Trục Bắc Kinh – Moscow
Oct11

Trục Bắc Kinh – Moscow

Phạm Nguyên Trường dịch Theo The Wall Street Journal Cuộc tập trận chung của hải quân hai nước thể hiện mục tiêu chiến lược của hai bên: đẩy Hoa Kỳ ra khỏi khu vực này. Trung Quốc và Nga đã kết thúc cuộc tập trận của hải quân hai nước kéo dài tám ngày ở Biển Đông, và lần này địa địa điểm cũng đồng thời là một thông điệp. Hai nước độc tài này đang mở rộng sự hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau trong những vụ tranh chấp lãnh thổ – xu hướng này có thể làm gia tăng bất ổn trong khu vực, kéo dài từ Đông Á đến Trung Âu. Một vài ngày trước khi cuộc tập trận bắt đầu – tập trung chủ yếu vào cuộc chiến chống tàu ngầm, hãng thông tấn Tân Hoa Xã gọi những hành động này là “chiếm các hòn đảo”, Vladimir Putin và Tập Cận Bình đã có cuộc họp song phương lần thứ 15, bên lề Hội nghị thượng đỉnh nhóm G-20 ở Hàng Châu. Putin tuyên bố ủng hộ những đòi hỏi chủ quyền hung hãn của Bắc Kinh ở Biển Đông, cũng như phản đối “bất kỳ sự can thiệp nào của bên thứ ba”, rõ ràng là nói đến Hoa Kỳ rồi. Thái độ khúm núm của Putin trước Bắc Kinh tạo ra một số rủi ro. Việt Nam, nước phản đối mạnh mẽ hành vi của Trung Quốc, là nước mua nhiều vũ khí Nga nhất, cũng là nước cho lực lượng quân sự Nga tiếp cận với các sân bay và hải cảng chiến lược ở Vịnh Cam Ranh. Putin cũng bày tỏ ủng hộ quan hệ với Hà Nội, và với những lân bang của nước này, khi ông ta tham gia Hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo Đông Nam Á ở Sochi vào tháng 5 vừa qua, tuy nhiên, việc hạ mình trước Bắc Kinh của ông ta đã gửi cho người ta thông điệp ngược lại. Putin có đủ lý do để không tin Trung Quốc, vì nước này đang làm suy yếu ảnh hưởng của ông ta ở Trung Á, và đang gia tăng vị thế ở Bắc Cực, và có thể đang lên kế hoạch cho vùng Viễn Đông Nga, ở đây có khoảng hai triệu người nhập cư bất hợp pháp từ Trung Quốc đang làm việc, họ là thợ mỏ, ngư dân và nông dân, vì Nga không đủ lực lượng lao động để khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên của khu vực này. Trong những năm gần đây, thương...

Read More
Liên minh Hoa Kỳ-Việt Nam: Triển vọng và thách thức (I)
Oct10

Liên minh Hoa Kỳ-Việt Nam: Triển vọng và thách thức (I)

CTV Phía Trước chuyển ngữ Anders Corr, Forbes Hành động gia tăng quân sự và lời tuyên bố biển đảo ngang ngược của Trung Quốc chống lại Việt Nam đang gây đe dọa không chỉ cho Việt Nam mà còn cho cả hệ thống quốc tế được phát triển suốt thế kỉ qua. Hội Quốc Liên, được hình thành năm 1919 và Liên Hiệp Quốc, được hình thành năm 1945, được coi là những hệ thống dựa trên luật với mục đích giảm thiểu xung đột quân sự. Thế nhưng, Trung Quốc từ chối tuân thủ luật pháp quốc tế và dường như đã quên đi lịch sử chiến tranh đầy đau thương trước khi các thể chế giữ gìn hòa bình này được hình thành. Quả thực, Trung Quốc đang rất quyết tâm theo đuổi giấc mộng mở rộng lãnh thổ, cho dù có phải gây phương hại đến các nước láng giềng. Có lẽ, bàn tay của Trung Quốc bị thúc đẩy bởi một dư luận luôn thèm khát oxy thông tin do bị kiểm soát báo chí chặt chẽ. Nhưng nếu đã kiểm soát báo chí, Trung Quốc có lẽ cũng nên kiểm soát tinh thần dân tộc quá cao của nhân dân nước mình. Bất kể một người có đứng về bên nào trong cuộc tranh luận trí thức rởm về nguyên nhân gây ra xung đột, sự hung hăng trong vấn đề lãnh thổ của Trung Quốc là rõ như ban ngày. Kiềm chế Trung Quốc sẽ cần đến sự hợp tác song phương và đa phương gia tăng về các mặt an ninh, kinh tế giữa các đối tác Châu Á Thái Bình Dương. Một liên minh đa phương rộng lớn là tốt nhất để có thể ngăn chặn Trung Quốc gây ra xung đột quân sự ở Châu Á. Thậm chí, liên minh song phương cũng đã đủ tốt, trong đó bao gồm liên minh giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Do sự vượt trội của nền kinh tế và quân sự hiện tại của Hoa Kỳ so với Trung Quốc, Hoa Kỳ là nhân tố hợp tác song phương chủ yếu cho các quốc gia đang kiện cáo ở châu Á để bảo vệ vùng biển hay quyền lãnh thổ của mình. Một liên minh mạnh mẽ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ lập tức thúc đẩy việc ngăn cản Trung Quốc, gia tăng thương mại kinh tế để gây ảnh hưởng đến Trung Quốc, đưa Việt Nam ra khỏi phe phái của Trung Quốc và Nga, đẩy mạnh châu Á trở thành một liên minh đa phương vững mạnh...

Read More
Tại sao dân chúng thích Trump?
Oct08

Tại sao dân chúng thích Trump?

Phạm Nguyên Trường dịch David R. Carlin, American Thinker Ngoài lựa chọn Trump ra thì còn cách nào hơn để báo thù giới tinh hoa? Trong vòng 30 hay 40 năm qua, nhóm người da trắng không giàu có, không học hành đến nơi đến chốn và không phải là những người theo phái tự do bị những người theo phái tự do, được học hành đầy đủ và giàu có coi thường. Trong đó có cả những người còn trẻ, thậm chí hiện nay còn rất trẻ, đang khát khao trở thành những người da trắng theo phái tự do giàu có và học hành đến nơi đến chốn. Tóm lại, dân chúng bình thường bị giới tinh hoa hiện nay và tương lai coi thường ra mặt. Giới tinh hoa nói với người dân bình thường: “Các vị là những kẻ phân biệt chủng tộc, dâm ô, kì thị người đồng tính, kì thị người ngoại quốc, kì thị người Hồi giáo, và có thể một ngày nào đó – ai có thể ngạc nhiên? – trở thành kì thị người chuyển giới. Các vị là những người ngu dốt và thích bạo lực. Các vị chẳng biết gì về khoa học, chưa nói tới sinh học tiến hóa và khoa học vế khí hậu. Các vị chẳng học được bài học nào từ lịch sử hết. Các vị thích súng chẳng khác gì bọn tội phạm hình sự. Tôn giáo của các vị là sự pha trộn giữa mê tín và đạo đức giả. Các vị nhận là theo tôn giáo của tình yêu, nhưng các vị dùng Công giáo làm mặt nạ che đậy lòng hận thù. Tóm lại, tôi phải đau khổ mà nói rằng các vị là những người xấu xa”. Hillary đã dùng những từ ngữ tương tự như thế cách đây mấy tuần khi nói chuyện với một nhóm người da trắng, theo phái tự do, giàu có, nhưng hiện nay cụm từ “bọn người xấu xa” mà bà sử dụng – đã được phần lớn những người khác trong thính phòng dùng từ nhiều năm nay rồi. Những người bình thường có thể nghĩ rằng giới tinh hoa có lẽ sẽ vui nếu nước Mỹ thoát được những kẻ xấu xa này, hay chí ít là thoát khỏi đa số trong bọn họ. Sẽ là tốt hơn nếu Hợp Chúng Quốc Hoa Kì chỉ gồm toàn những người “không xấu xa”, những người tốt – tức là chỉ gồm những người theo phái tự do da trắng, người Mĩ gốc Phi, người Mĩ Latin, người đồng tính nam và nữ,...

Read More
Chính giới cánh tả bất lực trước các vấn đề toàn cầu hoá và mị dân
Sep29

Chính giới cánh tả bất lực trước các vấn đề toàn cầu hoá và mị dân

TS Đỗ Kim Thêm dịch, CTV Phía Trước Dano Rodrik, Project-Syndicate Khi thế giới chao đảo từ cú sốc trong việc nước Anh quyết định ra khỏi Liên Âu, thì hai giới chính khách và kinh tế ngộ ra rằng họ đã đánh giá quá thấp về sự mong manh chính trị của các hình thức hiện nay về toàn cầu hóa. Cuộc nổi loạn của quần chúng dường như đang thể hiện qua các hình thức đa dạng và trùng lấp nhau: khẳng định lại các bản sắc địa phương và quốc gia, đòi hỏi nhiều kiểm soát hơn về dân chủ và trách nhiệm giải trình, từ bỏ các chính đảng trung dung, và không tin cậy nơi các giới thượng lưu và chuyên gia. Phản ứng dữ dội này có thể dự đoán được. Một số nhà kinh tế, trong đó có tôi, đã cảnh báo về những hậu quả của việc toàn cầu hóa kinh tế là nó đã đẩy ra ngoài các giới hạn của các định chế nhằm điều tiết, tạo ổn định và hợp pháp đối với nền thị trường. Việc thổi phòng toàn cầu hóa trong lĩnh vực thương mại và tài chính nhằm tạo ra các thị trường thế giới hội nhập không biên giới đã làm phân hoá các xã hội trong nước. Điều ngạc nhiên lớn hơn là khuynh hướng thiên về cánh hữu rõ rệt trong các phản ứng chính trị thành hình. Tại châu Âu, số người dân theo chủ thuyết dân tộc và người dân bản địa theo lối chính trị mị dân đã tăng lên đáng kể, trong khi giới cánh tả chỉ thắng thế ở một vài nơi như Hy Lạp và Tây Ban Nha. Tại Hoa Kỳ, người mị dân cánh hữu như Donald Trump đã tìm cách thắng thế để đẩy lui giới quyền thế cố hữu trong Đảng Cộng hòa, trong khi Bernie Sanders, người theo cành tả, đã không thể vượt qua được Hillary Clinton, người theo phái trung dung. Khi tinh thần đồng thuận về việc tạo ra một nền tảng chính trị mới đang nổi lên và được thừa nhận một cách miễn cưỡng, thì toàn cầu hóa làm nổi bật các vấn đề phân chia giai cấp giữa những người có kỹ năng và nguồn lực với những người không có, khi người có thì lại biết cách tận dụng được lợi thế của các thị trường toàn cầu. Sự cách biệt về thu nhập và giai cấp, trái ngược với sự phân chia theo bản sắc dựa trên chủng tộc, sắc tộc hay tôn giáo,...

Read More
Những điều cần biết về G20
Sep28

Những điều cần biết về G20

Hương Ly chuyển ngữ, CTV Phía Trước Rosamond Hutt, WEF Bạn có biết rằng không chỉ có 20 nước thành viên trong G20? Với việc những nhà lãnh đạo của thế giới tụ họp ở hội nghị năm nay tại Hàng Châu, Trung Quốc, chúng ta có thể sơ lược vì sao có tên gọi G20, những ai được mời tới và tại sao lại có hơn 20 quốc gia trong nhóm. G20 là gì? G20, viết tắt của “Group of 20”, được thành lập bởi 19 quốc gia: Argentina, Úc, Brazil, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức, Ấn Độ, Indonesia, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mexico, Nga, Ả rập, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kì, Anh Quốc và Hoa Kỳ, cộng thêm cả khối Liên minh châu Âu. Cùng nhau, các thành viên của nhóm chiếm khoảng 85% nền kinh tế thế giới; đó là khoảng ¾ nền thương mại thế giới và 2/3 dân số thế giới. Họ bàn luận những gì? G20 bắt đầu vào năm 1999, sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, là một diễn đàn cho các bộ trưởng tài chính và các thống đốc ngân hàng trung ương từ các nền kinh tế phát triển lớn và các nền kinh tế đang phát triển nhằm thảo luận về các vấn đề tài chính toàn cầu. Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, G20 phát triển lên thành một hội nghị cho những nhà lãnh đạo, là nơi để các tổng thống và thủ tướng có thể ngồi lại cùng nhau hai ngày để giải quyết các vấn đề kinh tế thế giới. Những cuộc gặp mặt thành công của các lãnh đạo G20 được tổ chức ở Washington, DC vào năm 2008, London vào đầu năm 2009 và Pittsburgh vào cuối năm 2009, và đã trở thành một thông lệ thường niên. Chạy đua cho các cuộc hội nghị cấp cao, các cựu viên chức được biết đến như “sherpas” (người dân Himalaya) đã bàn luận kỹ lưỡng các vấn đề cho cuộc thảo luận, với mục đích là đưa các thành viên G20 đạt được một thỏa thuận tại hội nghị. Cũng giống như sherpas tại Himalayas, họ giúp chỉ dẫn lãnh đạo của họ qua những vùng địa hình khó khăn, và hoạt động ngoại giao bằng việc đi nhiều nơi. Ngoài ra, G20 cũng có những cuộc gặp mặt của các bộ trưởng tài chính và thống đốc ngân hàng trung ương, đại biểu thương mại và các nhóm hoạt động chống tham nhũng. Ai là khách mời? Nhiệm kì chủ tịch G20 giữa các thành...

Read More
Liên minh Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương – NATO (II)
Sep23

Liên minh Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương – NATO (II)

CTV Phía Trước chuyển ngữ Jonathan Masters, CFR Giới thiệu Liên Minh Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương, nền tảng về an ninh khu vực xuyên Thái Bình Dương thời kì Chiến tranh Lạnh, trong 20 năm qua đã khôi phục lại đáng kể vai trò của mình. Được thành lập năm 1949 nhằm bảo vệ mình trước sự đối đầu của Liên Xô, NATO đã phát triển để đương đầu với những mối đe dọa, từ nạn hải tặc ở khu vực Sừng châu Phi đến buôn người ở vùng Địa Trung Hải. Tuy nhiên, trong khi NATO hiện đại nhìn chung được công nhận vai trò của mình vượt ra khỏi khuôn khổ châu Âu, trong những năm qua, những động thái của Nga, cụ thể trong sự can thiệp tại Ukraine, đã xoay chuyển mối quan tâm của liên minh trở về lục địa. Những diễn biến gần đây đã phơi bày những căng thẳng chưa được giải quyết khi NATO mở rộng đến khu vực thuộc Liên Xô trước kia. Xem thêm Phần I *** Afghanistan và Lực lượng Hỗ trợ An ninh Quốc tế (ISAF) NATO viện đến điều khoản về phòng thủ tập thể (điều khoản V) lần đầu tiên sau khi vụ tấn công 11 tháng 9 diễn ra ở Mỹ, do mạng lưới khủng bố Al-Qaeda có trụ sở ở Afghanistan chủ mưu. Ngay sau khi lực lượng được Hoa Kỳ dẫn đầu lật đổ chính quyền Taliban ở Kabul, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ủy quyền xLực lượng Hỗ trợ an ninh quốc tế (ISAF) đến hỗ trợ chính quyền Afghan mới. NATO chính thức nắm quyền chỉ huy ISAF vào năm 2013, đánh dấu sự cam kết điều hành đầu tiên nằm bên ngoài châu Âu. Chuyên gia NATO Stanley Sloan trong phỏng vấn CFR từng nói: “Việc liên minh tham gia vào Afghanistan “là sự việc mang tính cách mạng. Đó là bằng chứng rằng NATO giờ đã thích nghi với những nhiệm vụ vô cùng khác biệt so với những gì người ta từng mong đợi trong thời Chiến tranh Lạnh.” Thế nhưng, một vài nhà phê bình nghi ngờ sự gắn kết nơi chiến trường của NATO tại Afghanistan. Đồng minh đã nhất trí các mục tiêu trung tâm của nhiệm vụ – chính là việc ổn định và tái xây dựng Afghanistan – nhưng một vài thành viên hạn chế lực lượng của mình khỏi việc tham gia vào các chiến dịch chống nổi loạn và các nhiệm vụ khác, một thông lệ được gọi là “cảnh báo quốc gia” (hạn chế sử...

Read More
Nền cai trị khủng bố của Duterte
Sep22

Nền cai trị khủng bố của Duterte

Aryeh Neier, Project Syndicate Nguyễn Lương Sỹ biên dịch | Nguyễn Huy Hoàng hiệu đính Trích từ trang Nguyễn Huy Hoàng Kể từ khi Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte lên nắm quyền vào cuối tháng 6 và tuyên bố một “cuộc chiến chống ma túy,” hơn 1.900 người đã bị sát hại—756 người do cảnh sát và 1.160 người khác là do “lực lượng tự vệ” (vigilantes)—theo các báo cáo của cảnh sát tính đến ngày 24 tháng 8. Duterte đang tán dương cuộc tàn sát và tuyên bố sẽ tiếp tục chương trình chống ma túy của mình chừng nào ông còn làm tổng thống. Các cơ quan thực thi pháp luật Philiippines đang theo đuổi cuộc chiến ma túy đã vứt bỏ luật lệ và bỏ qua các yêu cầu căn bản như thu thập chứng cứ, tuân thủ chuẩn mực tố tụng, hay thậm chí là mở các phiên tòa xét xử. Tổng nha Cảnh sát Philippines Ronald dela Rosa thậm chí còn đổ lỗi cho nạn nhân về cái chết của họ rằng “Nếu không chống đối cảnh sát thì họ đã sống sót.” Không thể tin được lời lý giải này cho số lượng người chết rất lớn như vậy. Trong trường hợp người ta bị bắn vì chống cự lại việc bị bắt giữ, số lượng người bị thương phải vượt xa số người tử vong—như trong các cuộc xung đột quân sự. Còn nếu phần lớn những người bị cảnh sát hoặc quân đội bắn đều chết thì chứng tỏ các tay súng phải đang xử tử những người họ đang bắt giữ. Hơn nữa, nếu tội phạm chống lại cảnh sát, số lượng sĩ quan thương vong chắc hẳn phải gia tăng đột ngột. Nhưng cảnh sát vẫn chưa báo cáo bất kỳ sự gia tăng nào về thương vong của các sĩ quan. Không bất ngờ khi Duterte đang khuyến khích những vụ giết người này. Trước đây, khi còn là thị trưởng lâu năm của thành phố Davao ở miền Nam hòn đảo Mindanao của Philippines, ông đã tiến hành một chiến dịch kích động lực lượng tự vệ tương tự và tuyên bố sẽ tiếp tục nó ở cấp độ quốc gia nếu đắc cử tổng thống. Hứa hẹn đó dường như đã góp phần vào thắng lợi tranh cử của ông, phản ánh một xu hướng lịch sử bất hạnh của chính trị Đông Nam Á. Năm 1983, Suharto, người cai trị Indonesia với một bàn tay thép từ năm 1967 đến năm 1998, đã giám sát một loạt cái chết bí ẩn, được biết đến với...

Read More
Liên Minh Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương – NATO (I)
Sep16

Liên Minh Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương – NATO (I)

CTV Phía Trước chuyển ngữ Jonathan Masters, CFR Giới thiệu Liên Minh Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương, nền tảng về an ninh khu vực xuyên Thái Bình Dương thời kì Chiến tranh Lạnh, trong 20 năm qua đã khôi phục lại đáng kể vai trò của mình. Được thành lập năm 1949 nhằm bảo vệ mình trước sự đối đầu của Liên Xô, NATO đã phát triển để đương đầu với những mối đe dọa, từ nạn hải tặc ở khu vực Sừng châu Phi đến buôn người ở vùng Địa Trung Hải. Tuy nhiên, trong khi NATO hiện đại nhìn chung được công nhận vai trò của mình vượt ra khỏi khuôn khổ châu Âu, trong những năm qua, những động thái của Nga, cụ thể trong sự can thiệp tại Ukraine, đã xoay chuyển mối quan tâm của liên minh trở về lục địa. Những diễn biến gần đây đã phơi bày những căng thẳng chưa được giải quyết khi NATO mở rộng đến khu vực thuộc Liên Xô trước kia. Xoay trục hậu Chiến tranh Lạnh Sau khi Liên Xô tan rã vào năm 1991, những nhà lãnh đạo phương Tây đã tranh luận gay gắt về đường hướng tương lai của liên minh xuyên Thái Bình Dương. Chính quyền của Tổng thống Bill Clinton ủng hộ việc mở rộng NATO để vừa có thể vươn cái ô an ninh của mình sang phía Đông lại vừa có thể củng cố những món lợi dân chủ tại khối Xô Viết cũ. Mặc khác, một vài quan chức Hoa Kỳ mong muốn rũ bỏ những cam kết của Lầu Năm Góc tại châu Âu khi mối đe dọa Liên Xô đang mờ dần. Các thành viên NATO châu Âu cũng chia rẽ về vấn đề này. London lo sợ sự mở rộng của tổ chức sẽ làm loãng liên minh, trong khi Paris lại lo việc này sẽ ảnh hưởng quá lớn đến NATO. Nhiều người Pháp hy vọng hợp nhất nhiều nhà nước Xô Viết cũ qua các thể chế châu Âu. Đồng thời, cũng có những quan ngại về việc xa lánh nước Nga. Đối với Nhà Trắng, quyết định này còn mang một ý nghĩa còn lớn hơn. Ronald D. Asmus, một trong những kiến trúc sư trí thức của công cuộc mở rộng NATO, trong “Mở cánh cửa NATO” có viết: “[Tổng thống Clinton] coi sự mở rộng NATO là một thử thách quyết định xem liệu nước Mỹ có tiếp tục tham gia vào các vấn đề quốc tế và đánh bại những quan điểm theo chủ nghĩa biệt lập và...

Read More
%d bloggers like this: