Giải quyết các xung đột ở Biển Đông giữa Trung Quốc và Philippines sau phán quyết của Toà án (II)

TS Đỗ Kim Thêm dịch, CTV Phía Trước
Evan Rees, Stratfor

Mặc dù thắng được Trung Quốc trong cuộc tranh tụng về Bãi cạn Scarborough, Philippines đã đề cập vấn đề này một cách hết sức thận trọng. Phương sách mềm dẻo của Philippines đã mở ra một cánh cửa để đạt đến một thỏa thuận chung khả thi với đối thủ mạnh của mình về các quyền đánh cá trong vùng biển còn tranh chấp.

Thủy thủ Việt Nam tuần tra trên đảo Phan Vinh trong quần đảo Trường Sa vào ngày 13 tháng 6, trong lúc hải quân Việt Nam tập bắn đạn thật ngoài khơi bờ biển - một hành động được xem là một sự khiêu khích đối với Bắc Kinh.

Thủy thủ Việt Nam tuần tra trên đảo Phan Vinh trong quần đảo Trường Sa vào ngày 13 tháng 6, trong lúc hải quân Việt Nam tập bắn đạn thật ngoài khơi bờ biển – một hành động được xem là một sự khiêu khích đối với Bắc Kinh.

Chia sẻ tài nguyên

Nhưng Trung Quốc đã đạt đến một thời điểm kỳ lạ. Trung Quốc chiếm hữu một phần lớn của các vùng ở Biển Đông – một vị thế không thể chấp nhận được. Tuy nhiên, Trung Quốc cũng không muốn tạo nguy hiểm cho vị thế của mình với động thái gây hấn, hoặc vơi các sự cố sẽ đẩy các nước khác có yêu sách khai thác đến mức tối đa về phán quyết của tòa án theo UNCLOS hoặc buộc Hoa Kỳ và các đồng minh tiến hành hàng loạt các tuần tra hàng hải theo quyền tự do.

Bắc Kinh đang khai triển các cơ chế để giảm căng thẳng và giải quyết khủng hoảng, họ hứa sẽ hoàn thành Quy luật Ứng xử tại Biển Đông vào giữa năm 2017, áp dụng một hiệp ước hàng hải cho ASEAN để thỏa thuận về các việc đối đàu không dự kiến tại các hải lộ và thiết lập một đường dây báo động khẩn cấp về hàng hải. Quản lý phối hợp về đánh cá trong vùng biển còn tranh chấp là một lựa chọn khác thấp hơn để giữ cho căng thẳng bớt leo thang. Giải pháp này cũng thực hiện cho phù hợp với ý nguyện ưu tiên của Trung Quốc đối với các giải pháp song phương cho các mâu thuẫn về các yêu sách Biển Đông, thay thế cho một hiệp ước quốc tế. Tùy thuộc vào cách quản lý việc đánh cá diễn ra như thế nào, việc này cũng có thể đi đôi với chiến lược của Trung Quốc để tạo ra một sự rạn nứt giữa các đối thủ trên Biển Đông.

Trong trường hợp tranh chấp về Bãi cạn Scarborough, Philippines và Trung Quốc có thể thiết lập một “khu vực hỗn hợp” cho việc quản lý việc đánh cá. Hai bên sẽ chấp nhận rằng sẽ không có sự đồng thuận về quyền sở hữu các khu vực này như là một đặc điểm riêng và thiết lập các chính sách tạm thời cho việc ứng xử và khai thác tài nguyên. Điều này sẽ làm tăng thêm lợi ích của việc tuân thủ với các điều 74 và 83 của UNCLOS mà trong đó giải quyết các sắp xếp tạm thời như vậy.

Có một tiền lệ cho các hợp tác đánh cá giữa Trung Quốc và các nước láng giềng. Ví dụ điển hình là sự thu xếp của Trung Quốc với Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ. Vùng vịnh tạo hình cho một cánh phía tây bắc của Biển Đông, nằm giữa miền Bắc Việt Nam và phía đông nam tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc và đảo Hải Nam, khống chế toàn bộ khu cửa vịnh. Thỏa thuận giữa hai nước ký kết vào năm 2000 là một phần của một giải pháp toàn bộ nhằm phân định vùng biển trong Vịnh Bắc Bộ, nó đề ra sau khi Trung Quốc và Việt Nam tái lập quan hệ vào năm 1991 sau nhiều thập niên của mâu thuẫn, bao gồm cả một cuộc chiến tranh biên giới vào năm 1979.

Là một vùng biển chung gần gũi với các khu vực quan trọng và các giới ngư dân, Vịnh Bắc Bộ là một vấn đề lãnh thổ cốt lõi cần giải quyết – và một trong các vấn đề này đã dẫn đến nhiều vụ bắt giữ tàu Trung Quốc của chính quyền Việt Nam, vì bị cáo buộc là xâm nhập. Bảy năm đàm phán mang lại một ranh giới gần trung điểm của vùng Vịnh. Nó cũng thiết lập một vùng đánh cá, chồng chéo nhau với 33.500 km vuông (12.934 dặm vuông) khoảng 30 hải lý rộng, kéo dài từ biên giới đất liền đến cửa vịnh. Hai chính phủ được phép kiểm soát và tuần tra các vùng EEZ của mình, thực tập các việc phát triển chung, và giám sát chung các tàu thuyền trong khu vực. Khu vực này được quản lý bởi một Ủy ban hỗn hợp.

Nhưng đó không phải là một mô hình chính xác cho các thỏa thuận ở các nơi khác. Ở Vịnh Bắc Bộ, hai bên đã có thể giải quyết toàn bộ các vấn đề lãnh hải một cách rõ rệt. (Mặc dù điểm đáng chú ý là họ không giải quyết tốt đẹp cho các tranh chấp trong các nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa – ranh giới cuối của cửa vịnh.) Đứng trước việc Trung Quốc chiếm đóng các vùng trong các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như ở Bãi cạn Scarborough, và quan tâm của Trung Quốc đến việc duy trì quyền thâm nhập vào vùng Biển Đông, việc phân định những ranh giới này sẽ không xãy ra trong một thời gian dài, nếu có thể. Nhiều quốc gia đòi chủ quyền về một vùng rộng lớn của Biển Đông cùng đánh cá và thăm dò chung, họ không giải quyết chuyện phân định lãnh hải, một vấn đề cực kỳ phức tạp.

Tuy nhiên, thỏa thuận về Vịnh Bắc Bộ đã đạt được các mục tiêu nguyên thủy: kết thúc các cuộc xung đột ở vùng Vịnh và đặc biệt là những xung đột về các tàu đánh cá đi lạc vào vùng biển chưa quy định. Khu vực quản lý hỗn hợp cho phép Việt Nam và Trung Quốc duy trì một vùng trái độn giữa cho mỗi bên, ít nhất đó là một lý do chung để cùng phối hợp quản lý. Tuần tra hỗn hợp bắt đầu từ năm 2006. Một Ủy ban hỗn hợp họp một vài lần trong năm, mặc dù khu vực chung không được giám sát hoặc kiểm soát chặt chẽ. Thoả ước gây ra ấn tượng vào một thời điểm khi Trung Quốc bị suy vi về thanh thế và dường như có thể thỏa hiệp với lân bang. Bất kỳ thỏa thuận nào đạt được trong giai đoạn này có thể sẽ được mệnh danh là làm lợi cho phiá Trung Quốc.

Một thỏa thuận thứ hai về việc quản lý hỗn hợp đánh cá liên quan đến Trung Quốc đã ít thành công, đó là một thoả thuận về những quần đảo Senkaku, mặc dù nó đã tìm cách để duy trì trong một khoảng thời gian ngắn. Đặc biệt đáng chú ý cho Trung Quốc là đã ký với đối thủ khu vực của họ, đó là Nhật Bản. Các nhóm đảo Senkaku ở Biển Đông về phía đông bắc của Đài Loan được kiểm soát bởi Nhật Bản, nhưng tuyên bố của Trung Quốc đó là đảo Điếu Ngư. Bởi vì những tuyên bố cạnh tranh lẫn nhau, nên không có vùng phân định ranh giới giữa các vùng EEZ của hai quốc gia. Trong tháng 11 năm 1997, Trung Quốc và Nhật Bản đã đồng ý gác tranh chấp để thiết lập một vùng đánh cá tạm thời, mở rộng đến biên giới của Biển Đông, bao gồm cả các khu vực xung quanh quần đảo Senkaku. Thỏa thuận này là một phần mở rộng của Thoả hiệp về đánh cá năm 1975 quy định cách ứng xừ giữa các tàu đánh cá của Trung Quốc và Nhật Bản trong vùng biển Hoàng Hải và biiển Đông và giữ tàu đánh cá ra khỏi vùng lãnh hải. Về cơ bản hiệp ước năm 1997 tạo ra một khoảng cách mà trong đó các hoạt động đánh cá bình thường giữa hai bên có thể tiếp tục.

Trong khu vực này, hai bên có thẩm quyền tài phán đối với các tàu của họ mà cũng còn có một khả năng hạn chế để giám sát và điều tiết tàu của phe khác. Các tranh chấp việc đánh cá trong khu vực được xử lý bởi Ủy ban hỗn hợp, hoặc nếu không có thì họ sẽ có các cuộc đàm phán trực tiếp. Các hiệp ước hợp tác có hiệu lực vào năm 2000 và đã có nghĩa là sẽ kéo dài trong năm năm. Nó bao gồm các quyền Nhật Bản và Trung Quốc, đánh cá trong khu vực độc quyền kinh tế, thành lập c ơ quan giám sát tập thể thông qua một ủy ban giám sát hỗn hợp và đề ra các hướng dẫn để cà hai có quyền thâm nhập vào vùng biển của nhau. Có nghĩa là cả hai bên cũng đã tiến hành tuần tra chung.

Nhưng hiệp ước này không còn hoạt động – những căng thẳng giữa Nhật Bản và Trung Quốc làm cho thoả thuận không còn hiệu lực. Thất bại này làm nổi bật tính chất mong manh của các thoả thuận đánh cá mà đầu tiên không có các mức phân định phạm vi. Mặc dù vậy, một thỏa thuận gần giống như vậy của Nhật Bản và Đài Loan đã ký kết.vào năm 2013, đu9 ược tuân thủ. (Đài Loan yêu sách về các lãnh hải cũng giống như Trung Quốc đại lục.)

Vấn đề trước mắt

Một hiệp ước có mục tiêu tương tự giữa Trung Quốc và Philippines sẽ không cần phải mất thời gian để nghĩ ra một giải pháp như đã thỏa thuận mà Vịnh Bắc Bộ đã làm, đặc biệt là kể từ khi thoả thuận này sẽ không tạo ra cho lý do cho lâu dài. Hợp tác khai thác đánh cá chung và có hiệu quả, ngay cả trong một thỏa thuận hạn chế, sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Các yếu tố đứng đầu trong số này sẽ là lợi ích hỗ tương của cả hai chính phủ trong việc giảm căng thẳng ngoại giao. Ở đây, các thương thảo khác về đánh cá liên quan đến Philippines và Đài Loan là một ví dụ. Mặc dù Manila và Đài Bắc không thiết lập một khu vực quản lý hỗn hợp về lãnh hải mà hai nước từng tuyên bố có yêu sách, cả hai đạt một thỏa thuận vào năm 2015 – với một mục tiêu là lợi ích chung để chống lại Bắc Kinh – họ không sử dụng vũ lực chống lại các tàu đánh cá của nhau trong vùng biển còn tranh chấp. Mục tiêu chung của họ nhắm đối trọng với Trung Quốc vẫn còn như các thỏa thuận đánh cá đề ra. Nhưng việc thiếu một tiến trình phân định phạm vi toàn diện quanh các mục tiêu đề ra sẽ làm cho bất cứ vấn đề thỏa thuận nào sẽ lệ thuộc vào các ý kiến bất thường trong lĩnh vực của địa chính trị. Ví dụ như sau khi Trung Quốc và Nhật Bản đạt được thoả ước ở Biển Đông, nó mất hiệu lực khi căng thẳng của cả hai đã làm kết thúc các quan tâm chung trong việc hợp tác. Nếu không có phân định ranh giới, bất kỳ thỏa thuận nào cũng sẽ là mong manh và dễ bị tổn thương đến những thăng trầm của quyền lực chính trị. Điều không chắc là Bắc Kinh và Manila sẽ bắt đầu phân định phạm vi của bãi cạn Scarborough trong một thời gian dài, và trong thực tế, việc này có thể sẽ không bao giờ xảy ra.

Trong thực tế, hợp tác về đánh cá sẽ bị hạn chế. Bản chất của hai việc đánh cá và ngư dân là dể thay đổi, có nghĩa là các biến động sẽ rất khó điều hướng. Hơn nữa, cả hai chính phủ nhắm vào lợi ích trong việc tăng khối lượng đánh bắt. Do đó, ngay cả chuyện kiên nhẩn hợp tác sẽ không gây phản ứng trong việc đánh cá, thậm chí hợp tác đó mở rộng ra cho những nơi khác. Điều đó nói rằng việc thắng kiện rõ ràng cho một thỏa thuận về đánh cá sẽ là một cuộc đối đầu ngắn ngủi và gây gắt (và thường không định trước) có thể đủ ngăn chận để họ không kích động các cuộc khủng hoảng rộng lớn hơn mà nó có thể đưa Biển Đông tới một cuộc xung đột gây gắt hơn.

_______

Nguyên tác: Conflict and Cooperation in the South China Sea. Tựa đề bản dịch là của người dịch

Scridb filter

Author: tapchiphiatruoc

Share This Post On
468 ad

Leave a Reply

%d bloggers like this: