Nguồn gốc Tết Nguyên Đán
Feb08

Nguồn gốc Tết Nguyên Đán

Kiêm Thêm Trích từ việt văn mới Định Danh Tết Nguyên Đán của Việt Nam (hay còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, Tết Việt Nam hay chỉ đơn giản Tết) là dịp lễ quan trọng nhất của Việt Nam, theo ảnh hưởng văn hóa của Tết Âm lịch Trung Hoa. Trước ngày Tết, thường có những ngày khác để sửa soạn như “Tết Táo Quân” (23 tháng chạp âm lịch) và “Tất Niên” (29 hoặc 30 tháng chạp âm lịch) Vì Tết tính theo Âm lịch là lịch theo chu kỳ vận hành của Mặt Trăng nên Tết Nguyên Đán của Việt Nam muộn hơn Tết Dương lịch (còn gọi nôm na là Tết Tây). Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng). Hàng năm, Tết được tổ chức vào ngày mồng 1 tháng 1 theo âm lịch trên đất nước Việt Nam và ở một vài nước khác có cộng đồng người Việt sinh sống. Trong những ngày Tết, các gia đình sum họp bên nhau, cùng thăm hỏi người thân, mừng tuổi và thờ cùng tổ tiên… Theo phong tục tập quán, Tết thường có những điều kiêng kỵ. Nguồn Gốc Chữ “Tết” do chữ “Tiết” mà thành. Hai chữ “Nguyên đán” có gốc chữ Hán; “nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và “đán” có nghĩa là buổi sáng sớm, cho nên đọc đúng phiên âm phải là “Tiết Nguyên Đán”. Tết Nguyên đán được người Trung Hoa hiện nay gọi là “Xuân Tiết” hoặc “Nông lịch tân niên” , và vẫn là tết cổ truyền của họ, mặc dù từ năm 1949, Trung Quốc đã chính thức chuyển qua dùng dương lịch và chuyển qua gọi Tết dương lịch là Tết Nguyên đán. Do cách tính của âm lịch Việt Nam có khác với Trung Quốc cho nên Tết Nguyên đán của người Việt Nam đôi khi không hoàn toàn trùng với Xuân tiết của người Trung Quốc và các quốc gia chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa và vòng Văn hóa chữ Hán khác, mà có thể chênh lệch 1 ngày. Văn hóa...

Read More
Chúng ta là giống loài thành thị (III)
Feb06

Chúng ta là giống loài thành thị (III)

Trường Sơn chuyển ngữ, CTV Phía Trước Giới thiệu sách “Chiến thắng của Thành thị” Tác giả: Edward Glaeser. Nhà xuất bản: Macmillan. Tháng 3 năm 2011. Xem thêm: Phần I & Phần II Giới thiệu sách: Chiến thắng của Thành thị Cấu trúc đô thị có thể đứng vững trong nhiều thế kỷ, nhưng dân số đô thị thì luôn linh động. Hơn một phần tư cư dân Manhattan không sống ở đó cách đây năm năm. Người nghèo liên tục tìm đến New York, hay São Paulo, hay Mumbai để tìm vận hội mới, đó là một thực tế cần được nhấn mạnh của cuộc sống đô thị. Cái nghèo đô thị cần được đánh giá không phải trong tương quan với ngưỡng giàu nơi đô thành mà với cái nghèo nông thôn. Các khu ổ chuột ở Rio de Janeiro có thể trông thật khủng khiếp nếu so với một vùng ngoại ô thịnh vượng ở Chicago, nhưng tỷ lệ người nghèo ở Rio vẫn thấp hơn so với ở nông thôn phía đông bắc Brazil. Người nghèo không có cách nào để làm giàu nhanh chóng, nhưng họ vẫn có thể lựa chọn giữa thành phố và nông thôn, và nhiều người đã chọn thành phố. Dòng chảy của người giàu và người nghèo tìm đến thành phố làm cho khu vực đô thị luôn năng động, nhưng đừng nên phớt lờ hậu quả của những khu tập trung người nghèo. Khoảng cách gần gũi trong thành phố khiến việc trao đổi ý kiến ​​hoặc hàng hóa vốn đã dễ dàng, thì nay việc truyền bệnh hoặc lấy trộm túi xách còn dễ dàng hơn. Tất cả các thành phố lớn trên thế giới đều phải chịu đựng những thảm kịch của cuộc sống đô thị: từ bệnh tật đến tội phạm và ách tắc giao thông. Và cuộc chiến chống lại những bất cập này chưa bao giờ đến hồi kết chỉ vì lựa chọn chấp nhận hoàn cảnh một cách thụ động hoặc đơn thuần dựa vào quy luật của thị trường tự do. Vùng thành thị của Mỹ trở nên lành mạnh hơn nhiều trong thế kỷ 20 vì giới chức đã chi tiêu nhiều vào hệ thống cấp nước cũng như chính phủ liên bang đã mạnh tay đầu tư cho hầu hết mọi lĩnh vực, ngoại trừ quân đội và dịch vụ bưu chính. Những chính sách mang tính bước ngoặt được thực hiện ở các thành phố của châu Âu và Mỹ có khả năng sẽ được lặp lại trong vùng thành thị của các nước đang phát triển...

Read More
Hiến pháp Singapore – Một phân tích dựa vào đặc thù
Feb05

Hiến pháp Singapore – Một phân tích dựa vào đặc thù

Ka Đặng chuyển ngữ, CTV Phía Trước Jaclyn L. Neo, I-CONnect Tương xứng với danh hiệu là một trong những sử gia chính thống hàng đầu tại Singapore, Kevin YL Tan đã đi thẳng vào việc giới thiệu một cách đầy hiểu biết về luật hiến pháp của Singapore ngay từ lúc bắt đầu. Hiến pháp Singapore được đặt vào bối cảnh lịch sử chính trị trong lúc còn là một thuộc địa đang nảy nở của Anh, được thừa hưởng luật pháp Anh cùng với những truyền thống chính trị và pháp luật được gắn kết trong suốt cả giai đoạn thuộc địa đáng chú ý này. Bối cảnh lịch sử về pháp lý, chính trị và xã hội cho thấy nguồn gốc khai sinh hiến pháp, không kém phần quan trọng bởi vì những câu chuyện lịch sử được dùng để viện dẫn một cách sáng suốt và liên tục trong bài thuyết giảng trước công chúng nhằm để minh chứng, xác thực, và báo hiệu cho những lựa chọn hiến pháp. Nó cũng là chìa khóa giúp hiểu được những nghịch lý mà Singapore đưa ra cho chủ nghĩa hợp hiến, đặc biệt là chủ nghĩa hợp hiến tự do. Singapore không phải là một chính thể tự do và cũng không có ý định như thế. Tuy nhiên, hệ thống hiến pháp của nước này bao gồm các đặc trưng mà rõ ràng đã được phỏng theo mô hình hiến pháp của nhiều quốc gia dân chủ tự do, như Anh và Hoa Kỳ. Điều này chứng tỏ, cũng không đúng đắn khi phân loại Singapore là một nhà nước độc tài, như một số người đã lầm. Thật vậy, ông Tan miêu tả hiến pháp của Singapore thuộc về một nhà nước công xã hoặc hơi chuyên quyền. Về phương diện này, ông bị chất vấn bởi các học giả, những người tìm cách bám lấy các nghịch lý trong hệ thống hiến pháp của Singapore vì nó phơi bày một số yếu tố chuyên quyền nhưng cũng có một sự cam kết chặt mẽ với pháp quyền[1]. Ví dụ, gần đây nhất, Mark Tushnet đã xác định Singapore là trường hợp điển hình đầu tiên làm hình mẫu cho chủ nghĩa hợp hiến chuyên quyền, trong đó “các quyền tự do được bảo vệ ở mức độ trung bình, và các cuộc bầu cử thì tự do và công bằng một cách hợp lý”[2]. Ông Tan lưu ý rằng, “Singapore là một ví dụ điển hình về một nhà nước ‘chuyên quyền mềm’, một chế độ độc tài nhưng nhân từ”. Ông giải...

Read More
Chúng ta là giống loài thành thị (II)
Jan30

Chúng ta là giống loài thành thị (II)

Trường Sơn chuyển ngữ, CTV Phía Trước Giới thiệu sách “Chiến thắng của Thành thị” Tác giả: Edward Glaeser. Nhà xuất bản: Macmillan. Tháng 3 năm 2011. Xem thêm: Phần I Giới thiệu sách: Chiến thắng của Thành thị Thành phố là sự vắng mặt của không gian vật lý giữa người dân và doanh nghiệp. Chúng là sự gần gũi, đông đúc, chật chội. Chúng cho phép ta làm việc và giải trí, và thành công của chúng phụ thuộc vào nhu cầu kết nối vật lý. Trong những năm giữa thế kỷ 20, nhiều thành phố như New York bước vào thời kỳ suy thoái vì những cải tiến trong giao thông vận tải đã hạn chế lợi thế có được từ vị trí gần gũi của các nhà máy đối với khu đô thị đông đúc. Và trong suốt 30 năm qua, có những đô thị một thời vàng son đã trở lại, trong khi có những thành phố khác mới hơn đã trỗi dậy bởi vì tiến bộ công nghệ đã gia tăng lợi nhuận của những kiến ​​thức ưu việt được bồi đắp bởi những người ở gần nhau. Trong nước Mỹ, người lao động trong khu vực đô thị và các thành phố lớn kiếm được nhiều hơn 30% mức thu nhập của những người lao động không phải trong môi trường đô thị. Dù lương cao vẫn bị bù trừ bởi chi phí sinh hoạt cao, nhưng điều đó không thay đổi thực tế là mức lương cao phản ánh năng suất cao. Lý do duy nhất các công ty chấp nhận mức lao động cao và gánh nặng của phí bất động sản trong một thành phố là vì thành phố tạo ra lợi thế năng suất có thể bù đắp lại mọi chi phí. Người Mỹ sống ở các khu vực đô thị với hơn 1 triệu cư dân thì, về trung bình, tạo ra năng suất vượt hơn 50% năng suất của người Mỹ sống ở khu vực đô thị nhỏ hơn. Mối tương quan như vậy vẫn không đổi cả khi ta đưa xét đến các yếu tố như giáo dục, kinh nghiệm, và chuyên ngành của người lao động. Thậm chí cả khi chúng ta xét chỉ số thông minh cá nhân của người lao động thì chúng ta vẫn thu được tỉ lệ như trên. Chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn cũng lớn như vậy ở các nước giàu khác, và thậm chí khoảng cách thu nhập còn xa hơn ở các nước nghèo hơn. Ở Mỹ và châu Âu, vùng thành...

Read More
Phê bình sách: Sư im lặng của bầy cừu
Jan29

Phê bình sách: Sư im lặng của bầy cừu

An Võ chuyển ngữ, CTV Phía Trước Cốt truyện Sự im lặng của bầy cừu (Harris, 1988) xoay quanh ba nhân vật chính. Clarice Starling, một nhân viên tập sự FBI [Federal Bureau of Investigation, tức Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ – ND] nghiêm túc và trưởng thành rơi vào tình huống phải đấu trí với một thiên tài xấu xa cũng là một kẻ khát máu, Hannibal Lecter, để bắt được tên giết người hang loạt, Jame Gumb hay được biết đến như Buffalo Bill. Cả ba nhân vật đều được khắc họa tâm lý mạnh mẽ, đặc biệt ở sự đáng tin, mặc dù điều này không phải lúc nào cũng tồn tại giữa hai nhân vật Lecter và Gumb. Ở nhân vật Gumb, hắn thực sự hứng thú với bướm đêm, và dùng để trang trí cho thi thể, một hành vi tội phạm có một không hai. Tuy nhiên, chi tiết này hoàn toàn hợp lý khi đặt trong bối cảnh toàn tác phẩm. Starling là nhân vật vai chính diện trong cuốn truyện và cô cũng là điểm nhìn cho toàn bộ câu chuyện. Câu chuyện lặp đi lặp lại với những hình ảnh về tiềm thức thời thơ ấu của cô. Đó là những thước phim hết sức sống động và chi tiết (Brown và Kulik, 1977). Kí ức ấy tiếp thêm cho cô lòng can đảm, sức mạnh ý chí để hoàn thành mọi nhiệm vụ cô được giao. Hannibal Lecter không hẳn là nhân vật phản diện hay chính diện, đúng hơn là ở vị trí trung lập suốt tiểu thuyết. Hắn thách thức Clarice bằng cách đưa ra những câu hỏi hóc búa. Hắn hỗ trợ FBI điều tra để có thể tiếp cận phần thưởng đáng giá với hắn như phòng lưu trữ đủ các hồ sơ tội phạm, đặc biệt là hồ sơ của Buffalo Bill. Hắn cũng muốn biết thêm về Starling, và cách duy nhất cô lấy thông tin từ hắn là qua trao đổi về những trải nghiệm thời ấu thơ của cô. Trong phần lớn nội dung câu chuyện, Jame Gumb là một mật mã cần được giải đáp và cũng là hình mẫu phản diện hiếm khi xuất hiện, chỉ trừ một số lần tác giả thay đổi sang điểm nhìn của hắn đề người đọc biết Gumb đang nghĩ gì trước khi hạ sát, hay về nhân cách của hắn. Hắn ta bắt cóc những cô gái có vóc dáng gần như hắn, lột da, rồi đắp lên người hắn. Nhân vật này được xây dựng dựa trên một tên...

Read More
Chúng ta là giống loài thành thị
Jan22

Chúng ta là giống loài thành thị

Trường Sơn chuyển ngữ, CTV Phía Trước Giới thiệu sách “Chiến thắng của Thành thị” Tác giả: Edward Glaeser. Nhà xuất bản: Macmillan. Tháng 3 năm 2011. Xem thêm: Phần II & Phần III Giới thiệu sách: Chiến thắng của Thành thị Có 240 triệu người Mỹ sống tập trung trong phần diện tích chỉ bằng 3% tổng diện tích quốc gia – chính là thành thị. Có 36 triệu người sống xung quanh Tokyo, khu vực đô thị với năng suất cao nhất thế giới. Có 12 triệu người cư trú ở trung tâm Mumbai, và Thượng Hải cũng sở hữu lượng dân cư gần như vậy. Trên một hành tinh với không gian sống không hề nhỏ (toàn bộ nhân loại có thể sống trong bang Texas – mỗi người vẫn có nhà riêng), chúng ta chọn thành phố. Mặc dù chi phí du lịch, cũng như chi phí để di chuyển thường xuyên trong khoảng cách như từ Ozarks tới Azerbaijan giờ đã rẻ hơn, con người ngày càng có khuynh hướng cư trú gần nhau hơn trong những khu vực đô thị rộng lớn. Mỗi tháng, chúng ta tiếp nhận thêm 5 triệu người đến sống trong vùng thành thị của các nước đang phát triển, và vào năm 2011, hơn một nửa dân số thế giới đã tập trung trong các thành phố. Từ thời Plato và Socrates còn tranh luận trong thành Athen, tiền nhân của chúng ta đã nhìn ra lý do để các thành phố trỗi dậy, như những điểm tập trung dân cư dày đặc rải rác trên toàn cầu. Những con đường của thành Florence đã mang lại cho chúng ta thời Phục hưng, và các con phố của Thành Birmingham đã kiến tạo cho chúng ta cuộc Cách mạng Công nghiệp. Tiềm năng vĩ đại của các siêu đô thị như London, Bangalore và Tokyo đến từ chính khả năng nuôi dưỡng và kiến thiết cách nghĩ mới. Khi bạn lang thang trong các thành phố, từ những vỉa hè lát đá cuội đến những con đường giao nhau, theo những lối quanh co hoặc theo đường cao tốc – bạn đang chiêm ngưỡng dấu vết của những diễn trình của sự tiến bộ của con người. Ở các quốc gia phương Tây thịnh vượng, mọi thành phố đã trải qua giai đoạn cuối đầy biến động của thời đại công nghiệp và giờ đây giàu có, sung sức và quyến rũ hơn bao giờ hết. Ở những nơi nghèo nhất thế giới, tiến trình đô thị hóa đang diễn ra với tốc độ nhanh nhất có thể, vì...

Read More
Giới thiệu sách: Chiến thắng của Thành thị
Jan15

Giới thiệu sách: Chiến thắng của Thành thị

Trường Sơn chuyển ngữ, CTV Phía Trước Olmo Silva, Giảng viên ngành Kinh tế và Tài chính Bất động sản tại Trường Kinh tế London Trong quyển “Chiến thắng của Thành thị”, tác giả Ed Glaeser dẫn chúng ta vào hành trình vòng quanh thế giới để tìm đến tâm trí của các thành phố hiện đại – từ Mumbai đến Paris, đến Rio, đến Detroit và Thượng Hải, và đến mọi thành phố khác giữa hành trình ấy – để hé mở cách tuy duy đặc thù của những thành phố, lý giải tại sao thành phố lại có những biểu hiện như vậy, và chúng truyền đạt được những tri thức gì đến những cư dân thành thị. *** Chiến thắng của Thành thị. Tác giả: Edward Glaeser. Nhà xuất bản: Macmillan. Tháng 3 năm 2011. Ed Glaeser là giáo sư kinh tế tại Đại học Harvard, và là một trong những nhà kinh tế đô thị tài năng nhất của thế hệ chúng ta. Ông là một trong những người đầu tiên khai phá khuynh hướng sử dụng hệ thống công cụ kinh tế để giải phẫu diễn trình của các đô thị. Và, mặc dù là thành quả của nhiều năm nghiên cứu kinh tế, cuốn sách mới này của ông không phải là một tác phẩm khó đọc đầy thuật ngữ, phương trình và số liệu thống kê trong kinh tế học. Dĩ nhiên trong này phải có đầy số liệu, nhưng bên cạnh đó còn là cái nhìn năng động về lịch sử sẽ dẫn dắt người đọc qua nhiều thế kỷ thăng trầm của những thành phố – từ Athens và Venice, đến New York, London và Bangalore. Những bí mật của thành thị Những bí mật của thành thị là gì? Nói ngắn gọn, đó là con người và sự gần gũi. Còn nói theo cách riêng của Glaeser, thì “ý tưởng dễ lan truyền ở những nơi con người sống gần nhau”, và mật độ dân cư cung cấp cho thành phố một điểm mạnh so với những nơi phân tán. Người kinh doanh với những ý tưởng sáng tạo tập trung tại các khu vực đô thị để học hỏi lẫn nhau và cũng để nhận ra tiềm năng của họ. Và, trong một chu kỳ đạo đức, thành phố vinh danh tài năng của những người này bằng cách kích thích sự tương tác và sự đổi mới, cũng như bằng cách mài sắc trực giác nhạy bén trong kinh doanh thông qua việc cạnh tranh. Điều thú vị là trong thời đại của toàn cầu hóa và...

Read More
Các cảm xúc chính trị: Tại sao lòng từ ái là cần thiết cho công lý? (II)
Dec18

Các cảm xúc chính trị: Tại sao lòng từ ái là cần thiết cho công lý? (II)

TS Đỗ Kim Thêm, CTV Phía Trước Giới thiệu sách: Martha C. Nussbaum, Political Emotions: Why Love Matters for Justice?, The Bellknap Press of Harvard University Press, 2013 Vấn đề Yêu thương hay thù oán không chỉ là tình riêng cuả mỗi con người mà còn là một cảm xúc chính trị. Đã có nhiều thí dụ cho thấy là các hiệu ứng của cảm xúc này lan toả đến hệ thống pháp luật, mà đòi công lý hay tự thiêu của dân oan tại Việt Nam là trường hợp phổ biến. Thực ra, trong bất cứ một nền tảng công lý nào thì điểm chính yếu cũng là phải tìm ra một hệ thống luật pháp công minh và tinh thần trọng pháp của người dân và chính quyền để áp dụng trong thực tế. Ngược lại, có một lập luận mới về cảm xúc chính trị cho là công lý không chỉ là một giải pháp cuả lý trí khách quan mà còn cần đến lòng từ ái của mọi người. Dù tiềm tàng trong cá nhân, nhưng khi có một sự gắn bó từ nội tâm vào một giá trị chung cao đẹp thì nó sẽ thúc đẩy làm cho công lý xã hội hình thành và duy trì. Lòng từ ái là một cảm xúc chính trị rất cần thiết để phát huy công lý, đó là kết luận của Martha C. Nussbaum trình bày trong tác phẩm Political Emotions: Why Love Matters for Justice?, The Bellknap Press of Harvard University Press, 2013 mà bài viết này sẽ giới thiệu. Bài liên quan: Xem thêm Phần I Kim Them Do: Why Compassion Matters for Reform in Vietnam? *** Nhận xét Cảm tưởng đầu tiên của người đọc là tinh thần lạc quan của tác giả khi đề cao lòng từ ái và tin rằng nền dân chủ phương Tây có những đặc điểm tốt đẹp giúp cho từ tâm sẽ có điều kiện phát huy. Bằng một giọng văn ấm áp và trong sáng, bà kể những thí dụ về Washington, Lincoln, Roosewelt, Churchill, Luther King và Gandhi. Những dẫn chứng về tư tưởng của Rousseau, Comte, Mill, đặc biệt về thi ca của Tagore và âm nhạc của Mozart, cho thấy sự uyên bác cùa bà. Do các ảnh hưởng này mà bà xem trọng các giá trị tinh thần hơn vật chất và tin là cảm xúc tích cực (từ tâm và hy sinh) cần phát huy để chuyển hoá và tiêu cực (sợ hải, xấu hổ và ganh tị) cần loại trừ. Thực ra, không phải chỉ có thái độ vị kỷ...

Read More
%d bloggers like this: