Chủ nghĩa tư bản lý tưởng (I)
May05

Chủ nghĩa tư bản lý tưởng (I)

Ka Đặng chuyển ngữ, CTV Phía Trước Theo The Book of Life Hệ thống mà chúng ta gọi là chủ nghĩa tư bản mang lại hiệu quả đến lạ kỳ đồng thời cũng đem đến nhiều vấn đề. Về mặt tiêu cực, chủ nghĩa tư bản gây nên sự bất bình đẳng quá mức; nó ưu tiên lợi nhuận lên trên lợi ích lâu dài; nó khiến chúng ta vung tiền vào những sản phẩm không cần thiết và nó thúc đẩy sự lạm dụng các nguồn tài nguyên của thế giới với hậu quả tai hại tiềm tàng – và đó chỉ mới là sự khởi đầu. Bây giờ chúng ta đã khá quen thuộc với chủ nghĩa tư bản và khó có thể nhận ra mặt trái của nó. Nhưng điều đó không phải là lý do để ta ngừng mơ ước về một con đường mà chủ nghĩa tư bản có thể hướng tới trong một tương lai lý tưởng: Trong thế giới lý tưởng, ta sẽ dành ít thời gian hơn để nói về chỉ số Dow Jones. Dow Jones, chỉ số tài chính uy tín nhất trên thế giới, được nước Mỹ nôn nóng theo dõi hằng ngày, khiến cho nó trở thành một con số rất chính xác, được công bố rộng rãi trên các bản tin và chúng ta có xu hướng coi trọng nó với một mức độ cao. Những con số tài chính này dường như đang nói với chúng ta điều gì đó với tầm quan trọng to lớn. Nó gợi ý câu trả lời cho những câu hỏi vĩ đại về sự hiện hữu: mọi thứ sẽ trở nên tốt hơn hay xấu đi, có phải Thế giới này đang làm điều đúng đắn? Cuộc sống trên trái đất thì như thế nào? Rất đáng để đặt ra những câu hỏi như vậy và suy xét về chúng thật kỹ lưỡng. Đây là điều mà các triết gia thường thích làm từ xưa đến nay. Nhưng thật ra những con số kia không phải là câu trả lời cho các vấn đề trên của chúng ta, câu hỏi về mối liên hệ giữa các con số tài chính Dow Jones và điều gì đang thực sự diễn ra trong cuộc sống của loài người (thịnh hay suy) là thứ khó nắm bắt hơn. Không phải là không có kết nối nào. Khả năng tài chính của các công ty lớn của Hoa Kỳ đều có những liên hệ xa xôi và gián tiếp vào vấn đề kinh tế trong cuộc sống của tất cả mọi người. Tuy nhiên,...

Read More
Bốn trụ cột của nạn tham nhũng và cách chống tham nhũng
Apr21

Bốn trụ cột của nạn tham nhũng và cách chống tham nhũng

Hương Ly chuyển ngữ, CTV Phía Trước Adam Blackwell, Bộ trưởng An ninh Đa chiều, OAS, WEF Yếu tố lớn nhất trong việc nhận biết tính hợp pháp của các lãnh đạo, chính quyền và các tổ chức đoàn thể (dù là công khai, cá nhân hay phi lợi nhuận) có lẽ là niềm tin từ người dân dành cho họ. Tham nhũng, hay thậm chí chỉ là cách nhìn nhận về vấn đề tham nhũng, sẽ hủy hoại niềm tin này. Nó không chỉ ngấm ngầm hủy hoại chế độ dân chủ và các điều luật pháp đã ban hành mà còn đánh vào cả nền kinh tế cũng như cuộc sống của từng cá nhân, đồng thời việc này thúc đẩy các hành vi phạm pháp và nền kinh tế trái phép. Tham nhũng rất nghiêm trọng và phổ biến, nó gây ảnh hưởng tới người nghèo và với thế giới đang phát triển, chuyển hướng những nguồn kinh phí và đầu tư ra khỏi những khu vực và những người khốn khổ nhất. Do đó, tham nhũng ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định, an ninh và phát triển của xã hội và các quốc gia. Vì những lý do trên nên tham nhũng là chủ đề thảo luận tối quan trọng trên World Economic Forum on Latin America vừa diễn ra được tổ chức tại Mexico.  Đó là trọng tâm chính trong một phiên trao đổi, có tên là Expanding the Light, trong đó họ xem xét các ý kiến từ các khu vực công và tư để củng cố sự minh bạch ở các nước Mỹ Latin. Sự liên kết ngày càng bền vững của các nền kinh tế, các quốc gia và người dân có nghĩa rằng tham nhũng thật sự là một hiện tượng xuyên quốc gia và có liên quan tới các hoạt động phi pháp khác, như buôn bán ma túy và các hoạt động phạm tội có tổ chức. Một cách tiếp cận toàn diện và đa chiều nhằm liên kết các nước với nhau, các đoàn thể và các cá nhân cần phải thực hiện để phòng tránh và loại bỏ tham nhũng ở mọi cấp độ và mọi loại hình. Để chiến thắng tham nhũng, chúng ta cần phải tập trung vào cái mà tôi gọi là “4 trụ cột của nạn tham nhũng” và mối tương quan của chúng đối với nhau: Các tầng lớp quan tham Bộ máy quản lý bị thoái hóa Sự miễn tội đối với các tầng lớp quản lý Sự chịu đựng Trong bốn yếu tố này, yếu tố cuối –...

Read More
Tại sao làm việc lại dễ dàng hơn tình yêu rất nhiều?
Mar19

Tại sao làm việc lại dễ dàng hơn tình yêu rất nhiều?

Hương Ly chuyển ngữ, CTV Phía Trước Theo The Book of Life Chúng ta đang ở trong một nền văn hóa hòa hợp cao với những thứ đẹp đẽ và đầy xúc cảm về tình yêu; chúng ta biết những điểm mạnh và thể hiện cái ngây ngất của tình yêu trong những bộ phim và ca khúc. Thông thường, làm việc là một việc nặng nề, và có chút buồn chán – việc mà chúng ta phải làm để trả chi phí sinh sống. Và tuy nhiên những việc đang bãi công thường xảy ra, cho dù chúng thiếu sự say mê, trong thực tế những việc đó lại trở nên dễ dàng hơn, thú vị hơn và sau cùng lại là việc nhân đạo của cuộc sống. Có một số lý do sau đây: Đầu tiên: Bạn cần trở nên chuyên nghiệp Làm việc yêu cầu tất cả những người bước qua cánh cửa văn phòng phải ứng xử “một cách chuyên nghiệp”. Và việc ứng xử chuyên nghiệp cơ bản có nghĩa là những tình huống nơi mà bạn dễ dàng bị nổ tung, bị sỉ nhục, nguyền rủa đến phát khóc, và công việc đòi hỏi bạn phải tự xử lý bằng sự kiên nhẫn bình tĩnh lẫn thận trọng. Ở nơi làm việc, bạn không thể thực sự “là chính mình” cũng như những người xung quanh mình – điều này nghe có vẻ hơi giả tạo và do đó dẫn đến giả dối và không thật, tuy nhiên thì sự thiếu trung thực trong thực tế có thể là một sự phát triển vô cùng đáng hoan nghênh sau khi chúng ta dành thời gian ở môi trường nơi mọi người cảm thấy nhiệm vụ của họ trở nên hoàn toàn chân thật, đúng với những tâm trạng và lo âu bên trong họ. Thứ hai: Bạn được đào tạo Giả định hầu hết các công việc mà những người bắt đầu làm nó không biết những tiểu tiết đầu về việc đó. Bạn không thể hy vọng mình sẽ biết về máy móc hay những cách thức làm việc chỉ thông qua trực giác của mình – và vì thế bạn được gửi đến những chương trình đào tạo và có được những tài liệu chỉ dẫn rộng hơn để tìm hiểu. Có lẽ sẽ mất hai năm trước khi bạn có thể hiểu mọi thứ một cách rõ ràng. Không có những sự xa xỉ như vậy cho những đôi tình nhân, những người “có” được một người khác bởi bản năng tức thì và lấy nhận thức nhanh nhạy làm...

Read More
Có nên tin những điều chuyên gia nói?
Mar14

Có nên tin những điều chuyên gia nói?

An Võ chuyển ngữ, CTV Phía Trước GS Derek J. Koehler, The New York Times Trong thế giới đầy phức tạp như ngày nay, ý kiến chuyên gia rất được coi trọng. Mỗi người trong chúng ta luôn có nhiều thắc mắc như thực phẩm biến đổi gen có an toàn không? Hay tình trạng nóng lên toàn cầu có thật đang diễn ra? Trẻ em có cần thiết tiêm vắc-xin phòng sởi? Tuy nhiên, vì không có đủ thời gian hay kiến thức để tự trả lời những thắc mắc này, chúng ta phải chuyển nó đến các chuyên gia. Mà để biết được họ nói gì, chúng ta thường thông qua truyền thông. Nhà báo vì thế gặp phải thách thức khi đối mặt những vấn đề có nhiều quan điểm khác nhau. Nếu theo như thông lệ viêt báo, ý kiến đồng ý hay phản đối đều cần được ghi nhận mà không ảnh hưởng đến nhận thức của công chúng về mức độ phản đối. Tuy nhiên, điều này không dễ để thực hiện. Thực tế, nhà báo thường bị đánh giá là tạo ra sự cân bằng giả cho nhiều vấn đề trong đó có cả sự bất đồng mặc dù vấn đề lại được đa số tán thành. Giải pháp được nhiều kênh tin tức như BBC áp dụng là xét bằng chứng. Cần phải chỉ ra cụ thể số đông ý kiến chuyên gia là nghiêng về bên nào trong nhiều ý kiến trái chiều. Nhưng liệu biện pháp này có hiệu quả hay không lại một câu hỏi tâm lý học chưa có giải đáp. Thế nên, gần đây tôi đã tiến hành hai thí nghiệm, cụ thể sẽ được in trong Tạp chí Tâm lý Thực nghiệm Ứng dụng sắp tới. Cả hai thí nghiệm đều cho thấy phương pháp bằng chứng là không hoàn hảo. Lắng nghe chuyên gia ở cả hai phía của một vấn đề thậm chí bóp méo nhận thức của chúng ta về sự đồng thuận, kể cả khi ta có đủ thông tin để sửa chữa hiểu lầm ấy. Trong một nghiên cứu, người tham gia được nhận một bảng tổng kết số liệu của hội đồng chuyên gia do Đại học Chicago tập hợp. Bản tổng kết cho thấy các ý kiến khác nhau của các chuyên gia về một số vấn đề kinh tế. Có những vấn đề nhận được sự đồng ý của đại đa số chuyên gia, có những vấn đề còn nhiều tranh cãi. Ví dụ, số đông đồng ý rằng thuế các-bon là biện pháp hữu hiệu giảm...

Read More
Chương trình cải cách của Việt Nam tiếp tục đình trệ
Mar09

Chương trình cải cách của Việt Nam tiếp tục đình trệ

Thiên Thanh chuyển ngữ, CTV Phía Trước Loc Doan, Global Policy Institute/EAF Năm 1986, việc Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện chính sách Đổi mới đã mang lại nhiều chuyển biến cho kinh tế Việt Nam lúc bấy giờ. Tuy nhiên, chính sách Đổi mới kéo dài 30 năm dường như đang dần dần hết tác dụng. Nếu Việt Nam muốn bắt kịp các quốc gia tiên tiến ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam cần phải bắt tay vào một quá trình Đổi mới khác, hướng đến tự do hóa nền chính trị cũng như cấu trúc kinh tế. Trong bài phát biểu tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh đã nhấn mạnh rằng hệ thống chính trị của Việt Nam đã được xây dựng với trọng tâm kế hoạch phát triển kinh tế. Hệ thống này “giờ đây trở thành rào cản cho sự phát triển” và “cải cách chính trị là một điều thiết yếu và cấp bách để nền kinh tế của chúng ta phát triển hơn nữa”. Đại hội Đảng lần thứ 12 diễn ra vào ngày từ 20 đến 28 tháng Một năm 2016 lẽ ra phải là một thời điểm quan trọng để Đảng giới thiệu những chương trình cải cách đi tắt đón đầu. Tuy nhiên, đại hội đã kết thúc bằng việc Đảng Cộng sản Việt Nam không hề quan tâm đến vấn đề tái cơ cầu bộ máy chính trị – một vấn đề được xem là vô cùng cần thiết. Những lời kêu gọi đổi mới toàn diện và triệt để cũng không còn là xa lạ, nhiều chính sách đã được kêu gọi từ ngay thời kì bắt đầu thực hiện chính sách Đổi mới vào năm 1986. Vào cuối những năm 1980, một vài đại biểu Quốc hội – bao gồm các lãnh đạo nòng cốt như Trần Xuân Bách – cũng kêu gọi thúc đẩy các đại biểu đi theo chế độ dân chủ và kiêm nhiệm nhiều chức vụ. Trong cuộc viếng thăm Việt Nam, bà Madelein K. Albright – cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ – cũng có những chia sẻ với các nhà lãnh đạo của Việt Nam. Bà chia sẻ rằng trong suốt thập kỉ vừa qua, Đổi mới đã mang lại cho Việt Nam những thành tựu đáng kể, nhưng những gì bây giờ cần làm là thực hiện quá trình Đổi mới 2. Bà gọi “Đổi mới 2” để chỉ những chuyển biến về việc mở cửa kinh tế và chính trị. Hai...

Read More
Bất bình đẳng và toàn cầu hoá (II)
Mar07

Bất bình đẳng và toàn cầu hoá (II)

Thiên Thanh chuyển ngữ, CTV Phía Trước François Bourguignon, Foreign Affairs (Số Tháng Một/Hai 2016) Người giàu thì ngày càng giàu hơn trong khi người nghèo thì không theo kịp Khi nói tới sự giàu có và thu nhập, người ta thường có xu hướng so sánh chính bản thân họ với những người họ tiếp xúc xung quanh hơn là những người sống xa tít tắp ở nửa kia địa cầu. Ví dụ như những người dân bình thường ở Pháp có lẽ cũng chẳng quan tâm bao nhiêu người Trung Quốc có thu nhập trên mức sống trung bình, nhưng họ sẽ chắc chắn để ý nếu họ có vẻ thụt hậu so với những người Pháp sống quanh họ. Tuy nhiên, khi nói về bất bình đẳng toàn cầu, nó chỉ hợp lí khi ta tiếp cận thế giới từ góc nhìn là một cộng đồng. Ví dụ như về tài chính, chúng ta không chỉ thấy sự khác biệt giữa mức sống của người Pháp với nhau mà còn sự chênh lệch giữa những người giàu Pháp và người nghèo ở Trung Quốc, hoặc ngược lại, giữa người Pháp nghèo và người Trung Quốc giàu. Khi nhìn nhận thế giới theo lăng kính này, chúng ta cần phải lưu ý một vài đặc điểm sau. Đầu tiên chúng ta có thể thấy rằng ở bất cứ quốc gia nào, tình trạng bất bình đẳng nội địa ngày một gia tăng. Điều đó cũng không có gì là quá bất ngờ, bởi vì bất bình đẳng toàn cầu không chỉ thể hiện trong nội địa một quốc gia mà còn thể hiện qua sự chênh lệnh rất lớn về tài sản giữa các nước giàu nhất với các nước nghèo nhất trên thế giới. Thực tế có một sự kiện còn đáng chú ý hơn nữa là sự đảo chiều sâu sắc trong xu hướng bất bình đẳng ở thế kỉ 20, khi mà bất bình đẳng toàn cầu đã được giảm thiểu đáng kể từ năm 2000 (đã có xu hướng chậm đi từ những năm 1990). Xu hướng này phần lớn là nhờ vào vận may đang lên của các nước đang phát triển, cụ thể là Trung Quốc và Ấn Độ. Và khi nền kinh tế của các quốc gia này tiếp tục hội tụ với nền kinh tế của các nước đã phát triển thì bất bình đẳng toàn cầu sẽ nhanh chóng được thu hẹp khoảng cách. Tuy nhiên, ngay khi mà bất bình đẳng toàn cầu đang dần giảm đi thì bất bình đẳng trong từng quốc gia lại gia...

Read More
Vấn đề mới của châu Âu
Mar04

Vấn đề mới của châu Âu

Hatu chuyển ngữ, CTV Phía Trước Thomas Piketty, The New York Review of Books Dịch từ bản tiếng Pháp bởi Anthony Shugaar Đảng cực tả của Pháp trong mấy năm gần đây đã có số phiếu ủng hộ tăng từ 15% lên 30%, và hiện tại giảnh được 40% số phiếu ủng hộ từ rất nhiều quận. Những yếu tố góp phần làm nên kết quả này là: thất nghiệp và bài ngoại tăng cao, thất vọng sâu sắc về báo cáo tranh cử của đảng cánh hữu, và dường như mọi nỗ lực đã được thực hiện và giờ là lúc phải đi theo hướng mới. Những hậu quả này cũng xuất phát từ cách giải quyết yếu kém cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Hoa Kỳ năm 2008. Do chúng ta, những người châu Âu đã không đề ra được thể chế và chính sách phù hợp nên đã khiến cuộc khủng khoảng tài chính lan thành cuộc khủng hoảng dai dẳng cho khu vực 19 quốc gia dùng chung đồng euro. Chúng ta có đồng tiền chung nhưng lại có 19 nợ công khác nhau, 19 mức lãi suất khác nhau tùy vào thị trường tài chính tự do đầu cơ, 19 mức thuế doanh nghiệp để cạnh tranh với nhau, trong khi không có một mạng xã hội chung an toàn hay các chuẩn giáo dục – điều này sẽ không thể và không bao giờ đem lại hiệu quả hoạt động cho khu vực. Chỉ khi có một sự tái thiết lập mang tính xã hội và dân chủ đích thực, khuyến khích tăng trưởng và việc làm, được khởi xướng bởi một số quốc gia sẵn sàng đi đầu làm gương và phát triển thể chế chính trị mới thì mới đủ sức chống lại các cuộc bạo động mà hiện đang đe dọa châu Âu. Hè vừa rồi, trước sự thất bại nặng nề của Hy Lạp, Tổng thống Pháp François Hollande đã đề đạt lại ý tưởng tạo ra một nghị viện mới cho khu vực đồng euro. Lúc này, Pháp cần đệ trình một bản kiến nghị chi tiết với các đối tác đi đầu của mình và phải đạt được thỏa thuận. Nếu không, chương trình nghị sự sẽ được độc quyền bởi các quốc gia chọn chủ nghĩa cô lập, trong đó có Anh và Ba Lan. Ban đầu, việc các nhà lãnh đạo châu Âu – đặc biệt là Pháp và Đức – nhận ra khuyết điểm của họ là rất quan trọng. Chúng ta có thể tranh luận không hồi kết về mọi phương...

Read More
Bất bình đẳng và toàn cầu hoá (I)
Mar02

Bất bình đẳng và toàn cầu hoá (I)

Thiên Thanh chuyển ngữ, CTV Phía Trước François Bourguignon, Foreign Affairs (Số Tháng Một/Hai 2016) Người giàu thì ngày càng giàu hơn trong khi người nghèo thì không theo kịp Khi nói tới sự giàu có và thu nhập, người ta thường có xu hướng so sánh chính bản thân họ với những người họ tiếp xúc xung quanh hơn là những người sống xa tít tắp ở nửa kia địa cầu. Ví dụ như những người dân bình thường ở Pháp có lẽ cũng chẳng quan tâm bao nhiêu người Trung Quốc có thu nhập trên mức sống trung bình, nhưng họ sẽ chắc chắn để ý nếu họ có vẻ thụt hậu so với những người Pháp sống quanh họ. Tuy nhiên, khi nói về bất bình đẳng toàn cầu, nó chỉ hợp lí khi ta tiếp cận thế giới từ góc nhìn là một cộng đồng. Ví dụ như về tài chính, chúng ta không chỉ thấy sự khác biệt giữa mức sống của người Pháp với nhau mà còn sự chênh lệch giữa những người giàu Pháp và người nghèo ở Trung Quốc, hoặc ngược lại, giữa người Pháp nghèo và người Trung Quốc giàu. Xem thêm: Phần II – Hội nhập và bất bình đẳng Khi nhìn nhận thế giới theo lăng kính này, chúng ta cần phải lưu ý một vài đặc điểm sau. Đầu tiên chúng ta có thể thấy rằng ở bất cứ quốc gia nào, tình trạng bất bình đẳng nội địa ngày một gia tăng. Điều đó cũng không có gì là quá bất ngờ, bởi vì bất bình đẳng toàn cầu không chỉ thể hiện trong nội địa một quốc gia mà còn thể hiện qua sự chênh lệnh rất lớn về tài sản giữa các nước giàu nhất với các nước nghèo nhất trên thế giới. Thực tế có một sự kiện còn đáng chú ý hơn nữa là sự đảo chiều sâu sắc trong xu hướng bất bình đẳng ở thế kỉ 20, khi mà bất bình đẳng toàn cầu đã được giảm thiểu đáng kể từ năm 2000 (đã có xu hướng chậm đi từ những năm 1990). Xu hướng này phần lớn là nhờ vào vận may đang lên của các nước đang phát triển, cụ thể là Trung Quốc và Ấn Độ. Và khi nền kinh tế của các quốc gia này tiếp tục hội tụ với nền kinh tế của các nước đã phát triển thì bất bình đẳng toàn cầu sẽ nhanh chóng được thu hẹp khoảng cách. Tuy nhiên, ngay khi mà bất bình đẳng toàn cầu đang dần giảm...

Read More
%d bloggers like this: