Khoa học giả tưởng – Một tiến trình lịch sử (II)

Hà Thủy Nguyên

“Bất cứ điều gì một người có thể tưởng tượng ra thì một người nào đó khác có thể biến nó thành hiện thực” – Jules Verne

Cho đến nay vẫn nhiều tranh cãi về định nghĩa thế nào là “khoa học viễn tưởng” (sience fiction) vì dù có lịch sử lâu dài từ thời Phục hưng đến nay, nhưng vẫn chưa được nghiên cứu đúng đắn nào về thể tài này được thực hiện. Những định nghĩa về “khoa học viễn tưởng” chủ yếu đề do các tác giả tự đưa ra. Robert A.Heinlein (tác giả của “History of future”, một nhà văn khoa học viễn tưởng nổi tiếng của Mỹ thế kỷ 20) đã đưa ra định nghĩa như sau: “Một định nghĩa đơn giản cho “khoa học viễn tưởng” có thể đưa ra là: thông qua sự quan sát thực tại để đưa ra những dự đoán về tương lai, dựa trên những hiểu biết vững chắc và thấu đáo về thế giới từ quá khứ đến hiện tại, cũng như  về bản chất và tầm quan trọng của các phương pháp khoa học”. Đây có lẽ là định nghĩa toàn diện nhất về “khoa học viễn tưởng”.

Xem thêm:

Văn học giả tưởng – một tiến trình lịch sử (I)

Khảo sát một tiến trình phát triển của văn chương khoa học viễn tưởng từ thời Phục Hưng đến nay với các tác phẩm như “Utopia” (Thomas More), “Micromega” (Voltaire), “Frankeinstein hay Prometheus hiện đại” (Mary Shelley), các tác phẩm của Jules Verne, các tác phẩm của Robert A. Heinlein… ta có thể tạm thời xác định các đặc trưng của tiểu thuyết khoa học viễn tưởng gồm có: những tưởng tượng về tương lai của nhân loại, khoa học và công nghệ tương lai, du hành vượt không – thời gian, nghiên cứu về các vũ trụ song song, người ngoài hành tinh, những khả năng huyền bí… Với sự đánh giá “khoa học viễn tưởng” như một loại văn chương giải trí, thuần túy gắn với sự tưởng tượng, giới phê bình và đa số độc giả đã bó hẹp phạm vi của “khoa học viễn tưởng” trong những chi tiết về khoa học công nghệ tương lai hay những tưởng tượng về người ngoài hành tinh. Vượt trên cả những tưởng tượng đó, văn chương khoa học viễn tưởng là loại văn chương của những tư tưởng được dựa trên các suy niệm siêu hình và các lập luận logic. Đi xa hơn, Robert A.Heinlein, trong tác phẩm “Thế giới như thần thoại”(World as Myth) đã lý giải thế giới thần thoại với các vị thần, các sinh vật huyền bí như là một thực tại song song với thế giới vật lý nơi ta đang sống. Với cách hiểu mở rộng như vậy, “khoa học viễn tưởng” không phải là một thể tài đối lập với văn học huyền ảo, mà còn thực hiện một nhiệm vụ khó khăn đó là chứng minh những gì bị coi là không thật, là tưởng tượng trong văn học huyền ảo vốn là những sự thực chưa được nhận biết.

II.2.1. Đi tìm nguồn cảm hứng của Khoa học viễn tưởng

Khoa học – Công nghệ là lĩnh vực đặc trưng của văn minh phương Tây. Ở các quốc gia phương Đông như Hồi giáo, Ấn Độ, Trung Hoa, khoa học không được coi trọng ngoài những ứng dụng thiết thực trong đời sống. Người phương Tây coi Khoa học – Công nghệ là công cụ để nghiên cứu về bản chất vũ trụ và thực tai.

Thời cổ Hy Lạp, khoa học về thực tại là nền tảng cho triết học siêu hình sau khi triết gia Parmenides khẳng định trong tác phẩm “Về bản chất tự nhiên” rằng: thực tại là sự đồng nhất, nhất thể, là vấn đề đáng quan tâm nhất của triết học. Sau Parmenides, các triết gia như Democritus, Epicurus… đã đi sâu vào lý giải bản chất của thực tại là gì. Họ là những người theo thuyết nguyên tử luận. Cũng trong thời đại này, các nhà khoa học vĩ đại như Thales, Pitagore, Euclide… đã đưa ra những định luật mà các về sau khoa học hiện đại càng chứng minh sự đúng đắn của chúng. Câu chuyện về các nhà khoa học cũng mang màu sắc huyền thoại, và cũng từ đó mà tạo cảm hứng cho các nhà văn khoa học viễn tưởng sau thời kỳ Phục Hưng. Khoa học gia huyền thoại được ghi lại nhiều nhất trong các ghi chép của sử gia La Mã là  Achimedes. Huyền thoại về ông được gắn liền với trận chiến ở thành bang Syracuse chống lại tướng Marcellus của La Mã. Trong ghi chép của sử gia Polybius, Achimedes chế tạo được những thiết bị đáng kinh ngạc: “Những cái xà to lớn được đột ngột phóng xuống từ những tường thành ngay trên các con tàu, và khiến các con tàu có thể bị chìm vì sức nặng lớn rơi xuống từ trên cao. Một số con tàu khác thì bị chộp, vào phần mũi bởi những cái móng vuốt bằng sắt, hoặc bởi những cái mỏ của những con hạc, để rồi bị kéo bằng tời lên cao rồi vứt xuống vực sâu. Một số tàu khác bị quay tròn bởi những phương tiện cơ giới đặt bên trong thành, và đập mạnh vào những mỏm đá nhô ra biển cùng với sự thiệt hại lớn của các binh sĩ trên tàu” Achimedes được mệnh danh là “người vô song, người quan sát bầu trời và các vì sao”, hay như sử gia Plutarch bình phẩm: “Người La Mã xem chừng phải chiến đấu chống lại những vị thần”.

Những người theo thuyết nguyên tử luận không phủ nhận phần tinh thần, nhưng họ cho rằng vạn vật đều được cấu tạo từ những hạt “gốc”. Sự khác biệt của các cá thể là do sự sắp xếp giữa các hạt này. Sự sắp xếp càng hoàn thiện thì cá thể đó càng hoàn thiện. Bởi vậy, tính thần thánh đối với những triết gia này là sự đạt tới sự hoàn hảo mà các Thiên tài (genius) là đại diện cho sự thần thánh đó, những người hiểu được bản chất của thực tại và điều khiển được quy luật của tự nhiên. Ở một khía cạnh nào đó, các nhà khoa học rất gần với biểu tượng về pháp sư (wizard) và phù thủy (witch) trong thần thoại.

 ImageBước sang thời Phục Hưng, khoa học được khôi phục và phát triển nhưng không còn đi tìm bản chất của thế giới nữa, bởi lẽ, khoa học được sự hỗ trợ của nhà thờ Công giáo đã mặc nhiên thừa nhận Chúa sáng thế và các Thiên thần – Ác thần. Khoa học thời kỳ này được tiếp thu từ các công trình Cổ Hy Lạp và hướng sự tập trung vào các sáng chế thiên tài. Huyền thoại của Phục hưng nằm ở các ghi chép của Leonardo De Vinci với tham vọng biến chì thành vàng và phát minh ra động cơ vĩnh cửu. Sự thử nghiệm của Leonardo De Vinci đến mức độ nào thì không rõ, nhưng những phát minh của ông đã truyền cảm hứng cho các nhà phát minh Châu Âu và trở thành hình mẫu cho các tiểu thuyết khoa học viễn tưởng sau này. Qủa đúng như tiểu thuyết gia Jules Verne đã từng viết: “Bất cứ điều gì một người có thể tưởng tượng ra thì một người khác có thể biến nó trở thành hiện thực” (“80 ngày vòng quanh thế giới”)

Bên cạnh đó, các ghi chép về một nền văn minh rực rỡ đã bị chôn vùi cũng là nguồn cảm hứng cho các nhà văn khoa học viễn tưởng. Nền văn minh được ghi chép lại cụ thể nhất là Atlantis, trong tác phẩm “Republic” của Plato như một đỉnh cao của nhân loại, một ví dụ điển hình của thời kỳ Vàng trong thần thoại. Nền văn minh Atlantis là nguồn cảm hứng cho tiểu thuyết “Utopia” nổi tiếng của Sir Thomas More (1516). Thậm chí, ngay cả các ghi chép của sử gia La Mã về đô thành Alexandria đã từng có các phát minh về động cơ hơi nước, máy chạy tự động bằng cách nhét đồng xu vào… không khỏi khiến cho các học giả sau nhiều thế kỷ chìm ngập trong đêm trường Trung Cổ phải ngỡ ngàng.

Với nguồn cảm hứng lớn lao như vậy, văn chương khoa học viễn tưởng không phải chỉ là một thứ giải trí thuần túy. Trong những tác phẩm kinh điển của khoa học viễn tưởng, các tác giả đều mong muốn khám phá bản chất của thực tại bằng những lý giải khoa học, hoặc đưa ra ý tưởng hướng tới một thế giới văn minh đỉnh cao với đẳng cấp người siêu việt.

II.2.2. Tìm hiểu lịch sử phát triển của tiểu thuyết Khoa học viễn tưởng

Đi tìm nguồn gốc của “khoa học viễn tưởng” quả thực là điều khó khăn. Nếu có thể chấp nhận những tác phẩm văn học có sử dụng các chi tiết khoa học để giải quyết một số sự kiện thì ngay từ “Trường ca Gilgamesh” – tác phẩm chữ viết đầu tiên của nhân loại đã sử dụng các kiến thức về thiên văn trong đó. Nhưng với cách hiểu như vậy thì có lẽ đa phần các tác phẩm văn học đều có thể coi là “khoa học viễn tưởng”. Cho nên, chúng ta có thể lấy mốc từ cuộc Cách mạng Khoa học ở thời Phục Hưng với các phát minh và khám phá của Galileo và Newton trong lĩnh vực Thiên văn, Vật lý và Toán học là điểm nổ cho sự phát triển của văn chương khoa học viễn tưởng.

Tuy nhiên, có thể coi tác phẩm “Utopia” của Sir Thomas More (1516) là tác phẩm đầu tiên của thể tài này. “Utopia” viết về một cộng đồng siêu việt lấy cảm hứng từ nền văn minh Atlantis được ghi chép trong “Cộng hòa” của Plato. Trong tác phẩm này, Thomas More mô tả một cộng đồng sống trên một hòn đảo giả tưởng ngoài Đại Tây Dương với đời sống gần gũi với bản tính tự nhiên, văn minh đạt tới đỉnh cao với sự phục vụ của máy móc và công nghệ, mọi người đều sống trong sự hài hòa và tự do tuyệt đối, đạt được sự tiến hóa tâm linh tối cao… “Utopia” là ước vọng cao nhất của bất cứ một nền văn minh nào, là ý tưởng được lan tỏa trong tinh thần tất cả những nhà văn giả tưởng chân chính. Sau Thomas More, Francis Bacon tiếp tục phát triển lý thuyết này qua tác phẩm “Tân Atlantis” (1627). Đó không chỉ là  sự tưởng tượng về một thế giới không có thật, đó là khuôn mẫu hướng tới cho một tư tưởng chính trị hoàn hảo mà ngay cả Rousseau, Voltaire, Karl Marx cũng bị quyến rũ.

Thời kỳ Khai Sáng đánh dấu một bước phát triển mới của Khoa học viễn tưởng. Các tác giả thời kỳ này không còn tập trung hướng tới cộng đồng siêu việt nữa mà bắt đầu đưa ra những ý tưởng về các phát minh khoa học công nghệ, những cuộc khám phá và thám hiểm vũ trụ, đúng như tên gọi khác của thời Khai Sáng, là kỷ nguyên của Hoài nghi. Nhà tư tưởng lớn thời Khai Sáng là Voltaire cũng có một tác phẩm khoa học viễn tưởng có tên “Micromega” (1752), kể về một cuộc du hành không gian, như một sự khẳng định có nền văn minh ngoài Trái Đất và nền văn minh ấy vượt trội hơn hẳn chúng ta. Truyền cảm hứng cho ý tưởng của Voltaire trong ‘Micromega” phải kể đến tác phẩm giả tưởng “Juliver du ký” của Taylor Swift (1726), kể về cuộc phiêu lưu của chàng Juliver đến nhiều nền văn minh của những giống loài khác nhau.

Năm 1818, tác phẩm “Frankenstein hay Promeuthes hiện đại” của Mary Shelley được xuất bản tạo một hiệu ứng mạnh mẽ. Nguyên mẫu “nhà bác học điên” có nguồn gốc từ tác phẩm này – những nhà bác học say sưa với phát minh điên rồ, tách biệt với đời sống con người, sánh ngang mình với quyền sáng tạo của Thiên Chúa. Nhân vật chính Frankenstein đi thu gom xác chết, lắp ghép các bộ phận và dùng dòng điện siêu mạnh để tạo sự sống. Ông đã tạo ra một sinh vật sống mà không thể gọi là con người. Phát minh này lấy cảm hứng từ động cơ vĩnh cửu trong các nghiên cứu của Leonardo De Vinci. Tuy nhiên, tác phẩm không bàn đơn thuần về ý tưởng phát minh, mà tác giả đã đặt ra các vấn đề về nguồn gốc sự sống, bản chất con người là gì – vấn đề mà những triết gia cổ đại của Hy Lạp vẫn luôn tìm kiếm. Trong “Frankenstein”, tác giả đã đưa ra cho chúng ta thấy sự phân biệt rõ ràng của vật chất và linh hồn, như sự khẳng định con người không phải chỉ đơn thuần được cấu thành bởi dạng vật chất. Con người có thể sáng tạo ra hình thù ở dạng vật chất, nhưng linh hồn lại được hình thành bởi một lực lượng vô hình nào đó mà chúng ta vẫn gọi là Thượng Đế.

Từ nguyên mẫu nhà bác học điên Frankenstein đã chuyển thành những nhà thám hiểm của Jules Verne như thuyền trưởng Nemo trong “Hai vạn dặm dưới đáy biển”, giáo sư Lindenbrock trong “Cuộc phiêu lưu vào lòng đất”. Nhưng điểm khác biệt với các bậc tiền bối, Jules Verne (1828-1905) đi sâu vào chi tiết của các khám phá và phát minh, đúng với tinh thần của Thời Khai Sáng với sự hoài nghi và tìm hiểu những điều chưa biết của thế giới. Các tác phẩm của Verne không còn đặt ra các vấn đề về linh hồn và thực tại nữa, nhưng những ý tưởng của ông đã gợi ý cho nhiều nhà sáng chế tạo nên đỉnh cao của văn minh phương Tây thế kỷ 20 như khinh khí cầu, tàu ngầm, tàu vũ trụ…

Trong khi ấy, tác giả cùng thời với Jules Verne ở thế kỷ 19 là H.G.Wells lại sử dụng khoa học viễn tưởng để truyền tải những tư tưởng của mình với xã hội. Ví dụ như trong “Cỗ máy thời gian” (1895), Wells mượn việc du hành thời gian để thể hiện những hình dung của mình về các tầng phát triển của xã hội từ thời cổ xưa đến lúc bấy giờ. Wells sử dụng thuyết Tiến hóa của Darwin và thể hiện là một người theo chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa của Karl Marx.  Khái niệm “cỗ máy thời gian” được mô tả như một cỗ xe là bắt đầu từ ý tưởng của Wells.

Ở Mỹ, các tác giả lớn cũng bị ảnh hưởng bởi dòng văn học khoa học viễn tưởng này. Edgar Allan Poe viết “Tự truyện của Athur Gordon Pym ở Nantucket”, Jack London viết “Người Mỹ ở Connecticut trong hội đồng Vua Arthur”, Jack London viết “Người đỏ”, “Gót chân sắt”, “Cuộc xâm lược vô song”… Đặc biệt là tác phẩm “Cuộc xâm lược vô song” với ý tưởng về chiến tranh vi trùng, diệt chủng và vũ khí năng lượng, Jack London đã làm thay đổi các khía cạnh của khoa học viễn tưởng lúc bấy giờ. Ông bắt đầu đặt ra sự lo ngại đối với những sáng chế của nền văn minh.

Khi những ý tưởng phát minh được các nhà sáng chế dần dần thực hiện thì độ hấp dẫn với những tác phẩm của Jules Verne và các nhà khoa học viễn tưởng ở đề tài này cũng dần giảm đi. Các nhà văn khoa học viễn tưởng của thế kỷ 20 lại tiếp tục quay lại với chủ nghĩa Utopia, dự đoán tương lai của nhân loại thông qua các lập luận khoa học. Robert A.Heinlein là một trong những đại diện của khoa học viễn tưởng thế kỷ 20 tại Mỹ. Ông là tác giả của 2 series đồ sộ: “Lịch sử của tương lai” và “Thế giới như là thần thoại”. Series “Lịch sử của tương lai” không chỉ là một tác phẩm giả tưởng đơn thuần, nó là một công trình nghiên cứu và chuỗi lập luận để dự đoán về kinh tế, chính trị, quân sự và sự tiến hóa của loài người. Trong Series “Thế giới như là thần thoại”, Heinlein mô tả những thế giới với sự huyền bí tồn tại song song với thế giới chúng ta đang sống và cố gắng chứng minh sự tồn tại ấy bằng những chứng minh khoa học. Cho đến Heinlein cùng với tác giả đồng thời người Anh của mình là Athur C.Clark (tác giả của “2001: Odyssey không gian”) khoa học công nghệ đã tiệm cận với thần học và tâm linh. Và tuyên bố của Clark có thể coi như là chìa khóa để mở ra một kỷ nguyên mới của khoa học: “Bất cứ con đường nào đến với Kiến thức đều là con đường dẫn chúng ta đến với Chúa, hay với Thực Tại hoặc bạn thích gọi là gì cũng được”.

Scridb filter

Author: tapchiphiatruoc

Share This Post On
468 ad

Trackbacks/Pingbacks

  1. Khoa học giả tưởng – Một tiến trình lịch sử (III) | Tạp chí Thanh Niên Phía Trước - [...] Khoa học giả tưởng – Một tiến trình lịch sử (II) [...]

Leave a Reply

%d bloggers like this: