bài đều là “Lẳng lặng mà nghe nó chúc …”. Tại sao phải “lẳng lặng mà nghe”? Vì lời chúc nhỏ nhẹ, thì thầm, khó nghe? Theo tôi, không phải như vậy mà là vì “nó chúc nhau” loạn xạ, rùm beng, tùm lum, tranh nhau chúc, thi nhau chúc nên rất khó nghe, rất khó phân biệt. Vậy nên phải “lẳng lặng” thì mới “nghe” được, hiểu được. Và, lần lượt 4 bài thơ đầu với 4 nội dung được thiên hạ chúc nhau là: Một là thiên hạ “chúc nhau trăm tuổi”, chúc nhau sống lâu: “Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau: Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu. Phen này ông quyết đi buôn cối, Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu.” Chúc nhau trăm tuổi, chúc sống lâu thì rõ là chẳng có gì sai, chẳng có gì đáng chê trách. Từ cổ chí kim và từ Đông sang Tây, người ta đều mong ước được sống lâu, được sống thọ. Thậm chí, người ta còn có thể ảo tưởng: “vạn tuế”, “muôn năm”, “bất diệt”! Thực tế thì đã có sinh ắt có tử (chết). Và giả sử nếu không có tử (chết) thì cũng sẽ rắc rối vô cùng: không còn chỗ để đứng, không còn gì để ăn, không còn nước để uống, vân vân, … Mặt khác, nếu sống lâu mà có ích cho đời, cho người khác thì cũng nên, cũng cần. Nhưng nếu sống lâu để hại đời, gieo oan giá họa cho người thì ắt hẵn là chẳng nên, chẳng cần! Nhà thơ của chúng ta rõ ràng là không ưa lời chúc này. Ông hài hước hóa việc chúc sống lâu này bằng cụm từ “bạc đầu râu”. Nói “chúc nhau trăm tuổi bạc mái đầu” thì thấy nghiêm trang, chân thật. Nhưng...

Read More
Tính dân tộc độc đáo trong bài thơ “Đò Lèn” của Nguyễn Duy
Dec24

Tính dân tộc độc đáo trong bài thơ “Đò Lèn” của Nguyễn Duy

 Nguyên Khôi CTV Phía Trước Thơ Nguyễn Duy không đẩy đi quá xa đến bến bờ tượng trưng siêu thực như các thi sĩ Thơ mới, không tham vọng cách tân tới mức khó nắm bắt như thơ đương đại đang diễn ra. Theo tôi, Nguyễn Duy là một trong những thi sĩ hiếm hoi thể hiện một cách rất tự nhiên cảm xúc và ngôn từ thơ vừa đạt tính dân tộc vừa rất hiện đại. “Đò Lèn” là một trong những thi phẩm đáng nhắc đến nhất trong sự nghiệp sáng tác của ông. Bài thơ được chia thành hai phần. Cảm hứng nghệ thuật xoay quanh một hình tượng trung tâm: “bà tôi”. Thế nhưng hình tượng người bà của tác giả lại không được cảm nhận theo lối mòn truyền thống với những cảm xúc “tình thương mến thương” rưng rưng đã quá chìm lấp trong dàn đồng ca của nhiều người, nào là chịu thương chịu khó, nào là chung thủy, sắt son, anh hùng, tiết liệt. Bà của Nguyễn Duy vẫn là một người phụ nữ Việt Nam hội tụ những nét phẩm chất truyền thống, song bên cạnh đó tác giả còn có những khám phá bất ngờ, mà theo tôi, càng đọc, càng suy ngẫm lại thấy “xanh mặt”, “rợn người”, nhưng chính yếu tố đó mới làm nên chất dân tộc đậm đà, siêu việt trong thơ ông: Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá níu váy bà đi chợ Bình Lâm bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế bà mò cua xúc tép ở đồng Quan bà đi gánh chè xanh Ba Trại Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn Ba khổ thơ gợi lên kí ức tuổi thơ ngọt ngào của tác giả. Tuổi thơ ấy được thêu dệt bằng ba tuyến hình ảnh: Những trò chơi trẻ con (câu cá, níu váy bà đi chợ, bắt chim sẻ, ăn trộm nhãn, chơi đền, xem lễ đền); những hình ảnh gắn liền với đời sống tâm linh, tính ngưỡng linh thiêng nơi quên hương (vành tai tượng Phật, chùa Trần, đền Cây Thị, đền Sòng, mùi huệ trắng khói trầm, cô đồng); hình ảnh người bà cơ cực (mò cua bắt tép, gánh chè…). Ba tuyến hình ảnh ấy được soi rọi từ hai góc độ...

Read More
Bàn về chữ “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm để hiểu về đạo đức người trí thức Nho học ngày xưa
Nov23

Bàn về chữ “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm để hiểu về đạo đức người trí thức Nho học ngày xưa

Nguyên Khôi CTV Phía Trước Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trí thức Nho học lỗi lạc của Việt Nam ở thế kỉ XVI. Ông là một con người có khí tiết, có nhân cách và trí tuệ hơn người. Nhắc đến ông người ta thường nghĩ về triết lí sống “nhàn” như một kiểu phản ứng với thời thế nhiễu nhương đương thời. “Nhàn” là một phạm trù tư tưởng ăn sâu trong tâm thức các trí thữ Nho học người xưa, nhưng mỗi người có một cách thể hiện và xây dựng về triết lí ấy khác nhau. Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, cái “nhàn” ấy không thể bị hiểu nhầm hay lẫn lộn với bất kì ai. Một mai, một cuốc, một cần câu, Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao. Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. Rượu đến cội cây ta sẽ uống, Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao. Bài thơ này trích trong tập “Bạch Vân quốc ngữ thi”, nhan đề bài thơ do người đời sau đặt. Có thể nói từ thế kỉ XV trở đi, thơ Nôm của Việt Nam đã có những thành tựu, đủ sức giữ thế song hành cũng văn học chữ Hán. Các trí thức Nho học, bên cạnh sáng tác chữ Hán bao giờ cũng dành phần ưu ái cho các tác phẩm chữ Nôm. Nếu như Nguyễn Trãi có “Quốc âm thi tập” thì Nguyễn Bỉnh Khiêm có “Bạch Vân quốc ngữ thi. Khi viết thơ Nôm Đường luật, cả Nguyễn Trãi lẫn Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn có ý thức Việt hóa triệt để: Một mai, một cuốc, một cần câu, Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. Xét về mặt ngôn ngữ cũng như hình tượng thơ, thơ xưa, nhất là thơ Đường luật thiên về sử dụng những hình ảnh ước lệ, trang nhã hơn là những hình ảnh cụ thể, bình dị như mai, cuốc, cần câu. Số từ trong câu thơ trên cũng là con số thực chứ không phải là những con số ước lệ. Mai dùng để đào đất, cuốc dùng để xới đất, cần câu để câu cá. Đó là những nông cụ lao động dân dã của người nông dân. Với cách điệp số từ một…một…một, tạo nhịp điệu chậm rãi, câu thơ thể hiện tư thế sẵn sàng của Nguyễn Bỉnh Khiêm cho một cuộc sống bình dị, giản đơn. Có thể gọi đây là hiện tượng phá vỡ tính quy phạm và là một cách...

Read More
Một hướng tiếp cận bài thơ “Bảo kính cảnh giới” – số 43 của Nguyễn Trãi
Apr16

Một hướng tiếp cận bài thơ “Bảo kính cảnh giới” – số 43 của Nguyễn Trãi

 Hoàng Nam CTV Phía Trước “Bảo kính cảnh giới” – số 43 (hay còn được nhà biên soạn sách giáo khoa lớp 10 gọi là “Cảnh ngày hè”) là một trong những bài thơ Nôm thể hiện rõ nỗi niềm ưu dân, ái quốc của Nguyễn Trãi. Giá trị tư tưởng của bài thơ là điều ai cũng có thể nhận ra, song cái cách thể hiện tâm sự của tác giả trong bài thơ này không phải là một mẫu chung duy nhất. Đứng ở góc độ cảm thụ cá nhân, tôi có một hướng đề xuất cách cảm thụ khác mà tôi cho rằng nó có vẻ hợp với đặc trưng thẩm mĩ của văn học trung đại hơn. Xưa nay khi tiếp cận bài thơ này, thông thường người ta sẽ chia bố cục bài thơ thành hai phần. Sáu câu đầu được xem là phần tả cảnh thiên nhiên mùa hè. Hai câu thơ sau là tâm sự sâu kín của tác giả về khát vọng đem lại cuộc sống no ấm, thái bình thịnh trị cho nhân dân. Theo tôi, lối hiểu này cần xét lại. Bởi nếu như vậy sáu câu thơ đầu của Nguyễn Trãi sẽ sa vào lối tả chân, vịnh cảnh rất thường tình. Nhiều người cho rằng bài thơ bộc lộ sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi qua tình yêu và sự rung cảm tinh tế trước vẻ đẹp của thiên nhiên. Điều đó không sai nhưng nếu dựa vào quy luật tượng trưng của văn học trung đại thì nó khập khiễng quá. Và kết quả là, khi cảm thụ, chúng ta hay có những lối viết rất thật thà, “chân thiệt”: Mở đầu bài thơ là khung cảnh thiên nhiên thơ mộng… Hiện lên trong mắt nhà thơ là hình ảnh cây hòe đang căng tràn nhựa sống… Nhà thơ miêu tả một cách sinh động khung cảnh mùa hè… Tại sao tôi lại nói điều đó có vẻ ngô nghê? Văn học Trung đại xưa nay không có khái niệm miêu tả. Đó là từ diễn đạt theo cảm quan hiện đại sau này. Hoặc nếu có dùng từ này thì đừng hiểu một cách công thức là Nguyễn Trãi đang đi lòng vòng khu vườn mùa hè hay bắt ghế ngồi thơ thẩn ngắm cảnh rồi đặt bút ra viết… Tất cả những hình ảnh trong thơ cũng là hình ảnh của đời sống nhưng được sử dụng với tư cách là những biểu tượng được lựa chọn để phóng chiếu tư tưởng nhà văn. Hình ảnh của thiên nhiên trong thơ được...

Read More
Thu về
Sep01

Thu về

Ngân Giang Nguồn: thivien.net Hoa cúc gầy trôi, non vàng xa khơi.  Nắng hạ chóng tàn, hồ cũ muôn hương đã nhớ;  Tin thu đưa lại, ngô đồng một lá vừa rơi.  Rặng liễu bên đường, cái gió sang mùa heo hút;  Dòng sông trước cửa, trận mưa đổi tiết đầy vơi.  Sương thu lạnh áo, mây thu ngang trời.  Chốn đài trang bối rối ruột tằm, trăng thu muôn mảnh;  Ngoài quan ải xông pha vó ngựa, sầu thu đôi bờ.  Ai nhớ mỹ nhân xa, đâu một phương trời?  Ai nhớ cố nhân xa, chừng mấy ngàn khơi?  Ngọn cờ ai phấp phới?  Bóng thuyền ai chơi vơi?  Một kiếp giai nhân, sầu thu mấy độ?  Nghìn năm danh sĩ, cảm thu bao người?  Những gặp nhau bên dải Ngân Hà, duyên thượng giới;  Rồi biệt nhau ngang cầu Ô Thước, lại trần gian.  Bến Tầm Dương trăng nước một con thuyền, thương tình ca nữ;  Thềm Nguyệt điện xiêm y bao người múa, tiếc mộng quân vương.  Sông Xích Bích, sóng Tiền Đường.  Hoa hương mấy chuyến lạc loài, ngọn triều gieo ngọc;  Danh sĩ hai lần cảm hứng, chén rượu pha sương.  Lời đâu cẩm tú? Khúc đâu đoạn trường?  Trăm năm sử sách. Nghìn thu phấn hương… Phú Âu Dương ngâm xong mấy vận, thơ Thiếu Lăng viết trọn tám chương.  Lau lách đìu hiu, thu hứng cao dâng với khói;  Trời mây bàng bạc, thu thanh đồng vọng trong sương.  Gió đến ngại ngùng bên lữ quán, người về lững thững dưới tà dương. Lại nữa:  Lợi danh vướng mắt, về thôi, vườn nở hoa vàng;  Thơ rượu qua ngày, say đấy, hương bay lối trúc.  Chớm quạnh hơi thu, hồ rơi tiếng móc.  Người quốc sĩ canh gà đợi sáng, lưỡi thép mài trăng;  Khách cung nhân vườn ngự chờ vua, hàng mi rơi ngọc.  Gấp hải hồ, ngọn gió vừa lên!  Vội kim chỉ, tin sương đã giục.  Thôn cũ thanh bình, trời xa ngang dọc.  Còn mãi kiếm cung, dám buồn tơ tóc.  Mây thu lạnh dòng nước Cấm Khê, bừng dòng chính khí;  Khói thu mờ đáy hồ Lãng Bạc, ngát dòng hương liên.  Đền nghĩa chị, rời thềm khuê các;  Trả thù chồng, thẳng đất Long Biên.  Chém tướng giặc, đuổi quân về ải Bắc;  Mặc áo tang, rơi lệ ngự ngai vàng.  Rồi ba thu, cờ anh thư phấp phới đất Mê Linh cỏ cây hoan lạc;  Để một sớm gươm danh tướng ngang trời Giao Chỉ, non nước oan khiên.  Trùng trùng sông nước;  U uất thuyền quyên.  Đã mấy thu rồi, trăng ngời tiết liệt;  Còn bao...

Read More
Thờ ơ
Aug12

Thờ ơ

Ở đời luôn vẫn vậy. Cái tốt đẹp có nhiều. Cái xấu xa không ít. Nhưng phải nói một điều, Rằng còn có cái khác, Có hàng ngày, hàng giờ, Ác hơn cả cái ác, Đó là sự thờ ơ. Thờ ơ với cái thiện, Thờ ơ với cái tà. Thờ ơ với tất cả Chỉ mình ta biết ta. Thế đấy, ngẫm mà sợ, Vừa sợ vừa đau lòng, Khi sự thơ ơ đó Hiện đang là số đông. Vì thiếu năng trí tuệ? Vì trầm cảm, thất tình? Không, đó là thái độ Chỉ biết sống vì mình. Đáng sợ hơn, trong họ Quả có không ít người Trẻ, thông minh, có học Mà thờ ơ, phớt đời. Cứ như thể họ nghĩ Đất nước thân yêu này Hoàn toàn của người khác, Đây không biết, không dây. Cứ như thể những việc Đang diễn ra xung quanh Không liên quan đến họ, Không phải việc của mình. Thật đau, các bác ạ, Đau gấp đôi, gấp ba, Giật mình thấy trong họ Có người thân của ta. Xin nhắc lại lần nữa: Trong tình hình bây giờ Ác hơn cả cái ác, Đó là sự thờ ơ. Thái Bá Tân Hà Nội, 24. 7. 2012 www.thaibatan.com   Share on Facebook Scridb filterLike this:Like...

Read More
Thơ Nguyễn Bính – Say đắm trong ảo mộng
Jun23

Thơ Nguyễn Bính – Say đắm trong ảo mộng

Hà Thủy Nguyên Trích từ nghethuatyeu.com Cái sự thất tình của Nguyễn Bính đẹp man mác như cánh đồng lúc hoàng hôn. Nó không dằn vặt, quằn quại mà khiến người đọc cảm giác như ông đang hưởng thụ sự đơn độc, sự bỏ rơi, sự xa cách. “Hồn anh như hoa cỏ may Một chiều cả gió bám đầy áo em” Đã mang trong mình một tâm hồn Việt, ai chẳng lưu giữ đôi ba câu thơ Nguyễn Bính trong ký ức, nhiều khi chúng ta còn không biết chúng thuộc về anh chàng thơ “chân quê” lãng mạn. Không ít các nhà phê bình lớn của Việt Nam đều viết về thơ Nguyễn Bính và khai thác ở nhiều góc độ: nào thì chuyện mâu thuẫn nông thôn – thành thị, nào thì chuyện tiếc nhớ thuở xa xưa, nhưng ở đây tôi chỉ muốn chia sẻ cùng các bạn một góc con người mà ở mỗi chúng ta ai cũng giống ông: một tâm hồn khao khát yêu thương. Điểm lại những câu thơ tình của Nguyễn Bính, chúng ta đều thấy một tình cảnh rất cô đơn của “Tôi” và “Em”, của “chàng” và “nàng”. Lần nào cũng vậy, họ gặp nhau vì một duyên định tình cờ, nhưng thường lỡ dở. Đó phải chăng là tình trạng: “Tình tôi mở giữa mùa thu Tình em lặng kín y như buồng tằm”.  Những người làm thơ lãng mạn thường là một đứa trẻ con thuần túy, mà trẻ con thì luôn bộc lộ tình cảm của mình một cách tràn đầy không che đậy, một cách ngây thơ không giấu diếm và những người thông thường không phải ai cũng có thể đón nhận được. Bởi vậy mà mãi mãi họ thất vọng, lạc lõng, cô đơn. Vì vậy mà có thơ tình, nhưng thơ tình sẽ không hấp dẫn nếu không phải là thơ thất tình. Cái sự thất tình của Nguyễn Bính đẹp man mác như cánh đồng lúc hoàng hôn. Nó không dằn vặt, quằn quại mà khiến người đọc cảm giác như ông đang hưởng thụ sự đơn độc, sự bỏ rơi, sự xa cách. “Cô hái mơ ơi, cô gái ơi Chẳng trả lời nhau lấy một lời Cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi” Thậm chí thật kỳ diệu khi tình yêu đi tìm tình yêu bằng nỗi buồn. Không phải sự hồ hởi, không phải sự khát khao nhục dục, mà là sự mong cầu chia sẻ: “Nhà nàng ở cạnh nhà tôi Cách nhau một dậu mồng tơi xanh rờn...

Read More
Nhìn từ xa… Tổ Quốc
Jun10

Nhìn từ xa… Tổ Quốc

Nguyễn Duy  Theo: tapchinhavan.vn  Ðối diện ngọn đèn trang giấy trắng như xeo bằng ánh sáng Ðêm bắc bán cầu vần vụ trắng nơm nớp ai rình sau lưng ta Nhủ mình bình tâm nhìn về quê nhà xa vắng núi và sông và vết rạn địa tầng Nhắm mắt lại mà nhìn thăm thẳm yêu và đau quằn quại bi hùng Dù ở đâu vẫn Tổ Quốc trong lòng cột biên giới đóng từ thương đến nhớ * Ngọn đèn sáng trắng nóng mắt quá ai cứ sau mình lẩn quất như ma Ai ? im lặng Ai ? cái bóng ! A… xin chào người anh hùng bất lực dài ngoẵng bóng máu bầm đen sõng soài nền nhà Thôi thì ta quay lại chuyện trò cùng cái bóng máu me ta * Có một thời ta mê hát đồng ca chân thành và say đắm ta là ta mà ta cứ mê ta[1] Vâng – đã có một thời hùng vĩ lắm hùng vĩ đau thương hùng vĩ máu xương mắt người chết trừng trừng không chịu nhắm Vâng – một thời không thể nào phủ nhận tất cả trôi xuôi – cấm lội ngược dòng thần tượng giả xèo xèo phi hành mỡ ợ lên thum thủm cả tim gan * Ta đã xuyên suốt cuộc chiến tranh nỗi day dứt không nguôi vón sạn gót chân nhói dài mỗi bước Thời hậu chiến vẫn ta người trong cuộc xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày ? Ai ? không ai Vết bầm đen đấm ngực * Xứ sở nhân tình sao thật lắm thương binh đi kiếm ăn đủ kiểu nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng Mẹ liệt sĩ gọi con đội mồ lên đi kiện ma cụt đầu phục kích nhà quan Ai ? không ai Vết bầm đen quều quào giơ tay * Xứ sở từ bi sao thật lắm thứ ma ma quái – ma cô – ma tà – ma mãnh… quỉ nhập tràng xiêu vẹo những hình hài Ðêm huyền hoặc dựng tóc gáy thấy lòng toang hoác mắt ai xanh lè lạnh toát lửa ma trơi Ai ? không ai Vết bầm đen ngửa mặt lên trời * Xứ sở linh thiêng sao thật lắm đình chùa làm kho hợp tác đánh quả tù mù trấn lột cả thần linh Giấy rách mất lề tượng Phật khóc Ðức Tin lưu lạc Thiện – Ác nhập nhằng Công Lý nổi lênh phênh Ai ? không ai Vết bầm đen tọa thiền * Xứ sở thông minh sao thật lắm trẻ con thất học lắm ngôi trường...

Read More
%d bloggers like this: