Chủ quyền Việt Nam về Hoàng Sa và Trường Sa trong sách giáo khoa cũ

Vương Liêm
Trích từ newvietart.com

Sách “Biên niên lịch sử cổ Trung đại Việt Nam (từ đầu đến giữa thế kỷ XIX)” do Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội thuộc Viện Sử học Việt Nam ấn hành năm 1987 có ghi :

– Tháng 4 âm lịch năm Tân Mão (1711) chúa Nguyễn sai đo diện tích bãi cát Trường Sa.(trang 332).

– Tháng 2 âm lịch năm Ất Hợi (1815) Đội Hoàng Sa là Phạm Quảng Ánh ra đảo Hoàng Sa thăm dò đường biển.(trang 421).

Qua tư liệu sử cổ nói trên ta thấy quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã thuộc về chủ quyền của nước ta từ đầu thế kỷ thứ 18 và 19 nên người đứng đầu chính quyền thời ấy là chúa Nguyễn ở Đàng Trong (tức thời Nguyễn Phúc Chu 1691-1725 ở khu vực phía Nam) mới cử người tới đó để đo đạc diện tích bãi cát để quản lý và đưa vào sử liệu dưới quyền cai quản của mình. Theo tạp chí Xưa – Nay số 102 năm 2001, bản đồ Bãi Cát Vàng của Đỗ Bá năm Chính Hòa thứ 7 (1686) được ghi chú như sau :”Bãi cát Vàng phỏng dài 400 dặm, rộng 20 dặm ở khoảng giữa biển từ cửa biển Đại Chiêm kéo dài tới cửa biển Quyết Mông… Mỗi năm đến cuối đông chúa Nguyễn đưa 18 chiếc thuyền đến đó nhặt vàng, bạc” (trang 5)

Thời Gia Long, đội Hoàng Sa được biên chế 70 suất đinh lấy ở các xã An Vĩnh, An Hải thuộc huyện Sơn Tịnh, huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi. Theo sử liệu nói trên, Phạm Quảng Ánh là Cai đội Hoàng Sa vào năm 1815 được vua Gia Long phái ra Hoàng Sa để do đạc thủy trình. Hiện nay ở đảo Lý Sơn có nhà thờ họ Phạm Quang do dòng họ này di dời hộ khẩu ra sinh sống ở đây.(Tạp chí đd trang 38).

Tập bản đồ hành chính Việt Nam do NXB Bản đồ phát hành tháng 11/2004, ở ngay trang bìa in bản đồ Việt Nam có tô màu từng tỉnh và biển Việt Nam in rộng ra có cả khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngay trang đầu ở bên trong tập sách in tấm bản đồ cổ, chú thích các địa danh núi non, sông ngòi, biển đảo đều bằng chữ Hán, đặc biệt ghi đủ các đảo dọc theo bờ biển Việt Nam từ vịnh Thái Lan tới vịnh Bắc Bộ, trong đó ghi cụ thể và rõ ràng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Điều này cho thấy sách Đại Nam nhất thống dưới triều nhà Nguyễn quan tâm rất lớn về bản đồ đất nước thuộc chủ quyền của Việt Nam. Mặc dù ranh giới đất nước liên quan tới các nước láng diềng chưa xác định được ở trên đất liền nhưng hải đảo thì nhất định không quên vẽ gắn liền với bờ biển Tổ quốc mình. Đó là Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là “Đại Nam nhất thống toàn đồ” được ghi nhận thực hiện năm 1834, tức trước thời Pháp thuộc. Theo các sử liệu cổ, tuy biên giới chưa xác định cốt mốc giữa các nước liền sông, liền đất, liền núi với nhau như ba nước Đông Dương và Trung Hoa nhưng thực tế chủ quyền các địa danh như núi, đất, sông, tỉnh thành đều biết rõ ràng của nước nào với dân tộc nào. Như biên giới của nước ta với Trung Hoa qua các triều đại từ Đinh, Lê, Lý, Trần cho tới Nguyễn đều xác định rõ vùng đất các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Lào Cai…Về biển đảo, Việt Nam giáp với Trung Hoa ở đảo Hải Nam, tức đảo này thuộc chủ quyền các triều đại phía Bắc từ đời nhà Hán (Tây Hán và Đông Hán 202 trước Tây lịch – 24 sau Tây lịch). Thời ấy gọi Hải Nam ngày nay là huyện Châu Nhai, Đạm Nhĩ; Hợp phố, Nam Hải thuộc Quảng Đông ngày nay; Thương Ngô, Uất Lâm thuộc Quảng Tây ngày nay; còn Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam thuộc Bắc và Trung Bộ. Dần dần về sau, trong quá trình quan hệ với Chiêm Thành ta có thêm vùng đất biển thuộc Huế – Thừa Thiên và Quảng Nam, Quảng Ngãi kéo dài tới mũi Cà Mau.

Vẫn theo tập bản đồ năm 2004, trang kế bản đồ Đại Nam thời nhà Nguyễn là trang đôi in bản đồ Việt Nam với diện tích, dân số, mật độ dân cư các tỉnh được Tổng cục thống kê cung cấp số liệu năm 1999. Bản đề này ghi rõ vùng biền Đông với quần đảo Hoàng Sa (thuộc thành phố Đà Nẵng) và quần đảo Trường Sa (thuộc tỉnh Khánh Hòa). Bản đồ còn ghi thêm đường biển đi từ Đà Năng tới Hoàng Sa 390 km và từ thành phố Hồ Chí Minh tới Trường Sa 670 km.

Thời Hai Bà Trưng (40-43) Hợp Phố (nay là Quảng Châu – Trung Quốc) thuộc về nước ta nên có chuyện dân ở đây đứng lên hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà. Tục ngữ “Châu về Hợp phố” nói lên ý nghĩa dân Việt bị quan cai trị nhà Hán bắt xuống biển mò ngọc trai (châu báu) lên rừng tìm quế, ngà voi và ngọc trai bỏ ra vùng khác sinh sống. Chỉ tới khi dân Việt được độc lập, tự do thì ngọc trai mới quay về bờ biển Hợp phố.

Như vậy, từ xưa tới nay, các đảo ngoài biển Đông ngang bờ biền Việt Nam đều thuộc chủ quyền của Việt Nam, nhất là các sử liệu cổ nói trên đều ghi nhận các triều đại phong kiến Việt Nam đều cho người ra vào quần đảo Hòang Sa và Trường Sa để thu lượm sản vật, đặc biệt thời các chúa Nguyễn dưới triều đại nhà Hậu Lê (1533-1788) có lập đội Hoàng Sa để trấn thủ.

Trong quan hệ, bang giao với các triều đại phong kiến phương Bắc chưa bao giờ trong lịch sử của hai nước thấy nói đến chủ quyền của Trung Hoa qua khỏi đảo Hải Nam. Chỉ ở đời nhà Trần, tướng Toa Đô của nhà Nguyên có một lần đưa quân liên kết với Chiêm Thành đề đánh từ phía Nam lên nhưng thất bại chua cay. Lúc đó, họ chỉ tới được châu Ô, châu Lý (Quảng Bình ngày nay) mà thôi.

Từ đó về sau, nền độc lập, tự chủ của Việt Nam hùng mạnh và nhiều cuộc xâm lược của họ luôn bị chận đứng nên không bao giờ họ vào được trong đất liền huống hổ là vùng hải đảo. Tới khi Pháp chiếm đóng Việt Nam thì triều đình nhà Thanh ký hòa ước Thiên Tân 1884 với Pháp, cắm cột mốc biên giới và chịu nhượng bộ rút lui hoàn toàn. Chỉ tới năm 1945, quân đội Tưởng Giới Thạch mới theo chân Pháp, Mỹ vào Bắc Bộ để giải giới quân Nhật nhưng bị chính phủ VNDCCH ký tạm ước 16/3/1946 với Pháp buộc quân Tưởng rút lui về nước. Âm mưu “Hoa quân nhập Việt” của Lư Hán bị thất bại. Tới năm 1972, sau khi hiệp định Paris được ký kết, Trung Quốc lợi dụng tình hình giải phóng miền Nam sắp kết thúc thắng lợi đã đưa tàu chiến tới chiếm Hoàng Sa cho tới nay.

Sách địa lý Việt Nam do GS Nguyễn Khắc Ngữ (Trường Trung học Võ Trường Toản) và Phạm Đình Tiếu (Đại học Sư phạm Sài Gòn) biên soạn dành cho học sinh lớp 11 xuất bản năm 1970 trong đó ở phần nói về “Bờ biển và đáy biển Việt Nam” có in bản đồ Biển Việt Nam đã vẽ vùng biển Đông rộng ra, phía Bắc giáp Trung Quốc (có đảo Hải Nam), phía Đông giáp Philippines và phái Tây là bờ biển Việt Nam. Trong vùng biền mênh mông đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với những dòng hải lưu. Sách địa lý này gọi biền Việt Nam chớ không gọi biển Đông. Điều này rất đúng đắn bởi vì vùng biền nằm trước bờ biển nước ta từ nam chí bắc rộng ra tới nước Philippines bao bọc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để không ai chối cãi chủ quyền của nó. Trong khi Trung Quốc vẫn gọi vùng biền trước bờ biển nước họ là biển Trung Hoa. Biển của nước nào là thuộc về chủ quyền nước ấy và trong đó có các đảo thì, tên gọi biền đảo đi đôi với chủ quyền của nước có biển đảo. Nếu gọi biển Đông thì quá mông lung, không xác định được chủ quyền và những đảo nằm trong đó thuộc về nước nào, nên đâm ra tranh cãi.

Như vậy, ta nên đổi tên biển Đông thành biển Việt Nam, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa là điều quá chính xác thuộc chủ quyền Việt Nam. Do đó, biển Trung Hoa không thể kéo dài quá biên giới và bờ biền nước mình.

Sử sách cũ của ta đã ghi chép rõ hoạt động của chính quyền thời đó xác định chủ quyền về Hoàng Sa, Trường Sa. Đó là căn cứ vững chắc về mặt lịch sử và địa lý.

Scridb filter

Author: tapchiphiatruoc

Share This Post On
468 ad

1 Comment

  1. Tối muốn biết sách giáo khoa của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có nhắc về Hoàng Sa và Trường Sa hay không ? Sách giáo khoa của Việt Nam Cộng Hòa thì chắc chắn có nói rồi, như ở trên đã đứa 1 ví dụ.

Trackbacks/Pingbacks

  1. Anhbasam Điểm Tin thứ Tư, 19-09-2012 | bahaidao2 - [...] TRỊ-PHÁP LUẬT - Trường Sa – vùng đất mẹ xa xôi (RFA).  – Chủ quyền Việt Nam về Hoàng …
  2. Chủ quyền Việt Nam về Hoàng Sa và Trường Sa trong sách giáo khoa cũ – BS « Vô Ngã - [...] Chủ quyền Việt Nam về Hoàng Sa và Trường Sa trong sách giáo khoa cũ   [...]
  3. Tin thứ Tư, 19-09-2012 « BA SÀM - [...] Trường Sa – vùng đất mẹ xa xôi (RFA).  – Chủ quyền Việt Nam về Hoàng Sa và Trường …

Leave a Reply

%d bloggers like this: