Giải quyết các xung đột ở Biển Đông giữa Trung Quốc và Philippines sau phán quyết của Toà án (I)

TS Đỗ Kim Thêm dịch, CTV Phía Trước
Evan Rees, Stratfor

Mặc dù thắng được Trung Quốc trong cuộc tranh tụng về Bãi cạn Scarborough, Philippines đã đề cập vấn đề này một cách hết sức thận trọng. Phương sách mềm dẻo của Philippines đã mở ra một cánh cửa để đạt đến một thỏa thuận chung khả thi với đối thủ mạnh của mình về các quyền đánh cá trong vùng biển còn tranh chấp.

Một tấm ảnh do Philippines cung cấp hồi tháng Tư cho thấy Trung Quốc đang xây cất trên các bãi đá xuanh quanh quần  đảo tranh chấp ở Trường Sa tại Biển Đông. Photo: Armed Forces of the Philippines/European Pressphoto Agency

Một tấm ảnh do Philippines cung cấp hồi tháng Tư cho thấy Trung Quốc đang xây cất trên các bãi đá xuanh quanh quần đảo tranh chấp ở Trường Sa tại Biển Đông. Photo: Armed Forces of the Philippines/European Pressphoto Agency

D báo

Philippines sẽ tiếp tục sử dụng chiến lược củ cà rốt và cây gậy đối với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Họ chọn cách không thổi phòng việc thắng kiện gần đây tại Tòa án Trọng tài Thường trực để đạt thỏa hiệp.

Đánh cá xung quanh Bãi cạn Scarborough sẽ là một vấn đề quan trọng của sự hợp tác, và sẽ tiến hành thông qua các cuộc đàm phán song phương.

Tuy nhiên, nghị quyết thực sự của các việc tranh chấp biên giới trong khu vực sẽ còn khó đạt, thậm chí có thể còn bị trì hoãn bởi các thỏa thuận để làm xoa dịu căng thẳng.

Phân tích

Các quốc gia có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông vẫn đang điều chỉnh để xác định cách quy định lãnh hải trong khu vực. Ngày 12 tháng 7, Tòa án Trọng tài Thường trực công bố quyết định việc vô hiệu hoá các yêu sách của Trung Quốc chiếu theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), đặc biệt hơn Toà còn quy định rằng Bãi cạn Scarborough không có các hòn đảo và do đó không có vùng đặc quyền kinh tế để đòi hỏi. Quyết định này đánh dấu thắng lợi cho Philippines, dù Manila cũng cho là bãi cạn này là của riêng mình mà Bắc Kinh đã chiếm. Ít nhất, Philippines đã tìm cách để đảm bảo rằng Trung Quốc không thể kiểm soát bãi cạn này về mặt pháp lý và bằng cách mở rộng, Philippines đã mở ra cơ hội cho các nước khác cách phân vạch Biển Đông để mặc cả về vị trí của Trung Quốc chiếu theo UNCLOS.

Nhưng sau khi thắng kiện, Philippines đã thể hiện đối sách một cách cẩn thận. Manila biết thế yếu của mình – quân sự của Trung Quốc mạnh hơn nhiều. Nhưng Philippines đã thắng trên chính trường quốc tế mà họ chưa từng có trước đây (ngay cả khi chủ yếu xem đó là tượng trưng). Phán quyết này có thể gây cho Trung Quốc đau đầu nặng nề, và dù kềm chế kiên trì theo phán quyết, Manila đang gây khích lệ cho Bắc Kinh mang lại sự thỏa hiệp và thích nghi. Ví dụ như Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte đã nói rằng ông sẽ không đưa phán quyết này ra tại Hội nghị Thượng đỉnh tháng Chín của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Bằng cách đó, Manila có thể bảo toàn lợi ích cốt lõi của mình và đạt được một số nhượng bộ của Trung Quốc, trong khi tiếp tục hợp tác với Nhật Bản, Hoa Kỳ và các cường quốc bên ngoài khác. Trong bối cảnh năng động mới này, đàm phán về một hiệp ước giữa Manila và Bắc Kinh đã tập trung vào một chủ đề cụ thể là đánh cá.

Thủy sản là vấn đề lớn tại Biển Đông. Theo một ước tính có khoảng 1.720.000 tàu đánh cá hoạt động trong vùng biển, sử dụng khoảng 5,4 triệu người. Cuộc đối đầu với các tàu tuần tra xung quanh nhiều nơi còn gây tranh cãi về hải phận – và trong các vùng biển của quốc gia cận duyên – là nguy cơ quen thuộc và triền miên, nó đang châm ngòi cho các cuộc khủng hoảng lớn hơn. Phán quyết theo UNCLOS giải quyết một cách cụ thể các vấn đề khi quy định rằng các động thái của Trung Quốc ngăn chặn các tàu đánh cá của Philippines xung quanh Bãi cạn Scarborough kể từ tháng Năm năm 2012 là bất hợp pháp.

Mặc dù trọng tâm của khu vực là khoáng sản và dầu, cá là một yếu tố quan trọng hơn trong các tranh chấp lãnh hải chung quanh Trung Quóc đang trỗi dậy.

Ban đầu, Bắc Kinh phản ứng trước quyết định của Tòa bằng cách là hạ thấp vấn đề. Vào ngày 02 tháng 8, Toà án Nhân dân Tối cao Trung Quốc đã đưa ra một quyết định nói rằng chính quyền có quyền truy tố ngư dân nước ngoài bị bắt trong vùng hải phận mà Trung Quốc tuyên bố có chủ quyền. Một tuần sau đó các chủ đề này đã được đưa ra một vài lần trong một cuộc họp giữa các quan chức Trung Quốc và đặc sứ Philippines và cựu Tổng thống Fidel Ramos. Có các dấu hiệu cho thấy là các chính giới ở Bắc Kinh cũng chọn đề tài này. Ramos đã nói chuyện với Wu Shicun, Chủ tịch Cơ quan Nghiên cứu hàng đầu về Biển Đông của Trung Quốc, ông đã nói Bắc Kinh và Manila có thể tìm cách để mở Bãi cạn Scarborough cho ngư dân và cùng phát triển nuôi thủy sản xung quanh các vùng tranh chấp trên biển.

Sau đó, vào ngày 23 tháng 8, Duterte kêu gọi Trung Quốc cho phép tàu đánh cá của Philippines vào vùng biển còn tranh chấp. Ngày 29 tháng 8, Trung Quốc trả miếng lại: Đại sứ Zhao Jianhua cho biết Bắc Kinh sẽ tổ chức các cuộc đàm phán song phương và cứu xét việc cho phép các ngư dân Philippines thâm nhập vào Bãi cạn Scarborough. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán chưa bắt đầu, và vẫn chưa có gì là rõ ràng về chuyện chừng nào thì những hình thức thâm nhập hỗn hợp nào sẽ thực hiện (các phương án chọn lựa qua các giai đoạn từ việc thâm nhập đơn giản đến việc thiếp lập một khu vực thủy sản chính thức để cùng phối hợp quản lý). Tuy nhiên, một thỏa thuận sẽ giúp ngăn chặn các cuộc xung đột ngắn hạn, gay gằt hơn về đánh cá và có thể đem lại một mô hình hợp tác ở những nơi khác trong vùng Biển Đông.

Ti sao có cuc chiến về thuỷ sản?

Các ngành công nghiệp đánh cá, mặc dù không thu hút, nhưng cố hữu vốn là một vấn đề địa chính trị. Cá hoang đã được coi là một “tài nguyên không bền”: Giống như các động vật, nước hoặc không khí, cá di chuyển từ nơi này đến nơi theo cách riêng của nó. Vì thế, tàu đánh cá phải theo đuổi theo để đánh bắt, thường thì họ không chú ý đến vấn đề biên giới hoặc quyền tài phán. Các biến động trong việc đánh cá hoặc các mức hạn chế đánh cá sẽ có nhiều hậu quả lan rộng cho quốc gia cận duyên, đẩy các tàu càng ngày càng đi xa hơn các bờ biển của nước họ. Bởi vì ngành công nghiệp đánh cá sử dụng rất nhiều khả năng không chính thức, những gì làm tổn hại cho ngư dân sẽ làm tổn hại chung cho tất cả các tầng lớp trong xã hội, từ các đơn vị bầu cử ở nông thôn cho đến các tập đoàn kinh doanh lớn.

Trong mỗi khu vực hàng hải đã bùng phát việc đánh cá trước đây, nhưng vị trí địa lý độc đáo của Đông Á tăng nguy cơ các cuộc tranh chấp như vậy – và cả phần hưởng lợi của họ. Vùng Tây Thái Bình Dương khác biệt với hầu hết các vùng trong vành cung Thái Bình Dương ở chỗ là nó có thềm lục địa rộng, với nhiều đường giao thông cận duyên và vùng vịnh sâu. Ngược lại, các bờ biển của Bắc và Nam Mỹ có thềm lục địa hẹp và đường bờ biển tương đối đơn giản.

Điều này làm cho việc phân định lãnh thổ trong khu vực châu Á Thái Bình Dương khó khăn hơn, đặc biệt là kể từ khi hầu hết các thủy lộ là không đủ rộng để cho phép các quốc gia trong khu vực có yêu sách về vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) với đầy đủ 200 hải lý mà không cần đụng chạm đến các nước láng giềng. Chỉ có Nga, Nhật Bản, Philippines và Indonesia đã có các yêu sách về EEZ rõ ràng, và những quốc gia này thành hình do trải dài lãnh thổ trên biển. Mỗi quốc gia khác đã phải thương lượng về EEZ của mình với các nước xung quanh, một tiến trình đã để lại nhiều ranh giới chưa được giải quyết, đem lại những điểm nóng trong sự xung đột giữa các quốc gia.

Thềm lục địa làm cho việc đánh cá thuận lợi, đặc biệt là trong ngành hàng hải thuộc khu vực Đông Nam Á, bên dưới được bao quanh bởi các thềm Sunda và Sahul. Các vùng nước cạn của các thềm này, trong đó nó chiếm khoảng 20 phần trăm trong tổng diện tích thềm trên toàn thế giới, cung cấp điều kiện ngày càng tăng trưởng cho sinh hoạt của biển: ánh sáng mặt trời, vùng nước cạn và lưu lượng dinh dưỡng từ nhiều hệ thống sông ngòi chính đổ ra biển. Các môi trường này đã tạo ra một sự đa dạng đáng ngạc nhiên – chỉ ở vùng biển Đông có hơn 3.000 loài cá sống – và một khu vực thiên nhiêu cực kỳ ưu đãi cho việc đánh cá. Đối với các quốc gia phân định nhau bằng các thủy lộ (mỗi nước trong khu vực Đông Nam Á ngoại trừ Lào), thì việc đánh cá là vấn đề mấu chốt để duy trì dân số, và trong thời kỳ hiện đại, tạo doanh thu cho chính phủ và công nghiệp hóa.

Trong khu vực châu Á Thái Bình Dương, hải sản là sinh hoạt. Khu vực này cũng là lãnh thổ, thâm nhập vào lãnh thổ là việc quan trọng vì các lý do khác: Kiểm soát các thủy lộ là chìa khoá cho các quốc gia duy trì lưu lượng thương mại để sinh tồn, thông tin liên lạc với các vùng xa xôi và tiếp cận với các nguồn tài nguyên. Đánh cá tạo ra xung đột mà nó va chạm đến những lợi ích cốt lõi. Các ngành công nghiệp đánh cá vốn dĩ đã bị phân mảnh trong vô số những phân vùng nhỏ, và các tàu viễn duyên đi qua vùng biển xa, làm cho họ khó khăn để điều tiết – ngay cả đối với các chính phủ dù họ có thiện chí muốn làm như vậy. Với nhiều công nghiệp đánh cá hấp dẫn trải rộng trên nhiều lãnh thổ qua nhiều quốc gia cận duyên gần gũi nhau, tàu đánh cá có thể dễ dàng đi lạc vào vùng biển nước ngoài, hoặc là do vô tình hoặc với hy vọng thoát khỏi sự phát hiện.

Tình hình đã được kết hợp bởi trào lưu đánh cá càng mở rộng ào ạt tại châu Á Thái Bình Dương kể từ khi kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến, khi tại vùng Tây Thái Bình Dương công nghiệp hoá đánh cá với một tốc độ chưa từng thấy ở nơi nào khác. Đến những năm 1990, tất cả các quốc gia cận duyên đã bị buộc phải phát triển các ngành công nghiệp đánh cá của riêng mình trong một cuộc đua để khai thác các tài nguyên chung. Điều này đã dẫn đến đánh bắt quá mức và tự do tha hồ về các khối lượng cá trong khu vực. Khi các quốc gia đã đánh cá ra xa khỏi các vùng hải phận của họ, họ đã ngày càng quay sang đánh cá xa hơn trong vùng lãnh thổ của các nước láng giềng, đặc biệt tập trung vào các vùng có kém tuần tra. Khu vực tranh chấp, chẳng hạn như những vùng biển Đông, đã trở thành một mục tiêu đặc biệt thu hút, khiến có vô số các lệnh cấm đánh cá đơn phương, tạo ra việc kiểm soát đánh cá và phá hủy các tàu tấn công rất chuyên nghiệp.

Tại một số các quốc gia – bao gồm cả Trung Quốc – họ đã thậm chí công khai khuyến khích ngư dân của họ đánh cá ngay trong vùng biển còn tranh chấp. Khi làm như vậy, Bắc Kinh hy vọng sẽ ngăn cản các tàu ít trang bị kỷ thuật mới của các nước láng giềng, chưa kể đến việc thu thập thông tin tình báo và bản đồ khu vực. Đẩy ngư dân của mình ra bên ngoài nhằm đáp ứng các mục tiêu về ổn định kinh tế và chính trị nội địa trong khi hiện diện trong vùng biển là vấn đề sinh tồn để đảm bảo thương mại và chiều sâu chiến lược ở hải ngoại. Đó là một phần nhỏ của một chiến lược lớn hơn, nhưng nó liên tục làm thành các vấn đề chính khi các nước láng giềng bắt tàu cá của Trung Quốc trong vùng biển của mình.

Còn tiếp…

Scridb filter

Author: tapchiphiatruoc

Share This Post On
468 ad

Leave a Reply

%d bloggers like this: