Hoa Kỳ gỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí có ý nghĩa gì đối với Việt Nam?

CTV Phía Trước chuyển ngữ
Cuong T. Nguyen
, ĐH Chicago, EAF

Việc Hoa Kỳ gỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí vốn kéo dài cả thập kỷ đã đánh dấu bước chuyển lịch sử trong mối quan hệ Việt–Mỹ, mở đường cho những hợp tác chiến lược giữa hai nước từng đối địch cách đây vài thập niên. Vậy điều này có ý nghĩa như thế nào đối với an ninh và chính trị của Việt Nam?

Tổng thống Barack Obama (phải) và Chủ tịch nước Trần Đại Quan tại Phủ Chủ tịch ngày 23 tháng 05, 2016. Ảnh: PBS.org

Tổng thống Barack Obama (phải) và Chủ tịch nước Trần Đại Quan tại Phủ Chủ tịch ngày 23 tháng 05, 2016. Ảnh: PBS.org

Gỡ bỏ lệnh cấm vận không có nghĩa rằng Việt Nam sẽ ngay lập tức mua hàng loạt hệ thống hay vũ khí của Hoa Kỳ. Thay vào đó, Việt Nam sẽ tập trung vào công nghệ giám sát và trinh sát phục vụ an ninh hàng hải, nâng cấp hệ thống viễn thông, và tình báo. Thách thức chính ở đây là liệu Việt Nam có đủ khả năng chi trả cho những công nghệ kể trên hay không.

Các nhà hoạt đồng nhân quyền vẫn giữ quan điểm rằng chính sách gỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí là một nỗ lực không được tính toán kỹ lưỡng của Hoa Kỳ khi nước này không cân nhắc tình trạng nhân quyền ở Việt Nam. Mặc dù hai nước còn nhiều khác biệt về tư tưởng, điều đã cản trở mối quan hệ Việt–Mỹ trong nhiều năm, nhưng việc gỡ bỏ lệnh cấm mua bán vũ khí nằm trong lợi ích chiến lược lâu dài của Hoa Kỳ. Để xua tan mối lo ngại trong tầng lớp lãnh đạo bảo thủ rằng việc hàn gắn quan hệ giữa hai nước có thể gây ra những thay đổi về mặt thể chế ở Việt Nam, Hoa Kỳ cũng ý thức rằng không nên để những vấn đề nhân quyền là điều kiện cho việc gỡ bỏ lệnh cấm.

Hiệp định Đối tác Thương mại Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership) là kênh hữu hiệu để gây ảnh hưởng tới thể chế và cấu trúc về hồ sơ nhân quyền ở Việt Nam, đặc biệt là quyền lao động.

Ngoài Chương 19 trong TPP, Hoa Kỳ cũng đã thông qua thoả thuận song phương – Kế hoạch Thống nhất Tăng cường Quan hệ Thương mại và Lao động – yêu cầu Việt Nam thực hiện cải cách về quy định và luật pháp nhằm tạo điều kiện tiện tiên quyết để đảm bảo lợi ích thương mại với Hoa Kỳ. Kế hoạch bao gồm điều khoản yêu cầu Việt Nam cho phép hình thành các công đoàn độc lập.

Nếu Việt Nam không tuân thủ điều khoản này trong 5 năm kể từ khi thoả thuận có hiệu lực, Hoa Kỳ sẽ cắt hoặc tạm ngưng nhưng ưu đãi hiện có về thuế đối với Việt Nam. Vì sự phục hồi của nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc phần lớn vào thị trường Hoa Kỳ,mặc dù thời kỳ tăng trưởng ở Hoa Kỳ có phần chững lại, nhưng Washington có được những lợi thế đáng kể về nhân quyền khi đàm phán với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhiều nhà bình luận Trung Quốc cho rằng quyết định gỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí của Hoa Kỳ sẽ thổi bùng sự hiềm khích vốn có của hai nước này với Trung Quốc. Cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ đều công nhận rằng bất cứ hành động tiến bộ nào trong quá trình bình thường hoá quan hệ giữa hai nước đều không tránh khỏi những tác động có thể ảnh hưởng đến Bắc Kinh. Nhưng cả hai nước đều không muốn “yếu tố Trung Quốc” cản trở sự phát triển đối với mối quan hệ song phương Việt–Mỹ.

Từ quan điểm của phía Hà Nội, Việt Nam không muốn liên quan quá sâu vào việc tranh giành quyền lực giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Việt Nam muốn tránh một trong hai kịch bản xấu: một là Hoa Kỳ và Trung Quốc đối đầu trực tiếp về quân sự, vì như vậy cũng không có lợi cho lợi ích quốc gia của Việt Nam; kịch bản khác là hai cường quốc bắt tay hợp tác, gây phương hại đến những quốc gia nhỏ hơn trong khu vực.

Cách tốt nhất để tránh được những kịch bản này là tận dụng các cơ hội với Hoa Kỳ hoặc Trung Quốc để tự củng cố sức mạnh quân sự trong tình hình trật tự quốc tế. Chấp nhận vị thế hiện tại có thể được xem là Hà Nội không quá thân với chính quyền Trung Quốc, như vậy có thể giảm thiểu khả năng Hoa Kỳ thoả hiệp cùng với Trung Quốc, điều hoàn toàn không mang lại lợi ích nào cho Việt Nam.

Việc gỡ bỏ lệnh cấm vận cũng đồng thời mở ra cho Hà Nội cơ hội để nâng cao năng lực quốc phòng mà không vi phạm chính sách quốc phòng được xây dựng bấy lâu nay dựa trên nguyên tắc “ba không”: không liên minh quân sự với quốc gia khác, không cho phép quốc gia khác thiết lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam, và không phụ thuộc vào hỗ trợ quân sự từ quốc gia nào khi giao tranh với nước khác.

Việt Nam hướng tới nâng cao quốc phòng để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và trở thành một thành viên ASEAN có trách nhiệm về an ninh trong khu vực chứ không cố gắng hạn chế sự lớn mạnh của Trung Quốc.

Việc Hoa Kỳ gỡ bỏ lệnh cấm vận cũng hỗ trợ chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam trong nỗ lực đa dạng nguồn cung cấp vũ khí và thiết bị quân sự, giảm phụ thuộc vào nguồn cung cấp từ phía Nga.

Cảng quốc tế Cam Ranh đi vào hoạt động từ tháng Ba năm nay cũng đã trở thành nơi tiếp nhận duy tu, sửa chữa, và tiếp nhiên liệu cho các tàu sân bay và tàu ngầm. Trước lễ khánh thành, VIệt Nam và Nhật Bản đã đạt được thoả thuận cho phép tàu của Nhật được neo đậu.

Về phía Hoa Kỳ, gỡ bỏ lệnh cấm là một cơ hội để các tàu của hải quân nước này được vào neo đậu hoặc viếng thăm Vịnh Cam Ranh. Mặc dù Hoa Kỳ tuyên bố không có ý định sử dụng cảng biển trong giai đoạn hiện tại, nhưng nếu nước này muốn tạo thế cân bằng với Trung Quốc trên Biển Đông, vị trí chiến lược của Vịnh Cam Ranh sẽ là lá chắn tự nhiên trước những cuộc tấn công, đồng thời cũng là nguồn cung cấp nhiên liệu và sửa chữa tàu Mỹ.

Về lâu dài, Việt Nam sẽ hội nhập sâu hơn và mạng lưới quốc phòng khu vực, trong đó có những đồng minh của Hoa Kỳ và các đối tác chiến lược. Khu vực này cho phép Hoa Kỳ đạt được mục tiêu lớn hơn: thể chế hoá hoạt động quốc phòng đa phương có thể nâng cao khả năng huấn luyện và tăng cường cam kết cộng tác trong khu vực Châu Á–Thái Bình Dương.

_________

Cuong T. Nguyen tốt nghiệp Ủy ban Quan hệ Quốc tế, Đại học Chicago, hiện là giảng viên Khoa Quan hệ Quốc tế, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hồ Chí Minh.

Scridb filter

Author: tapchiphiatruoc

Share This Post On
468 ad

Leave a Reply

%d bloggers like this: