Vấn đề nợ công của Trung Quốc
Sep15

Vấn đề nợ công của Trung Quốc

Phạm Nguyên Trường dịch David Lipton, Project-Syndicate LND: Trung Quốc phải học ngay ba bài học: “Thứ nhất, chính quyền phải hành động một cách nhanh chóng và hiệu quả, để vấn đề nợ của công ty hiện nay không trở thành vấn đề nợ mang tính hệ thống trong tương lai. Thứ hai, họ phải làm việc với cả các chủ nợ lẫn con nợ – một số nước chỉ giải quyết với một trong hai phía, tức là gieo rắc hạt giống cho những vấn đề trong tương lai. Cuối cùng, phải xác định được và cải cách những cơ cấu quản trị đã gây ra những vấn đề đó. Ít nhất, Trung Quốc cần một hệ thống hiệu quả nhằm giải quyết vấn đề phá sản; phải có quy định nghiêm ngặt về đánh giá rủi ro; cải thiện công tác kế toán, lập dự phòng cho các khoản thiệt hại về tín dụng, và luật lệ về công khai tài chính”. Và đấy cũng là những bài học mà chính phủ Việt Nam phải học trước khi quá muộn. **** Trong mấy năm gần đây, tốc độc phát triển kinh tế Trung Quốc đã giảm, nhưng vẫn khá mạnh mẽ: đóng góp khoảng một phần ba tổng số tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Kinh tế Trung Quốc cũng trở nên bền vững hơn, song hành với thay đổi mô hình tăng trưởng, từ đầu tư và xuất khẩu sang đáp ứng nhu cầu và dịch vụ trong nước. Trước thềm hội nghị thượng đỉnh G20 vào tháng tới ở Hàng Châu, Trung Quốc đã lớn tiếng kêu gọi cam kết với cải cách cơ cấu nhằm kích thích tăng trưởng trong các nền kinh tế tiên tiến và các thị trường mới nổi. Nhưng Trung Quốc đang gặp những rủi ro nghiêm trọng ngay ở trong nước. Trước hết, tín dụng ở trong nước vẫn tiếp tục phát triển với một tốc độ quá cao, khó mà bền vững, tổng nợ của các công ty đã lên đến mức nguy hiểm. Theo báo cáo thường niên của Quỹ Tiền tệ quốc tế về kinh tế Trung Quốc, mới được công bố trong thời gian gần đây, tín dụng đang tăng nhanh gấp đôi sản phẩm đầu ra. Tín dụng đang tăng nhanh trong cả khu vực tư nhân phi tài chính lẫn trong khu vực tài chính đang phình ra và quyện chặt lấy nhau, và vẫn chưa minh bạch. Hơn nữa, trong khi, theo tiêu chuẩn quốc tế, tăng trưởng tín dụng như thế là cao – đây là chỉ số quan trọng...

Read More
Tôn giáo nào phát triển nhanh nhất thế giới?
Sep12

Tôn giáo nào phát triển nhanh nhất thế giới?

CTV Phía Trước chuyển ngữ Adam Shirley, WEF Hồi giáo đang phát triển nhanh hơn so với bất kỳ tôn giáo nào khác, theo một nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Pew. Trên thực tế, hầu hết các nhóm tôn giáo lớn trên thế giới dự kiến sẽ gia tăng số lượng tuyệt đối vào năm 2050. Nghiên cứu chỉ ra rằng, Hồi giáo sẽ vượt qua Kitô giáo và trở thành tôn giáo lớn nhất của thế giới vào năm 2070. Những người không theo bất kỳ tôn giáo nào, chẳng hạn như những người vô thần hay những người tin rằng không ai có thể thấu hiểu được sự tồn tại hay bản chất của Thượng Đế, sẽ giảm tỉ lệ trên tổng dân số của thế giới vào năm 2050, mặc dù số lượng nhóm người này đang gia tăng tại một số quốc gia thế tục hơn so với các nước khác như Pháp và Hoa Kỳ. Sự gia tăng số người theo đạo ở các tôn giáo lớn là nhờ vào một phần lớn tỷ lệ sinh và quy mô dân số trẻ ở các quốc gia ít thế tục. Năm 2050, Kitô giáo vẫn sẽ là nhóm tôn giáo lớn nhất thế giới, với khoảng một phần ba dân số thế giới trung thành với các nhánh khác nhau của tôn giáo này. Hồi giáo vẫn đang đuổi theo khá nhanh, mặc dù các tín đồ Hồi giáo là nhóm tôn giáo lớn duy nhất dự kiến sẽ tăng nhanh hơn so với dân số thế giới theo một tổng thể. Một trong những yếu tố chính thúc đẩy sự tăng trưởng trong tương lai của các tôn giáo là vùng địa lý mà các nhóm tôn giáo đang tập trung ở đó. Các tôn giáo có nhiều tín đồ ở các nước đang phát triển – nơi có tỷ lệ sinh cao, và tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh nhìn chung đang giảm – dường như sẽ gia tăng nhanh chóng. Như vậy, phần lớn sự gia tăng trên toàn thế giới của Hồi giáo và Kitô giáo sẽ diễn ra tại các khu vực trong châu Phi, xung quanh Sahara, nơi có dân số dự kiến sẽ tăng 12% vào năm 2050. Ngược lại, số người trên thế giới không theo tôn giáo nào tập trung nhiều ở những nơi có mức sinh thấp và dân số già, chẳng hạn như Bắc Mỹ, châu Âu, Trung Quốc và Nhật Bản. Tỷ lệ sinh thấp ở Trung Quốc và Nhật Bản là nguyên nhân dẫn đến việc giảm tỉ...

Read More
Liệu truyền thông xã hội có giúp mối quan hệ giữa chính phủ và người dân hay không?
Sep05

Liệu truyền thông xã hội có giúp mối quan hệ giữa chính phủ và người dân hay không?

CTV Phía Trước chuyển ngữ James Toscano, WEF Điều này phụ thuộc vào người bạn hỏi là ai. Tùy thuộc vào nơi bạn sống, có thể bạn theo dõi bộ phận vận tải địa phương mình đang làm việc trên Twitter để cập nhật tình hình công trình, có thể bạn xem video trên Periscope về phiên họp hội đồng thành phố hoặc đọc blog trực tiếp của các cuộc họp hội đồng trường công lập. Trên toàn thế giới, chính phủ và nhân dân đều đang tham gia vào truyền thông xã hội. Ví dụ, vào tháng Sáu vừa qua, cơ quan chính phủ ở thị trấn Tây Ban Nha đã bỏ cách tiếp cận truyền thống của mình và thay đó bằng tương tác trên Twitter để phục vụ người dân địa phương. Sau cơn Bão Sandy năm 2012, Twitter đã giúp các cơ quan quản lý tình trạng khẩn cấp ở vùng Đông Bắc Hoa Kỳ mở rộng phạm vi tiếp cận, cung cấp “đường cứu sinh” cho những người dân cần thông tin quan trọng nhưng lại không có điện. Vào buổi sáng mùa xuân năm đó, hai hội thảo quan trọng của Mỹ đã diễn ra cùng ngày trên phương tiện truyền thông xã hội của chính phủ, một chương trình được dẫn dắt bởi các chuyên gia truyền thông cấp cao, và một được dẫn dắt bởi những học giả. Quan sát viên của mỗi chương trình đã thảo luận những ý tưởng khác biệt về tiềm năng của truyền thông xã hội, nhằm mục đích cải thiện mối quan hệ giữa chính phủ và nhân dân. Những người ở phe này trả lời những phàn nàn của người dân trên Facebook hay cuộc gặp gỡ công chúng trực tiếp trên Twitter bằng cách đưa ra những quan điểm tích cực về việc truyền thông xã hội có ảnh hưởng tốt như thế nào đến sự tương tác bầu cử chính phủ. Tuy nhiên, một vài chuyên gia trong giới học thuật về chính sách công lại tỏ ra không hài lòng về cách sử dụng truyền thông xã hội của chính phủ. Tại sao hai nhóm này lại có những quan điểm khác nhau như vậy về những gì đang xảy ra? Với tư cách là một học giả chuyên nghiệp, người kết nối hai quan điểm này với nhau, tôi đã tìm ra một vài sự thật ít người biết. Mất hi vọng từ bên trong tháp ngà Vào ngày 8/04/2016, các học giả từ rất nhiều trường cũng như tổ hợp những người có chuyên môn từ dọc Florida đến...

Read More
Bài học từ thảm họa kinh tế Venezuela
Aug24

Bài học từ thảm họa kinh tế Venezuela

Trương Thái Tiểu Long biên dịch | Lê Hồng Hiệp biên tập, NCQT Ricardo Hausmann, Project Syndicate Mỗi khi chúng ta nghe tin một người bạn phải gánh chịu một thảm họa nào đó, ta thường cảm thấy đồng cảm và chênh vênh. Chúng ta tự hỏi rằng điều đó có thể xảy ra với mình hay không: Liệu thảm họa đó có phải là hệ quả của những đặc điểm bất thường mà chúng ta may mắn không gặp phải? Hay chúng ta cũng dễ bị tổn thương như thế? Nếu vậy thì chúng ta có thể làm gì để tránh khỏi một vận mệnh tương tự? Logic này cũng áp dụng được với các quốc gia. Vào những ngày cuối tuần 16-17/07, người Venezuela được phép sang biên giới Colombia tối đa 12 tiếng. Sự kiện này khiến người ta nhớ về sự sụp đổ của Bức tường Berlin. Hơn 135.000 người đã tận dụng cơ hội này để sang Colombia mua nhu yếu phẩm. Họ phải đi hàng trăm cây số và chỉ đổi được tiền theo tỉ giá chỉ bằng 1% tỉ giá chính thức để mua thực phẩm và thuốc men. Tuy vậy, họ vẫn cảm thấy xứng đáng trong bối cảnh nạn đói, thiếu hụt và tuyệt vọng tại quê nhà. Truyền thông quốc tế đã và đang đưa tin về sự sụp đổ của nền kinh tế, hệ thống y tế, an ninh cá nhân, cũng như hiến pháp và nhân quyền của Venezuela. Tất cả những điều này diễn ra tại quốc gia có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới chỉ hai năm sau khi đợt tăng giá dầu dài nhất trong lịch sử kết thúc. Tại sao? Tình trạng này có thể diễn ra ở nơi khác không? Những đặc điểm của bất kì tình huống nào cũng luôn đặc thù, và vì thế không thể áp dụng rập khuôn. Nhưng điều này mang đến cho chúng ta một cảm giác an tâm sai lầm. Nếu xem xét một cách thấu đáo, Venezuela có thể mang lại những bài học kinh nghiệm quý giá đối với các nước khác. Cuộc khủng hoảng tại Venezuela không phải do xui rủi. Trái lại, chính vận may mới là sợi dây thừng siết cổ một quốc gia. Khủng hoảng là hệ quả không thể tránh khỏi từ các chính sách của chính phủ. Trong trường hợp của Venezuela, những chính sách đó bao gồm sung công ép buộc, kiểm soát giá cả và tỉ giá, vay mượn quá mức thời đất nước còn ổn định, các quy định chống doanh nghiệp,...

Read More
Đâu là những quyền con người quan trọng nhất?
Aug23

Đâu là những quyền con người quan trọng nhất?

Hương Ly chuyể ngữ, CTV Phía Trước Emma Luxton, WEF Theo khảo sát mới đây của YouGov, quyền con người quan trọng nhất mà bạn nghĩ hóa ra lại phụ thuộc phần lớn vào nơi mà bạn sinh sống. Tổ chức bỏ phiếu này đã khảo sát người dân từ bảy hạt của châu Âu và Hoa Kỳ về 30 quyền con người được công bố bởi Liên Hiệp Quốc, Hội đồng châu Âu và Tuyên ngôn Nhân quyền Hoa Kỳ. Chúng cũng bao gồm các quyền có đặc điểm nổi bật có thể thấy ở các cuộc tranh luận gần đây trên truyền thông. Những người khảo sát được yêu cầu chọn 10 trong 30 quyền mà họ cho là quan trọng nhất. Những biểu đồ này từ i100 cho thấy phần trăm số người được khảo sát từ mỗi quốc gia bầu cho mỗi quyền. Sự tự do bầu cử đã được xếp như quyền con người quan trọng nhất trong năm trên tám quốc gia. Hoa Kỳ xem vấn đề tự do ngôn luận như là quyền quan trọng nhất của con người, xếp thứ ba là quyền tự do bầu cử. Tự do ngôn luận cũng được coi trọng ở Đức, nơi mà công dân của họ cũng thấy rằng việc này là quan trọng nhất. Trong tám quốc gia, hơn 50% người được khảo sát chọn tự do ngôn luận như là một trong những quyền con người quan trọng nhất – đó là quyền duy nhất nhận được 50% hoặc nhiều hơn từ tất cả các quốc gia. Quyền xét xử công bằng cũng được cho là một trong top 5 quyền quan trọng nhất bởi người dân đến từ nửa số quốc gia. Ở Anh thì quyền này được coi là quan trọng thứ hai, và được xếp thứ tư ở Hoa Kỳ, Đức và Thụy Điển. Quyền được tự do giáo dục và chăm sóc sức khỏe với chi phí thấp được cho là ưu tiên với hầu hết các nước. Tuy nhiên, Pháp và Hoa Kỳ đánh giá những quyền này thấp hơn so với các nước khác. Sự khác biệt trong lịch sử và văn hóa, đặc biệt với sự quan tâm về điều khoản dịch vụ công cộng có thể giải thích sự khác nhau giữa Hoa Kỳ và phần đông các nước châu Âu. Mĩ cũng khác các nước châu Âu về tự do tôn giáo, với số phiếu chọn quyền này ở Mĩ là 53%, nhưng đây vẫn là con số ít hơn 30% so với người dân ở hầu hết các quốc gia khác. Quyền...

Read More
Vai trò của kinh doanh trong việc bảo vệ nhân quyền ở ASEAN
Aug11

Vai trò của kinh doanh trong việc bảo vệ nhân quyền ở ASEAN

CTV Phía Trước chuyển ngữ Salil Shetty, Tổng Thư ký Amnesty International Nguồn: WEF Nếu ASEAN là một quốc gia độc lập, nó có thể đại diện cho nền kinh tế lớn thứ bảy trên thế giới. Tính tới năm 2050, các nhà tư vấn quản lý McKinsey đã dự đoán nền kinh tế của Đông Nam Á sẽ chiếm vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng GDP. Nếu các con số được điều chỉnh theo sức mua tương đương, họ đã đạt được vị trí đó rồi. Kể từ năm 2000, không một nơi nào ngoài Trung Quốc và Án Độ cho thấy sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ hơn khu vực này. Cùng lúc đó, tuy nhiên, nhân quyền tại khu vực Đông Nam Á lại là một điểm yếu. Trải khắp trên toàn khu vực, quyền tự do biểu đạt, tự do tụ tập đang bị xâm phạm một cách rõ rệt. Bởi giới chức trách đã gỡ bỏ sự lưu thông của tư bản, họ quay sang thiết lập kiểm soát lên sự lưu thông của quan điểm và ý tưởng – cả trực tuyến và ngoại tuyến. Và có thời điểm, khi phần đông thế giới đã hủy bỏ án tử hình, khu vực này vấn khiến người ta phải lo lắng về việc tiếp tục duy trì hình phát độc ác này. Qua nhiều thập kỷ, một cuộc tranh luận đã nổ ra trong khu vực cho rằng nhân quyền đại diện cho một truyền thống Tây phương cụ thể mà chẳng hề liên quan gì nhiều tới châu Á. Một số tiếng nói có sức ảnh hưởng đã bày tỏ quan điểm bảo vệ nhân quyền sẽ khiến cho tham vọng kinh tế của họ bị trì trệ. Tuy nhiên, cùng là một người châu Á, tôi phản đối luận điểm này. Amartya Sen, người đã nhận giải Nobel về kinh tế, đã nhận thấy rằng các nghiên cứu thực chứng “không đưa ra được bằng chứng cụ thể để hỗ trợ cho quan điểm cho rằng có một mâu thuẫn giữa nhân quyền và tăng trưởng kinh tế.” Thực vậy, bằng cách giới hạn và xâm phạm nhân quyền, các quốc gia sẽ phải đối mặt với rủi ro hạn chế khả năng của họ trong việc duy trì tham vọng kinh tế và cuối cùng sẽ bị tụt hậu. Tại Việt Nam, những người dân thường đã xuống đường biểu tình đòi giải trình trách nhiệm sau sự cố cá chết hàng loạt tại miền Trung. Phản hồi của Đảng Cộng sản cầm quyền, nực cười thay lại...

Read More
Ổn định xã hội và ổn định chính trị là gì?
Aug09

Ổn định xã hội và ổn định chính trị là gì?

Ổn định xã hội là gì? Ổn định xã hội là một quan điểm xã hội học cho rằng một nhóm luôn luôn tìm cách duy trì cân bằng bằng cách loại bỏ những ý tưởng và cá nhân không đồng ý với quan điểm phổ biến. Điều này giúp giữ cho xã hội được cân bằng và thúc đẩy sự chung sống hài hòa. Sự thiếu ổn định xã hội gây cách mạng và tình trạng bất ổn trong nhóm xã hội. Ổn định xã hội tập trung vào việc làm cách nào để tất cả các bộ phận khác nhau của xã hội tương hợp với nhau. Đó là một lối tư duy phấn đấu cho tính mềm mỏng trong mọi tương tác ở một nhóm xã hội, mà ưu tiên và khen thưởng các hành vi mà nhóm đó muốn khuyến khích và tìm cách để công khai kìm chế các hoạt động mà họ không mong muốn. Lý thuyết xã hội học này cũng được gọi là trạng thái cân bằng xã hội vì nó dựa trên ý tưởng cho rằng tất cả các tầng lớp xã hội muốn sống trong sự hài hòa và lọai bỏ những suy nghĩ và hành động mà trái ngược với kỳ vọng đó. Nguyên tắc này phổ biến trong các xã hội giáo điều, trong các nhóm và giới tôn giáo độc quyền. Nó phản đối ý kiến bên ngoài và thay vào đó cố gắng nhấn mạnh hợp tác với các thành viên khác của xã hội để duy trì một mạng lưới ổn định. Ổn định xã hội thường phải trải qua những thay đổi nhỏ theo thời gian. Khi các phương thức truyền thông và các công nghệ mới nổi lên, các nền văn hóa du nhập các khía cạnh phù hợp với tư tưởng của họ và làm cho cuộc sống của họ dễ dàng hơn. Điều này, đến lượi nó, sẽ gây ra những điều chỉnh đối với những gì đã được chấp nhận như là một phần của sự ổn định xã hội về lâu về dài. Ổn định chính trị là gì? Ổn định chính trị là độ bền vững và tính toàn vẹn của một chế độ chính quyền hiện hành. Điều này được xác định dựa trên lượng bạo lực và khủng bố diễn ra trong cả nước và bởi các công dân liên quan đến nhà nước. Một xã hội ổn định là một xã hội trong đó người dân hài lòng với đảng cầm quyền và hệ thống điều hành và không quan tâm đến ý tưởng...

Read More
Liệu ASEAN có thể cạnh tranh với những siêu cường kinh tế thế giới?
Jul29

Liệu ASEAN có thể cạnh tranh với những siêu cường kinh tế thế giới?

CTV Phía Trước chuyển ngữ Christopher Fossick, WEF Với sự thành lập chính thức của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015, ngày càng có nhiều những kỳ vọng rằng khối thương mại 10 nước Đông Nam Á này sẽ cho thấy được sức mạnh kinh tế của họ đối với thế giới. Với sự thay đổi trong tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc và Ấn Độ, nhiều nhà phê bình kinh tế và chính trị sẽ để ý tới sự phát triển của ASEAN khi mà cả thế giới tiếp tục đổ dồn sự chú ý vào châu Á. Đối với những ai đang làm kinh tế tại Đông Nam Á, những con số ấn tượng về sự phát triển của khu vực này không còn gì là xa lạ nữa. Nền kinh tế của khu vực này được dự đoán tăng trưởng 5% mỗi năm cho tới 2020, cao hơn tăng trưởng của thế giới là 3.52% mỗi năm. Dân số đô thị tại đây tăng với tốc độ 2.2% mỗi năm, trong khi dân số thuộc tầng lớp trung lưu được dự đoán sẽ tằng khoảng 70 triệu người, đạt 194 triệu người vào năm 2020. Và với hơn 600 triệu người, ASEAN có lực lượng lao động lớn thứ ba trên thế giới, chỉ đứng sau Trung Quốc và Ấn Độ. Nhưng đằng sau những con số lớn này, điều gì sẽ khiến ASEAN trở thành một lực lượng kinh tế đáng gờm? Đa phần thành công của nó sẽ phụ thuộc vào cách các quốc gia tại khu vực này tích lũy tư bản dự trên cơ hội to lớn tới từ các công nghệ mới nổi lên. Trọng tâm của điều này chính là thứ mà giáo sư Klaus Schwab đã gọi bằng thuật ngữ: Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư (Fourth Industrial Revolution.) Trong lĩnh vực bất động sản, chúng ta kỳ vọng những thay đổi sẽ tích cực và có tính chuyển đổi. Nghiên cứu của chúng tôi đã đưa đến kết luận rằng công nghệ sẽ cho phép nhiều quốc gia thành viên của ASEAN vượt lên khỏi những rào cản cơ sở hạ tầng và giới hạn phát triển để chuyển đổi cách thức mà công dân của họ làm việc, sống và vui chơi. Cách làm việc mới Khi nói về công việc, nhu cầu về văn phòng sẽ thay đổi bởi sự tăng trưởng mạnh trong việc thuê nhân công ở xa làm từ các thị trường đã phát triển, quy trình làm việc linh động hơn, và các không gian...

Read More
%d bloggers like this: