Học viện Công Nghệ Massachusetts – Phụ Trang TCPT Số 26

Học viện Công Nghệ Massachusetts


s

Học viện Công nghệ Massachusetts (tiếng Anh là Massachusetts Institute of Technology, viết tắt là MIT – đọc là em ai ti) là học viện nghiên cứu và giáo dục ở thành phố Cambridge, Massachusetts, Hoa Kỳ.
MIT trở thành nổi tiếng trong khoa học công nghệ, cũng như là các lĩnh vực khác, trong đó có quản lý, kinh tế, ngôn ngữ, khoa học chính trị và triết học. Trong các lĩnh vực tiềm năng nhất và trường đào tạo là Lincoln Laboratory, và phòng thực hành trí tuệ nhân tạo vàkhoa học vi tính, phòng thực hành truyền thông MIT, học viện Whitehead và trường quản lý Sloan của MIT.
Các cựu sinh viên và giáo sư gồm cả các nhà chính trị nổi tiếng, quản lý doanh nghiệp, nhà văn, nhà nghiên cứu không gian, khoa học và nhà phát minh. Có 61 thành viên hiện tại hay trước đây của trường MIT đã đạt giải Nobel.


Lịch sử

Năm 1861, Cộng đồng bang Massachussets tán thành ý kiến thành lập “Học viện kĩ thuật Massachussets và Khoa học xã hội và tự nhiên Lịch sử Boston” được đệ trình bởi nhà khoa học tự nhiên nổi tiếng William Barton Rogers. Đây là bước quan trọng đầu tiên mà Rogers hi vọng thành lập một học viện độc lập có thúc đẩy sự tăng trưởng công nghiệp Hoa Kì. Được sự đồng ý, Rogers đã lập nên quỹ hỗ trợ, phát triển chương trình giảng dạy đánh giá các công trình kiến trúc thích hợp. Các nỗ lực của ông bị đình trệ bởi cuộc nội chiến Mỹ, và kết quả là những lớp học đầu tiên mở trên không gian mướn của khu Mercantile trong khu vực trung tâm Boston năm1865.
Toà nhà đầu tiên của MIT được hoàn thành đầu tiên ở Boston’s Back Bay năm 1866. Các năm kế tiếp, đã thiết lập một tên tuổi giá trị trong khoa học và trong ngành kĩ thuật, tuy nhiên vẫn còn trong thời kì kinh tế khó khăn. Hai yếu tố trên thích hợp với một số người có quan điểm là kết hợp với Đại học Harvard, vốn rất nhiều tiền nhưng yếu về khoa học hơn là trong lĩnh vực nghệ thuật phổ thông.

Vàonhững năm 1900, một đề nghị kết hợp với Harvard được đề nghị, nhưng sau đó bị hoãn lại do sự phản đối của các cựu sinh viên MIT. Năm 1916, MIT chuyển sang khu vực Cambridge hiện tại.
Sự lỗi lạc của MIT sau khi thế chiến thứ 2 khi chính phủ Hoa Kì bắt đầu tài trợ cho các dự án của các trường nghiên cứu trong các lĩnh vực phòng vệ hay an ninh quốc gia (xem Vannevar Bush, Lincoln Laboratory, và Charles Stark Draper Laboratory.
Trong suốt lịch sử, MIT tập trung vào phát minh. Minh họa năm 1997 cho thấy tổng hợp thu nhập do các công ty lập nên bởi MIT đứng hàng 24 lớn nhất trong nền kinh tế thế giới. Năm 2001, MIT thông báo rằng sẽ dự tính đưa tài liệu lớp học lên mạng như là một phần của dự án OpenCourseWare. Cùng năm đó thì chủ tịch trường Charles Vest đã thạo nên lịch sử khi lần đầu tiên một viên chức đại học đã công nhận rằng học viện của ông đang có hạn chế lớn đối với nữ giới, và ông hứa rằng sẽ tạo bước tiến với vấn đề trên. Tháng 8 năm 2001, Susan Hockfield, nhà thần kinh học, được bổ nhiệm là phụ nữ đầu tiên giữ chức vụ chủ tịch. Bà chính thức đảm nhiệm chức vụ ngày 6 tháng 12 năm 2004 như là chủ tịch thứ 16 của học viện.
Nguyệt san Atlantic năm 2004 xếp hạng MIT như là một trong những đại học khó vào nhất Hoa Kì. Theo US News và World Report’s annual ranking của đại học Hoa Kì thì, MIT là 1 trong 5 trường xếp hạng cao nhất, cùng với Harvard, Stanford, Yale, Princeton. MIT xếp hạng thứ 7 chung cuộc năm 2004. Trong năm 2005, quỹ đóng góp của MIT là $6.7 tỷ, hạng thứ 6 Hoa Kì.
Giáo dục sau Đại Học
Khác với hầu hết các trường đại học trên thế giới, tại MIT, số lượng sinh viên sau đại học nhiều hơn sinh viên đại học (chiếm khoảng 60% tổng số sinh viên). Nhiều chương trình sau đại học được xếp trong số 10 chương trình hàng đầu của toàn nước Mỹ. Các sinh viên sau đại học của MIT có thể làm tiến sĩ (Doctor of Philosophy hay Ph.D. và Doctor of Science hay Sc.D.), thạc sĩ khoa học (Master of Science hay M.Sc.), thạc sĩ kỹ thuật (Master of Engineering hay M.Eng.), thạc sĩ kiến trúc (Master of Architecture hay M.Arch.), thạc sĩ quản trị kinh doanh (Master of Business Administration hay MBA) tùy thuộc vào ngành học.

Thành lập    khoảng 1209
Loại hình    Công lập

Tài trợ    4,1 tỉ bảng Anh (2006, bao gồm tất cả các trường)
Hiệu trưởng  danh dự    Hoàng thân Philip, Công tước Edinburgh

Giám đốc   Giáo sư Alison Richard

Sinh viên  25.465[1]

Đại học    16.295[1]

Cao học    9.170 [1]

Địa điểm    Cambridge, Anh

University surroundings    Historic landmark
Thành viên    Russell Group, Coimbra Group, EUA, LERU, IARU

Trang chủ

http://www.cam.ac.uk

Scridb filter

Author: tapchiphiatruoc

Share This Post On
468 ad

Leave a Reply

%d bloggers like this: