Hoa Kỳ cần một trục kinh tế hướng về châu Á

Hồng Phúc chuyển ngữ, CTV Phía Trước
Curtis S. Chin*, WSJ

Tham gia kinh tế sẽ giúp tăng thêm sự hiện diện quân sự. Việc này có thể bắt đầu từ các hiệp định thương mại tự do.

Chính quyền Obama hiện đang tiến hành chính sách “trục” châu Á, trong đó bao gồm tăng cường ngoại giao, tái cân bằng và tái định vị lực lượng quân sự trong khu vực châu Á–Thái Bình Dương. Một chủ đề khác đang thiếu vắng trong sự chuyển đổi này là “trục kinh tế” – một nỗ lực nhằm phối hợp tăng cường thương mại và đầu tư giữa Hoa Kỳ và các đồng minh trong khu vực. Đây sẽ là một chiến lược tốt, cả về mặt kinh tế.

Cho đến nay, Washington dường như đang suy nghĩ về vấn đề Đông Nam Á, chủ yếu về quân sự – đặc biệt là sự quyết đoán của Trung Quốc ngày càng gia tăng ở Biển Đông. Hồi tháng sáu vừa qua, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Leon Panetta đã công bố kế hoạch chuyển 60% lực lượng hải quân Hoa Kỳ đến khu vực châu Á–Thái Bình Dương vào năm 2020.

Tuy nhiên, thêm các yếu tố tăng trưởng và kinh doanh vào chiến lược của Hoa Kỳ có thể sẽ giúp các nước châu Á trở các thành đối tác mạnh mẽ và tự tin hơn. Quan hệ thương mại cũng có thể giúp tình bạn gắn bó bên bỉ hơn. Bắc Kinh hiểu rõ điều này, đó là lý do vì sao các công ty Trung Quốc đầu tư rất nhiều vào các nền kinh tế ở khu vực Đông Nam Á.

Điều này không có nghĩa là Hoa Kỳ phải bắt đầu lại từ đầu: Nền tảng thương mại Hoa Kỳ–châu Á đầy ý nghĩa đã có sẵn và có thể tiếp tục phát triển thêm trên cơ sở đó. Ví dụ, tại khu vực Đông Nam Á, xuất khẩu của Hoa Kỳ vượt lên đến 76 tỷ USD vào năm 2011. Các công ty Hoa Kỳ cũng đã đầu tư gấp đôi trong khu vực so với số tiền mà họ đầu tư vào Trung Quốc.

Bà Barbara Weisel, Trợ lý Đại diện Thương mại Hoa Kỳ trong khu vực Đông Nam Á– Thái Bình Dương, người thứ tư từ bên phải, tham gia cuộc họp Hiệp định Thương mại Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TTP) hôm Thứ ba, ngày 10 tháng Bảy, 2012, tại San Diego.

Để trích dẫn một ví dụ, tập đoàn Ford đã đầu tư 459 triệu USD vào Thái Lan để xây dựng một nhà máy mới, trong đó sẽ cung cấp khoảng 2,200 việc làm mới cho cư dân tại đây. Ford là tập đoàn ô tô lớn thứ hai ở Thái Lan chỉ đứng sau Toyota, và cho đến thời điểm hiện tại thì họ đã đầu tư hơn 2,5 tỷ USD vào nước này. Những thành công của họ ở châu Á cũng là lợi ích của Hoa Kỳ.

Nhưng trong khi Trung Quốc đang tích cực khuyến khích đầu tư nhiều hơn nữa ở nước ngoài để bắt kịp Hoa Kỳ thì Washington lại bị mất tập trung. Mỹ cần làm nhiều hơn thay vì chỉ dựa vào các phái đoàn thương mại định kỳ.

Bước đầu tiên trong trục kinh tế là cần phải tái cam kết rõ ràng vấn đề tự do thương mại nói chung và cụ thể là các hiệp định tự do thương mại (Free Trade Agreement – FTA). Trong ba năm qua, các nổ lực vẫn còn quá ít trong việc thúc đẩy chương trình nghị sự về tự do thương mại ngoài việc phê chuẩn – chưa nói đến thời gian phên chuẩn trì hoãn quá dài – các thoả thuận này được xướng bởi chính phủ tiền nhiệm của Hoa Kỳ.

Trong khu vực châu Á–Thái Bình Dương, Hoa Kỳ chỉ có hiệp định thương mại tự do duy nhất với Úc, Singapore và Hàn Quốc. Các cuộc đàm phán thương mại đa phương khác hiện đang được tiến hành, trong đó có Quan hệ Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership). Tuy nhiên, cam kết của Hoa Kỳ trong thỏa thuận này một mặt thì được chào đón, nhưng mặt khác vẫn còn bị chính phủ hiện tại đẩy lùi trong các chương trình nghị sự.

Các sáng kiến mới cần phải được bảo hành. Washington có thể thiết lập một thời hạn nhất định nào đó để kết thúc các cuộc đàm phán TPP. Gần đây, có vẻ như số lượng thành viên tham gia được mở rộng ra – Canada và Mexico đã đăng ký tham gia, và Nhật Bản có thể sẽ tham gia – việc này làm trì hoãn việc kết thúc các cuộc đàm phán. Trong khi các doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi từ một thỏa thuận bao gồm càng nhiều nước càng tốt, nhưng số lượng các nước tham gia sẽ không có ý nghĩa gì nếu việc mở rộng chương trình mà không có sự giao dịch nào.

Washington cũng nên tìm cơ hội để cải thiện thương mại trên cơ sở giao dịch hằng ngày. Vấn đề hậu cần và vận tải là trường hợp rõ ràng nhất. Một bước chuyển khiêm tốn nhưng quan trọng là thúc đẩy các cuộc đàm phán về thỏa thuận mở rộng các vùng không phận ở châu Á. Những giao dịch như vậy sẽ cho phép các hãng hàng không, bao gồm tàu sân bay vận chuyển hàng hóa, hoạt động tự do hơn để thiết lập các tuyến đường và lịch trình giữa các quốc gia ký kết.

Tính đến cuối năm 2010, Hoa Kỳ đã có hơn 100 đối tác tham gia mở rộng vùng không phận. Tuy nhiên, điều dễ thấy nhất từ danh sách này là thiếu vắng một số nước ở châu Á. Philippines và Việt Nam đều có thể cung cấp các cơ hội trong tương lai đối với các thỏa thuận hợp tác nếu cả hai chính phủ hiểu rõ những giá trị lớn về lợi ích của việc hợp tác cũng như cạnh tranh, và khuyến khích xây dựng doanh nghiệp xuyên biên giới.

Cuối cùng, một trục kinh tế không chỉ bao gồm các hành động mà còn có lời hứa. Điều này có nghĩa phải ngưng trừng phạt các công ty thương mại và đầu tư ở nước ngoài.

Sẽ rất khó khăn để thuyết phục các lãnh đạo doanh nghiệp về triển vọng thương mại ở châu Á nếu họ phải lo lắng về việc bị trù dập chính trị. Việc này một phần sẽ là điều mà các chính trị gia cần thực hiện để hạn chế, nhưng phần khác là giải thích thể nào để một số lãnh đạo ở Washington hiểu tầm quan trọng về chiến lược và kinh tế thương mại và đầu tư ở châu Á, trong đó bao gồm sẵn sàng giúp các doanh nghiệp vượt qua những trường hợp [bị chính trị trù dập] và đẩy mạnh cơ hội mở rộng kinh doanh ra nước ngoài.

Thật không may, tại thời điểm này thì hầu như không có bất kỳ ai ở Washington có thể giải thích rằng chủ nghĩa bảo hộ sẽ làm tổn thương cả hai nền kinh tế Hoa Kỳ và lợi ích của người Mỹ ở nước ngoài. Và không ai có thể đứng vào vị trí đó để giao tiếp với cộng đồng doanh nghiệp về việc mở rộng quan hệ thương mại ở châu Á.

Lợi ích cốt lõi của hòa bình và ổn định trong khu vực Đông Nam Á – đồng thời cũng là một trục chiến lược của chính quyền Hoa Kỳ – là mở đường cho các cơ hội thương mại lớn ở cả hai bờ Thái Bình Dương. Washington cần phải hiểu rằng thương mại và quan hệ kinh tế có thể sẽ đóng vai trò quan trọng trong bức tranh giải pháp chiến lược ở khu vực Đông Nam Á, và đây không hẳn là điểm kết thúc cuối cùng.

* Ông Chin là chuyên viên cao cấp và thực tập viên điều hành tại Viện Công nghệ Châu Á (Asian Institute of Technology), đồng thời là giám đốc quản lý RiverPeak Group. Ông từng là Đại sứ Hoa Kỳ tại Ngân hàng Phát triển Châu Á trong giai đoạn 2007-2010.

© Bản tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC 2012

Scridb filter

Author: tapchiphiatruoc

Share This Post On
468 ad

Trackbacks/Pingbacks

  1. Anhbasam Điểm Tin thứ Hai, 13-08-2012 | bahaidao2 - [...] - NHIỆM KỲ ĐẦU CỦA HỌC THUYẾT OBAMA (Project Syndicate/ Hồ Hải).   - Hoa Kỳ cần một trục kinh tế hướng về châu…
  2. Tin thứ Hai, 13-08-2012 « BA SÀM - [...] KỲ ĐẦU CỦA HỌC THUYẾT OBAMA (Project Syndicate/ Hồ Hải).   - Hoa Kỳ cần một trục kinh tế hướng về châu Á (WSJ/…

Leave a Reply

%d bloggers like this: