Trung quốc có thật sự muốn trật tự quốc tế “công bằng và ngay thẳng” hay không?
Oct13

Trung quốc có thật sự muốn trật tự quốc tế “công bằng và ngay thẳng” hay không?

Phạm Nguyên Trường dịch Shaheli Das, The Diplomat Điều Trung Quốc thực sự muốn là gia tăng sức mạnh của mình trong nền quản trị thế giới. Tháng trước, đã có nhiều cuộc thảo luận về việc liệu Bắc Kinh có thể định hình nền quản trị thế giới tại Hội nghị Thượng đỉnh G20 được tổ chức tại Hàng Châu, Trung Quốc, hay không. Ngoài ra, cải cách nền quản trị toàn cầu sẽ vẫn là vấn đề then chốt trong cuộc thảo luận tại Hội nghị Thượng đỉnh BRICS (các nước Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi – ND) sẽ được tổ chức ở Goa, Ấn Độ, vào tháng 10 năm 2016. Tại sao vấn đề cải cách nền quản trị toàn cầu lại là mối quan tâm chủ chốt của Trung Quốc và Bắc Kinh tìm cách đạt được mục tiêu của mình như thế nào? Hiện nay Trung Quốc không còn chỉ đơn thuần là cường quốc ở châu Á nữa; phải coi nước này là cường quốc thế giới. Trên thực tế, tất cả các vấn đề quốc tế lớn hiện nay đều cần Trung Quốc tham gia. Như vậy là, địa vị siêu cường làm cho Trung Quốc có quyền hơn trong việc thiết lập chương trình nghị sự của toàn thế giới. Trong các diễn đàn đa phương, Trung Quốc đòi hỏi cải cách nền quản trị toàn cầu. Đấy trước hết là những cuộc cải cách liên quan tới việc tái cơ cấu các thiết chế quốc tế, ví dụ các tổ chức được thành lập ở Bretton Woods (trong đó có Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế) và Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (HĐBA). Trong nỗ lực thực hiện những cuộc cải cách như vậy, cuối cùng, Trung Quốc đã bắt tay vào quá trình xây dựng các thiết chế toàn cầu của chính mình. Đấy là thành lập Quỹ Con Đường Tơ Lụa, tăng cường liên kết và giao thương trong khuôn khổ Con đường Tơ lụa trên biển và sáng kiến Một Vành Một Con Đường; Ngân hàng Phát triển Mới (NDB) do các nước BRICS dẫn dắt; Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng Châu Á (AIIB). Hiện nay Trung Quốc không còn chỉ đơn thuần là cường quốc ở châu Á nữa; phải coi nước này là cường quốc thế giới. Trên thực tế, tất cả các vấn đề quốc tế lớn hiện nay đều cần Trung Quốc tham gia. Như vậy là, địa vị siêu cường làm cho Trung Quốc có quyền hơn trong việc...

Read More
Toàn cầu hoá và các giới bất mãn mới
Oct05

Toàn cầu hoá và các giới bất mãn mới

TS Đỗ Kim Thêm dịch, CTV Phía Trước Joseph E. Stiglitz, Project-Syndicate Mười lăm năm trước, tôi đã viết một cuốn sách nhỏ tựa “Toàn cầu hóa và Các giới bất mãn“, để mô tả sự phản đối ngày càng tăng ở các nước đang phát triển đối với các cải cách đang lan rộng khắp thế giới. Dường như có một điều bí ẩn: người dân ở các nước đang phát triển được biết rằng toàn cầu hóa sẽ làm tăng phúc lợi khắp nơi. Nếu thế, tại sao đã có rất nhiều người trở nên căm thù với trào lưu này? Hiện nay, giới đối kháng toàn cầu hóa ở các thị trường mới nổi và các nước đang phát triển đã có thêm được sự tham gia của hàng chục triệu người ở các nước tiên tiến. Các cuộc thăm dò dư luận, bao gồm cả một nghiên cứu nghiêm túc của Stanley Greenberg và các cộng sự viên tại Học viện Roosevelt, cho thấy rằng thương mại là một trong những nguồn chính của sự bất mãn đối với một phần lớn của người Mỹ. Các quan điểm tương tự cũng thể hiện ở châu Âu. Các nhà lãnh đạo chính trị của chúng ta – và một vài nhà kinh tế – nói sẽ làm cho tất cả mọi người được khá hơn mà sao lại bị chỉ trích thậm tệ như vậy? Đôi khi có một câu trả lời mà người ta nghe được từ các nhà kinh tế theo trường phái tân tự do. Họ ủng hộ cho những chính sách này vì mọi người khá hơn. Họ không hiểu vấn đề. Bất mãn là vấn đề cho các bác sĩ tâm thần, không phải cho các nhà kinh tế. Nhưng dữ liệu về thu nhập cho thấy những người theo trường phái tân tự do có thể được hưởng lợi từ việc điều trị này. Phận lớn dân chúng ở các nước tiên tiến đã không hưởng lợi: ở Mỹ, 90% đã phải chịu đựng tình trạng trì trệ về thu nhập trong một phần ba thế kỷ. Thu nhập bình quân của một nam công nhân toàn thời gian thực sự là thấp hơn trong tình trạng thực tế (sau khi điều chỉnh giá bị lạm phát) so với 42 năm trước đây. Trong tận cùng của bảng lương, tiền lương thực tế được so sánh bằng với lương cách đây 60 năm. Các hiệu ứng của sự khó khăn kinh tế và chuyển dịch mà nhiều người Mỹ đang trải nghiệm thậm chí còn thể hiện rõ trong các...

Read More
Tại sao Việt Nam trì hoãn phê chuẩn Hiệp định TPP?
Sep30

Tại sao Việt Nam trì hoãn phê chuẩn Hiệp định TPP?

Lê Hồng Hiệp, trích từ NCQT Nguồn: Today Online Nhiều nhà quan sát cảm thấy bất ngờ khi việc phê chuẩn Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) không được đưa vào chương trình của kỳ họp thứ hai (khóa 14) của Quốc hội Việt Nam, dự kiến sẽ khai mạc vào ngày 20 tháng 10 tới. Như vậy, hiệp định thương mại này sẽ không được Việt Nam phê chuẩn ít nhất cho đến khoảng tháng 4 năm sau, khi Quốc hội nhóm họp trở lại. Thông tin này gây thất vọng cho những người ủng hộ TPP, đặc biệt là khi Việt Nam được cho sẽ là quốc gia hưởng lợi lớn nhất trong số 12 thành viên của Hiệp định. TPP sẽ không chỉ giúp thúc đẩy GDP, hoạt động xuất khẩu và việc thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam, mà nó còn giúp đẩy nhanh các cải cách quan trọng vốn thiết yếu cho sự phát triển kinh tế về lâu dài của đất nước. Đây thực ra là lần thứ hai Việt Nam trì hoãn việc phê chuẩn Hiệp định. Đầu năm nay, các nhà chức trách Việt Nam thông báo rằng Hiệp định sẽ được trình lên phiên họp đầu tiên của Quốc hội vào tháng 7 để phê chuẩn, nhưng cuối cùng việc này đã không xảy ra. Liệu có “uẩn khúc” gì đằng sau quyết định của Việt Nam không? Hoa Kỳ và các thành viên khác của TPP có nên cảm thấy lo lắng? Chuẩn bị cho TPP Đầu tiên, cần lưu ý rằng hồi tháng Giêng năm nay, Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã bỏ phiếu nhất trí tán thành hiệp định. Điều này làm cho việc Quốc hội phê chuẩn hiệp định chủ yếu mang tính thủ tục mà thôi. Khi giải thích quyết định chưa phê chuẩn hiệp định gần đây, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho rằng Việt Nam cần phải “xem xét tình hình toàn cầu, đánh giá hành động của các nước thành viên khác và chờ đợi kết quả của cuộc bầu cử tổng thống Mỹ “. Rõ ràng, sự không chắc chắn ở Washington về tương lai của TPP – nơi mà cả hai ứng cử viên tổng thống đều chống lại hiệp định – là một lý do quan trọng khiến Việt Nam quyết định trì hoãn việc phê chuẩn. Các lãnh đạo Việt Nam có thể không muốn gặp phải một tình huống “việt vị” khi mà Hà Nội đã phê chuẩn hiệp định nhưng Washington thì không....

Read More
Chính giới cánh tả bất lực trước các vấn đề toàn cầu hoá và mị dân
Sep29

Chính giới cánh tả bất lực trước các vấn đề toàn cầu hoá và mị dân

TS Đỗ Kim Thêm dịch, CTV Phía Trước Dano Rodrik, Project-Syndicate Khi thế giới chao đảo từ cú sốc trong việc nước Anh quyết định ra khỏi Liên Âu, thì hai giới chính khách và kinh tế ngộ ra rằng họ đã đánh giá quá thấp về sự mong manh chính trị của các hình thức hiện nay về toàn cầu hóa. Cuộc nổi loạn của quần chúng dường như đang thể hiện qua các hình thức đa dạng và trùng lấp nhau: khẳng định lại các bản sắc địa phương và quốc gia, đòi hỏi nhiều kiểm soát hơn về dân chủ và trách nhiệm giải trình, từ bỏ các chính đảng trung dung, và không tin cậy nơi các giới thượng lưu và chuyên gia. Phản ứng dữ dội này có thể dự đoán được. Một số nhà kinh tế, trong đó có tôi, đã cảnh báo về những hậu quả của việc toàn cầu hóa kinh tế là nó đã đẩy ra ngoài các giới hạn của các định chế nhằm điều tiết, tạo ổn định và hợp pháp đối với nền thị trường. Việc thổi phòng toàn cầu hóa trong lĩnh vực thương mại và tài chính nhằm tạo ra các thị trường thế giới hội nhập không biên giới đã làm phân hoá các xã hội trong nước. Điều ngạc nhiên lớn hơn là khuynh hướng thiên về cánh hữu rõ rệt trong các phản ứng chính trị thành hình. Tại châu Âu, số người dân theo chủ thuyết dân tộc và người dân bản địa theo lối chính trị mị dân đã tăng lên đáng kể, trong khi giới cánh tả chỉ thắng thế ở một vài nơi như Hy Lạp và Tây Ban Nha. Tại Hoa Kỳ, người mị dân cánh hữu như Donald Trump đã tìm cách thắng thế để đẩy lui giới quyền thế cố hữu trong Đảng Cộng hòa, trong khi Bernie Sanders, người theo cành tả, đã không thể vượt qua được Hillary Clinton, người theo phái trung dung. Khi tinh thần đồng thuận về việc tạo ra một nền tảng chính trị mới đang nổi lên và được thừa nhận một cách miễn cưỡng, thì toàn cầu hóa làm nổi bật các vấn đề phân chia giai cấp giữa những người có kỹ năng và nguồn lực với những người không có, khi người có thì lại biết cách tận dụng được lợi thế của các thị trường toàn cầu. Sự cách biệt về thu nhập và giai cấp, trái ngược với sự phân chia theo bản sắc dựa trên chủng tộc, sắc tộc hay tôn giáo,...

Read More
Những điều cần biết về G20
Sep28

Những điều cần biết về G20

Hương Ly chuyển ngữ, CTV Phía Trước Rosamond Hutt, WEF Bạn có biết rằng không chỉ có 20 nước thành viên trong G20? Với việc những nhà lãnh đạo của thế giới tụ họp ở hội nghị năm nay tại Hàng Châu, Trung Quốc, chúng ta có thể sơ lược vì sao có tên gọi G20, những ai được mời tới và tại sao lại có hơn 20 quốc gia trong nhóm. G20 là gì? G20, viết tắt của “Group of 20”, được thành lập bởi 19 quốc gia: Argentina, Úc, Brazil, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức, Ấn Độ, Indonesia, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mexico, Nga, Ả rập, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kì, Anh Quốc và Hoa Kỳ, cộng thêm cả khối Liên minh châu Âu. Cùng nhau, các thành viên của nhóm chiếm khoảng 85% nền kinh tế thế giới; đó là khoảng ¾ nền thương mại thế giới và 2/3 dân số thế giới. Họ bàn luận những gì? G20 bắt đầu vào năm 1999, sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, là một diễn đàn cho các bộ trưởng tài chính và các thống đốc ngân hàng trung ương từ các nền kinh tế phát triển lớn và các nền kinh tế đang phát triển nhằm thảo luận về các vấn đề tài chính toàn cầu. Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, G20 phát triển lên thành một hội nghị cho những nhà lãnh đạo, là nơi để các tổng thống và thủ tướng có thể ngồi lại cùng nhau hai ngày để giải quyết các vấn đề kinh tế thế giới. Những cuộc gặp mặt thành công của các lãnh đạo G20 được tổ chức ở Washington, DC vào năm 2008, London vào đầu năm 2009 và Pittsburgh vào cuối năm 2009, và đã trở thành một thông lệ thường niên. Chạy đua cho các cuộc hội nghị cấp cao, các cựu viên chức được biết đến như “sherpas” (người dân Himalaya) đã bàn luận kỹ lưỡng các vấn đề cho cuộc thảo luận, với mục đích là đưa các thành viên G20 đạt được một thỏa thuận tại hội nghị. Cũng giống như sherpas tại Himalayas, họ giúp chỉ dẫn lãnh đạo của họ qua những vùng địa hình khó khăn, và hoạt động ngoại giao bằng việc đi nhiều nơi. Ngoài ra, G20 cũng có những cuộc gặp mặt của các bộ trưởng tài chính và thống đốc ngân hàng trung ương, đại biểu thương mại và các nhóm hoạt động chống tham nhũng. Ai là khách mời? Nhiệm kì chủ tịch G20 giữa các thành...

Read More
Vấn đề nợ công của Trung Quốc
Sep15

Vấn đề nợ công của Trung Quốc

Phạm Nguyên Trường dịch David Lipton, Project-Syndicate LND: Trung Quốc phải học ngay ba bài học: “Thứ nhất, chính quyền phải hành động một cách nhanh chóng và hiệu quả, để vấn đề nợ của công ty hiện nay không trở thành vấn đề nợ mang tính hệ thống trong tương lai. Thứ hai, họ phải làm việc với cả các chủ nợ lẫn con nợ – một số nước chỉ giải quyết với một trong hai phía, tức là gieo rắc hạt giống cho những vấn đề trong tương lai. Cuối cùng, phải xác định được và cải cách những cơ cấu quản trị đã gây ra những vấn đề đó. Ít nhất, Trung Quốc cần một hệ thống hiệu quả nhằm giải quyết vấn đề phá sản; phải có quy định nghiêm ngặt về đánh giá rủi ro; cải thiện công tác kế toán, lập dự phòng cho các khoản thiệt hại về tín dụng, và luật lệ về công khai tài chính”. Và đấy cũng là những bài học mà chính phủ Việt Nam phải học trước khi quá muộn. **** Trong mấy năm gần đây, tốc độc phát triển kinh tế Trung Quốc đã giảm, nhưng vẫn khá mạnh mẽ: đóng góp khoảng một phần ba tổng số tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Kinh tế Trung Quốc cũng trở nên bền vững hơn, song hành với thay đổi mô hình tăng trưởng, từ đầu tư và xuất khẩu sang đáp ứng nhu cầu và dịch vụ trong nước. Trước thềm hội nghị thượng đỉnh G20 vào tháng tới ở Hàng Châu, Trung Quốc đã lớn tiếng kêu gọi cam kết với cải cách cơ cấu nhằm kích thích tăng trưởng trong các nền kinh tế tiên tiến và các thị trường mới nổi. Nhưng Trung Quốc đang gặp những rủi ro nghiêm trọng ngay ở trong nước. Trước hết, tín dụng ở trong nước vẫn tiếp tục phát triển với một tốc độ quá cao, khó mà bền vững, tổng nợ của các công ty đã lên đến mức nguy hiểm. Theo báo cáo thường niên của Quỹ Tiền tệ quốc tế về kinh tế Trung Quốc, mới được công bố trong thời gian gần đây, tín dụng đang tăng nhanh gấp đôi sản phẩm đầu ra. Tín dụng đang tăng nhanh trong cả khu vực tư nhân phi tài chính lẫn trong khu vực tài chính đang phình ra và quyện chặt lấy nhau, và vẫn chưa minh bạch. Hơn nữa, trong khi, theo tiêu chuẩn quốc tế, tăng trưởng tín dụng như thế là cao – đây là chỉ số quan trọng...

Read More
Tôn giáo nào phát triển nhanh nhất thế giới?
Sep12

Tôn giáo nào phát triển nhanh nhất thế giới?

CTV Phía Trước chuyển ngữ Adam Shirley, WEF Hồi giáo đang phát triển nhanh hơn so với bất kỳ tôn giáo nào khác, theo một nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Pew. Trên thực tế, hầu hết các nhóm tôn giáo lớn trên thế giới dự kiến sẽ gia tăng số lượng tuyệt đối vào năm 2050. Nghiên cứu chỉ ra rằng, Hồi giáo sẽ vượt qua Kitô giáo và trở thành tôn giáo lớn nhất của thế giới vào năm 2070. Những người không theo bất kỳ tôn giáo nào, chẳng hạn như những người vô thần hay những người tin rằng không ai có thể thấu hiểu được sự tồn tại hay bản chất của Thượng Đế, sẽ giảm tỉ lệ trên tổng dân số của thế giới vào năm 2050, mặc dù số lượng nhóm người này đang gia tăng tại một số quốc gia thế tục hơn so với các nước khác như Pháp và Hoa Kỳ. Sự gia tăng số người theo đạo ở các tôn giáo lớn là nhờ vào một phần lớn tỷ lệ sinh và quy mô dân số trẻ ở các quốc gia ít thế tục. Năm 2050, Kitô giáo vẫn sẽ là nhóm tôn giáo lớn nhất thế giới, với khoảng một phần ba dân số thế giới trung thành với các nhánh khác nhau của tôn giáo này. Hồi giáo vẫn đang đuổi theo khá nhanh, mặc dù các tín đồ Hồi giáo là nhóm tôn giáo lớn duy nhất dự kiến sẽ tăng nhanh hơn so với dân số thế giới theo một tổng thể. Một trong những yếu tố chính thúc đẩy sự tăng trưởng trong tương lai của các tôn giáo là vùng địa lý mà các nhóm tôn giáo đang tập trung ở đó. Các tôn giáo có nhiều tín đồ ở các nước đang phát triển – nơi có tỷ lệ sinh cao, và tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh nhìn chung đang giảm – dường như sẽ gia tăng nhanh chóng. Như vậy, phần lớn sự gia tăng trên toàn thế giới của Hồi giáo và Kitô giáo sẽ diễn ra tại các khu vực trong châu Phi, xung quanh Sahara, nơi có dân số dự kiến sẽ tăng 12% vào năm 2050. Ngược lại, số người trên thế giới không theo tôn giáo nào tập trung nhiều ở những nơi có mức sinh thấp và dân số già, chẳng hạn như Bắc Mỹ, châu Âu, Trung Quốc và Nhật Bản. Tỷ lệ sinh thấp ở Trung Quốc và Nhật Bản là nguyên nhân dẫn đến việc giảm tỉ...

Read More
Liệu truyền thông xã hội có giúp mối quan hệ giữa chính phủ và người dân hay không?
Sep05

Liệu truyền thông xã hội có giúp mối quan hệ giữa chính phủ và người dân hay không?

CTV Phía Trước chuyển ngữ James Toscano, WEF Điều này phụ thuộc vào người bạn hỏi là ai. Tùy thuộc vào nơi bạn sống, có thể bạn theo dõi bộ phận vận tải địa phương mình đang làm việc trên Twitter để cập nhật tình hình công trình, có thể bạn xem video trên Periscope về phiên họp hội đồng thành phố hoặc đọc blog trực tiếp của các cuộc họp hội đồng trường công lập. Trên toàn thế giới, chính phủ và nhân dân đều đang tham gia vào truyền thông xã hội. Ví dụ, vào tháng Sáu vừa qua, cơ quan chính phủ ở thị trấn Tây Ban Nha đã bỏ cách tiếp cận truyền thống của mình và thay đó bằng tương tác trên Twitter để phục vụ người dân địa phương. Sau cơn Bão Sandy năm 2012, Twitter đã giúp các cơ quan quản lý tình trạng khẩn cấp ở vùng Đông Bắc Hoa Kỳ mở rộng phạm vi tiếp cận, cung cấp “đường cứu sinh” cho những người dân cần thông tin quan trọng nhưng lại không có điện. Vào buổi sáng mùa xuân năm đó, hai hội thảo quan trọng của Mỹ đã diễn ra cùng ngày trên phương tiện truyền thông xã hội của chính phủ, một chương trình được dẫn dắt bởi các chuyên gia truyền thông cấp cao, và một được dẫn dắt bởi những học giả. Quan sát viên của mỗi chương trình đã thảo luận những ý tưởng khác biệt về tiềm năng của truyền thông xã hội, nhằm mục đích cải thiện mối quan hệ giữa chính phủ và nhân dân. Những người ở phe này trả lời những phàn nàn của người dân trên Facebook hay cuộc gặp gỡ công chúng trực tiếp trên Twitter bằng cách đưa ra những quan điểm tích cực về việc truyền thông xã hội có ảnh hưởng tốt như thế nào đến sự tương tác bầu cử chính phủ. Tuy nhiên, một vài chuyên gia trong giới học thuật về chính sách công lại tỏ ra không hài lòng về cách sử dụng truyền thông xã hội của chính phủ. Tại sao hai nhóm này lại có những quan điểm khác nhau như vậy về những gì đang xảy ra? Với tư cách là một học giả chuyên nghiệp, người kết nối hai quan điểm này với nhau, tôi đã tìm ra một vài sự thật ít người biết. Mất hi vọng từ bên trong tháp ngà Vào ngày 8/04/2016, các học giả từ rất nhiều trường cũng như tổ hợp những người có chuyên môn từ dọc Florida đến...

Read More
%d bloggers like this: