Khoa học giả tưởng – Một tiến trình lịch sử (III)

Hà Thủy Nguyên

“Những thứ bạn nhìn thấy và nghe thấy phụ thuộc rất nhiều vào nơi bạn đang đứng. Và chủ yếu phụ thuộc vào việc bạn là loại người gì” – “Biên niên sử Narnia” – C.S Lewis

II.3. Thế giới “fantasy” hay một thực tại khác

II.3.1. Xác định khái niệm “fantasy”

“Fantasy” bắt nguồn từ tiếng Pháp cổ “fantasia”, có gốc từ tiếng Latin và Hy Lạp cổ là “phantasia” có nghĩa là sự tưởng tượng, sự biểu hiện; sau đó được hiểu gần với từ “phantom” (gốc Latin: phantazenin) có nghĩa là bóng ma hay quái tượng. Trong khoảng từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19, khái niệm “phantasy” trở nên thông dụng.

Xem thêm:

Văn học giả tưởng – Một tiến trình lịch sử (I)

Khoa học giả tưởng – Một tiến trình lịch sử (II)

Với cách hiểu đó, có thể coi “fantasy” là dòng chảy chính của văn chương thế giới trong suốt thời kỳ Cổ đại đến trước Phục Hưng, chỉ có điều nó tồn tại ở hình thức Thần thoại, Sử thi. Một số tác phẩm của thời kỳ Phục Hưng và Khai Sáng vẫn sử dụng yếu tố “fantasy”. Ta có thể kể đến vở “Cơn bão”  (“The tempest” – 1610) của W.Shakespeare. Trong vở kịch này, Shakespeare xây dựng một nhân vật siêu nhiên, tồn tại ở dạng tinh thần, có tên là Ariel (Không rõ là có liên hệ gì với Đại Thiên Thần Ariel trong Kinh Thánh hay không). Nhân vật này không có giới tính, vô hình và nắm giữ các quyền năng huyền bí và bị ràng buộc bởi thày phù thủy Prospero. Các tác giả sau Phục hưng quan tâm tới mối liên hệ giữa con người và lực lượng siêu nhiên, và các nhân vật chính đều là những người bí mật giữ khả năng này cho riêng mình để thực hiện quyền lực tối cao. “Faust”( 1806 – 1832) của Goethe cũng là một tác phẩm như vậy. Câu chuyện về Faust ký giao kèo với quỷ dữ để đạt tới đỉnh cao của trí tuệ bắt nguồn từ truyền thuyết dân gian của Đức về thày phù thủy – nhà bác học điên Faust. Đằng sau sự liên lạc mang tính biểu tượng đó, là một khát khao của con người đi giải mã các hiện tượng siêu nhiên mà logic thông thường không thể lý giải được và xa hơn thế là mong muốn kiểm soát các lực lượng siêu nhiên ấy. Nhưng có vẻ như Faust của Goethe phải bất lực và Prospero thấy rõ sự vô nghĩa của điều ấy đến mức giải phóng cho Ariel.

Sau Khai Sáng, “fantasy” phân nhánh thành hai dạng: Một là các tác phẩm dành cho thiếu nhi sử dụng các yếu tố thần thoại, được gọi là “mythic fiction”. Hai là các tác phẩm dùng các yếu tố huyền bí (mystic, tiếng Pháp cổ:Mystique, có gốc từ Latin và Hy Lạp: Mustikote có nghĩa là “sự bí truyền”)

ImageII.3.2. Các tác phẩm “Fantasy” sử dụng yếu tố huyền bí

Nối tiếp “The tempest” và “Faust”, các tác phẩm sử dụng yếu tố huyền bí vẫn tiếp tục được sáng tác. Nhưng không còn có những cuộc đối thoại hay giao kèo nữa, mà là con người bị sự huyền bí dẫn dắt và điều khiển trong sự hoảng loạn vô minh. Những điều huyền bí không còn tạo cảm giác thích thú và bay bổng mà gây một sự sợ hãi đối với người đọc.

 

Edgar Allan Poe (1809 -1849) – ông tổ của truyện trinh thám – là thiên tài trong sử dụng yếu tố huyền bí. Truyện ngắn của Edgar A.Poe đến nay vẫn gây ám ảnh lớn với độc giả. Không lý giải, không triết luận, ông bỏ lửng sự huyền bí trong mơ hồ. Con người thường sợ những gì họ không hiểu, Edgar A.Poe đã gợi nhắc về những vùng không hiểu của con người trong các truyện ngắn kinh điển như “Con mèo”, Vở nhạc kịch cái chết đỏ”, “Ngôi nhà đổ của Usher”, “Trái tim tự truyện”… và các bài thơ “Con quạ”, “Mơ ở trong mơ”… Edgar Allan Poe có sức ảnh hưởng lớn tới Conan Doyle, tác giả của Sherlock Holmes và rất nhiều truyện ngắn kinh dị nổi tiếng của thế giới hiện đại.

Tiểu thuyết “Bức chân dung Dorian Gray”(1891) của nhà văn vĩ đại người Ai len Oscar Wilde là điển hình cho sự ám ảnh của yếu tố huyền bí. Câu chuyện kể về chàng quý tộc Dorian Gray có một vẻ đẹp hoàn hảo – nhân vật chính trong bức chân dung của họa sĩ thiên tài Basil Hallward. Dorian nhận ra một ngày nào đó sắc đẹp sẽ phai tàn, nên anh có một ước mong sẽ bán linh hồn của mình để giữ mãi sự hoàn hảo đó. Kỳ lạ thay, quả nhiên sự hoàn hảo của Dorian Gray được giữ mãi mãi, nhưng bức tranh thì hàng ngày bị dòi bọ tàn phá và thối rữa. Để bảo vệ bí mật này, Dorian bức tử người yêu của mình, giết chết Basil và gây nhiều tội ác cho đến khi anh thật sự muốn đi tìm linh hồn của mình. Rõ ràng, tác phẩm chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của “Faust”.

Chất huyền bí này được phát triển thành dòng văn học “hiện thực huyền ảo” của Nam Mỹ mà đại diện vĩ đại nhất là Gabriel Marquez với tiểu thuyết “Trăm năm cô đơn”. Tuy nhiên khả năng gây sợ hãi và rùng rợn của chất huyền bí này càng ngày càng giảm, khi các nhà khoa học đã có những khám phá và lý giải về bản chất của siêu nhiên. Khoa học không còn từ chối siêu nhiên như một thứ mê tín dị đoan, mà ngược lại, còn chấp nhận đó là một thế giới còn bí ẩn, chưa được biết tới, và con người sợ hãi chỉ vì họ không hiểu về nó. Tạo dựng một niềm tin chắc chắn vào một thực tại mà chúng ta chưa biết tới-  một thế giới tồn tại các lực lượng bí ẩn và các sinh vật huyền bí… nhiệm vụ đó, những tác phẩm giả tưởng thần thoại (“mythic fiction”) đã hoàn thành một cách xuất sắc.

II.3.3. Tìm hiểu về giả tưởng thần thoại

Giả tưởng thần thoại là thể tài mà trong đó các tác phẩm viết về một thế giới khác biệt với thế giới vật chất đang hiện hữu. Trong thế giới ấy, có thần tiên, ma quỷ, phép thuật, sinh vật huyền bí…  Thể tài này đặc biệt phát triển ở thế kỷ 19 và thế kỷ 20, khi người trưởng thành hoài nghi và sợ hãi với siêu nhiên thì thế giới siêu nhiên lại trở thành cõi mơ mộng của tuổi thơ ấu. Và nghiễm nhiên, “mythic fiction trở thành thế giới của tuổi thơ, nơi mà chính tác giả được thỏa sức sống với những ký ức thần thánh của mình.

Nền tảng cho thể tài này, ngoài những thần thoại thời Cổ đại và Trung Cổ, còn phải kể đến công trình biên soạn – sáng tác của các nhà sưu tầm truyện cổ. Người mở đầu quan trọng của công cuộc này là Antoine Galland (1646-1715) với bộ truyện đồ sộ “Nghìn lẻ một đêm” về xứ Ả Rập huyền bí. Sau đó là anh em nhà Grimm vào nửa đầu thế kỷ 19 với bộ Truyện cổ Grimm. Vĩ đại nhất là “người kể chuyện cổ tích” Hans Christian Andersen (1805-1875) với những truyện kể giàu chất thơ và truyền tải nhiều ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Ông không chỉ sưu tầm, mà còn sáng tạo dựa trên những mẩu cổ tích như “Bà chúa Tuyết”, “Con chim họa mi”, “Nàng tiên cá”… Với nguồn cảm hứng từ Andersen, Oscar Wilde cũng viết nhiều truyện ngắn thuộc thể tài giả tưởng thần thoại, mà nổi tiếng nhất là “Họa mi và hoa hồng”, “Hoàng tử hạnh phúc”, bài thơ “Narcisss”… Truyện ngắn của Andersen và Oscar Wilde thực sự đã mở ra một trào lưu mới trong suốt thế kỷ 19-20, có sức ảnh hưởng mạnh mẽ tới tâm trí non nớt của tuổi ấu thơ.

Image Trái ngược với cảm giác rùng rợn mà các tác phẩm huyền bí tạo ra, giả tưởng thần thoại gọi thế giới không được biết đến này là “wonderland”(kỳ diệu) hay “neverland” (vĩnh cửu). Sự qua lại với thế giới này được tạo dựng bằng “giấc mơ”. Trong tác phẩm kinh điển của tác giả Lewis Caroll “Cuộc phiêu lưu của Alice ở xứ Wonderland” (1865),  tác giả sử dụng cách thức để Alice đến với Wonderland là qua những giấc mơ khi còn rất bé, và khi cô lớn hơn một chút bắt đầu quên dần giấc mơ ấy thì cô bị rơi vào một cái “hố đen” mà cô tưởng là “hố thỏ”. Những nhà phân tâm học chuyên nghiên cứu giấc mơ như Freud và Jung có thể sẽ gọi tình trạng này của Alice mà một cuộc đi “thăm dò tiềm thức”.

“Những câu chuyện kể về Peter Pan” (1902 – 1906) của J.M.Barrie đề cập đến một vùng đất khác có tên là “Neverland” – vùng đất vĩnh cửu. Những đứa trẻ ở “Neverland” đều không bao giờ trưởng thành hay già đi. Peter Pan – người đứng đầu lũ trẻ, với sự giúp đỡ của tiên Tinkle Bell và chị em Wendy chống lại những người trưởng thành đầy quỷ kế muốn thống trị Neverland mà đại diện là Thuyền trưởng Hook. Thế nhưng, ở cuối chuyện, mặc dù Peter Pan thắng, nhưng Wendy đã đầu hàng và trở về với thế giới thực để có thể trưởng thành. Peter Pan và vùng đất Neverland chính là mơ ước của những người lớn tuổi bị thôi thúc bởi sự trỗi dậy của nguyên mẫu “đứa trẻ thần thánh” mà Jung đã đề cập đến trong lý thuyết của mình.

“Phù thủy xứ Oz” (1902) của Frank Baum ở Mỹ mô tả sự dịch chuyển đến thế giới của những điều kỳ diệu bằng một cơn lốc xoáy. Cơn lốc xoáy này và cơn bão trong vở kịch cùng tên của Shakespeare có lẽ mang tính chất biểu tượng như một biến cố định mệnh thúc đẩy nhân vật chính đi tìm ý nghĩa đích thực của tồn tại, mà ở đây cụ thể là ý nghĩa của “linh hồn”. Người thiếc đi tìm trái tim, bù nhìn rơm muốn có trí thông minh, sư tử muốn có lòng dũng cảm… đó là biểu hiện của phần “linh hồn”.

Bộ tiểu thuyết vĩ đại nhất của thể loại này phải kể đến bộ “Biên niên sử Narnia”(1950-1956) của C.S.Lewis. Tác phẩm không chỉ vẽ ra một thế giới thần tiên có tên là Narnia mà còn chứa đựng trong đấy là lý thuyết về sự Sáng thế, về các thế giới song song tồn tại trong quyển “Cháu trai của pháp sư”; sự gợi nhắc về Thời Kỳ Vàng trong “Phù thủy, Sư tử và cái tủ áo” và “Hoàng tử Caspian”; ý nghĩa hành trình khám phá bí ẩn của vũ trụ trong “Con tàu hướng tới bình minh”… và để rồi trong quyển “Trận chiến cuối cùng”, sau trận đại chiến ở Narnia, các nhân vật chính của bộ truyện nhảy qua thác nước vĩnh cửu ở nơi tận cùng thế giới, họ gặp được Aslan và nhận ra đâu là một nước Anh thực sự – nơi đau khổ, chết chóc và chiến tranh ngự trị. Thông qua biên niên sử về một vùng đất tưởng tượng, C.S Lewis gợi nhắc cho chúng ta về thuyết mạt thế, về sự tàn phá của văn minh vật chất  và tham vọng của loài người. Tuy nhiên, ở cuối bộ truyện, tác giả lại khẳng định rằng sự kết thúc Narnia chẳng qua chỉ là khởi đầu một hành trình mới, hành trình đích thực ở vương quốc của Aslan – tương trưng cho đấng Sáng Tạo. “Biên niên sử Narnia” không phải là một tác phẩm tưởng tượng thuần túy, mà hơn thế nữa, là một học thuyết triết học được viết bằng những biểu tượng thần thoại.

“Biên niên sử Narnia” có thể coi là đỉnh cao của thể tài giả tưởng thần thoại. Nếu như Alice (Cuộc phiêu lưu của Alice ở xứ Wonderland), Wendy (Peter Pan) hay Dorothy (Phù thủy xứ Oz) đều trở về với thế giới thường nhật trong sự tiếc nhớ những ký ức đẹp đẽ của các cuộc phiêu lưu, thì các nhân vật chính của C.S Lewis đi xa hơn thế. Họ nhiều lần quay trở về thế giới thật, nhiều lần quay lại với Narnia, nhiều đến mức họ thấy xa dần cái nơi gọi là “thế giới thật”, và ngay cả khi thế giới tuyệt đẹp của họ sụp đổ thì họ cũng không bao giờ chấp nhận “thế giới thật” nữa, họ vươn tới một cõi vĩnh hằng và linh thiêng, cao cả hơn sự sống. Các tác phẩm giả tưởng thần thoại là một sự quay lưng lại với Chủ nghĩa thực dụng (“utilitarianism”) do John Stuart Mill và Jeremy Bentham đề ra ở Anh vào thế kỷ 19 và sau đó là John Dewey phát triển ở Mỹ trong các mô hình giáo dục. Lúc này, ở Anh, các trường thực nghiệm dựa trên chủ nghĩa này cũng bắt đầu trở nên thời thượng. “Biên niên sử Narnia” đánh thẳng vào thành trì này bằng nhân vật Eustace cáu kỉnh tràn ngập một tinh thần khoa học thực nghiệm được dạy dỗ tại trường, chỉ tin vào những gì có ở cuộc sống thường nhật, khinh thường sự mộng mơ của tuổi nhỏ.  Nhưng sau đó, chính Eustace vô tình bị đẩy vào hành trình với anh em Pavensies tới Narnia để rồi đắm chìm trong thế giới thần tiên và trung thành hết mực với Aslan – Đấng Sáng Thế vĩ đại.

Sau “Biên niên sử Narnia”, các tác phẩm giả tưởng thần thoại mặc dù quy mô đều lớn hơn, nhưng tầm tư tưởng lại hẹp hơn. Ta vẫn có thể kể đến một số bộ tiểu thuyết đồ sộ cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 như “Chúa tể những chiếc nhẫn” của Tolkien, “Harry Potter” của Rowling, “Bộ ba di sản” của Christopher Paolini, series “Chạng vạng” của Stepheine Meyer. Ngay cả tác phẩm lớn nhất là “Chúa tể những chiếc nhẫn”, hoàn toàn về thế giới thần thoại, không có dấu vết của “thế giới thật”, nhưng vẫn chỉ quanh quẩn ở cuộc chiến tranh giữa các giống loài huyền bí và vẫn vấn đề thiện ác. Các tác phẩm sau này quay trở lại với nguồn cảm hứng của các anh hùng sử thi, thực hiện một cuộc hành trình, chống lại cái ác và tự hoàn thiện bản thân sau mọi trở ngại. Tầm cỡ tư tưởng của những tác phẩm này không còn nhiều, mà thông qua những tưởng tượng về thế giới thần thoại và huyền bí, nguyên mẫu anh hùng được sống dậy, như một người nhận sự mệnh, bảo vệ cho điều thiêng liêng. Không thể phủ nhận, những tác phẩm này đã làm mưa làm gió trên thị trường sách toàn thế giới và tạo thành một trào lưu lớn trong nhiều năm vừa qua. Nhưng, giống như mọi trào lưu khác, sẽ đến lúc trào lưu này suy tàn, khi không có thêm được những tác phẩm mang tầm cỡ thời đại.

III – Dự đoán một tương lai cho văn học giả tưởng

Như đã nói ở cuối phần II.2.2, khoa học viễn tưởng đã có nhiều bước tiến đến gần với giả tưởng thần thoại. Khoa học không còn phủ nhận thế giới siêu nhiên mà bắt đầu khám phá bằng nhiều lĩnh vực khác nhau như Toán học, Vật lý, Thiên văn, Khoa học não bộ. Với bước tiến này, chắc chắn văn học giả tưởng phải có những thay đổi để tiến vào những vùng không biết trước niềm tin của nhân loại.

Image

Cuối thế kỷ 20, những lý thuyết khoa học về lỗ đen của vũ trụ – nơi mọi vật chất đều bị hủy hoại, ngoại trừ thông tin; hiệu ứng cánh bướm và lý thuyết hỗn độn lý giải về sự tác động của một thay đổi nhỏ trong cái toàn thể đã làm thay đổi hướng nghiên cứu của các nhà khoa học. Nhưng khám phá về vũ trụ toàn ảnh ở cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 của nhà vật lý Graig Hogan, nhà vật lý David Bohm và nhà não bộ học Karl Pribram mới thật sự mở ra một kỷ nguyên mới của khoa học. Lý thuyết toàn ảnh chỉ ra rằng: thực tại mà chúng ta đang tiếp xúc hàng ngày chỉ là một ảo tưởng – một bức tranh toàn ảnh. Thực tại có hai mức:  “tiềm ẩn” (cuộn lại) và “tường minh” (mở ra). Với lý thuyết trên, thì có thể coi “thế giới thật” là mức tường minh, còn thế giới “fantasy” trong các tác phẩm “mythic fiction”  là mức “tiềm ẩn”. Bởi vậy, David Bohm cho rằng sự phân chia thế giới “sống” và “không sống”, “thực” và “ảo” là một sự vô nghĩa. Không phải chỉ có vũ trụ, mà ngay cả não bộ của con người trong các nghiên cứu của Karl Pribram cũng chỉ ra điều tương tự. Họ cùng khẳng định rằng: trong một phần của vũ trụ hay một phần của bộ não, tức là một ảnh của toàn ảnh đều chứa thông tin của toàn bộ. Sự minh chứng cho tính đúng đắn của lý thuyết này đã mang đến cách giải thích của các hiện tượng huyền bí như thần giao cách cảm, tiên tri, sự thống nhất giữa con người và vũ tr

Cùng với khám phá về Vũ trụ Toàn ảnh, những nhà khảo cổ học đã tìm được bằng chứng chứng minh nhiều điểm bất hợp lý trong Thuyết Tiến hóa của Darwin. Trong cuốn “Những cấm kỵ khảo cổ học”, Micheal A. Cremo – một nhà khoa học của NBC đã cho thấy di chỉ về dấu chân người  tinh khôn và dấu chân khủng long cùng vị trí và niên đại. Điều này chỉ ra rõ rằng nhân loại có mặt trên Trái Đất từ hàng triệu năm trước và họ khẳng định chắc chắn rằng: Darwin không có những bằng chứng chắc chắn cho học thuyết của ông. Đi xa hơn thế, những nhà khảo cổ của NBC đã nghiên cứu về các nền văn minh cổ như Ai Cập, Celtic, Aztec… và một số nền văn minh bị chôn vùi như Mu, Gobi…, họ cho biết độ chính xác tuyệt đối của các công trình Kim Tự Tháp hay Bàn Thờ Đá Stonehedge đều liên quan đến Thiên Văn học cổ. Nếu không ở một trình độ văn minh rất cao thì các công trình đó không thể tuyệt đối chính xác đến thế, điều mà kiến trúc hiện đại đến giờ vẫn chưa thể đạt được. Tất cả điều đó chứng minh rằng không phải thế giới đang tiến hóa, không phải nền văn minh chúng ta đang sống là nền văn minh đỉnh cao, rằng những điều mà thần thoại các dân tộc và “Utopia” dự đoán là chính xác.

Khi nhân loại đã có sự hiểu biết về thực tại, khi chúng ta chấp nhận thế giới siêu nhiên với một niềm tin chắc chắn dựa trên các minh chứng về khoa học, vậy thì những điều huyền bí có còn dọa dẫm được, những thế giới kỳ diệu liệu còn có gây được sự tò mò và thích thú? Như vậy, văn học giả tưởng sẽ phải có một hướng đi hoàn toàn mới. Trong khi điện ảnh, với những bộ phim khoa học viễn tưởng như “Matrix”, “Avatar”, “Inception” đã chạm tới lý thuyết toàn ảnh thì văn học giả tưởng vẫn đang mơ hồ với cảm hứng xưa cũ. Cần một sự xích lại gần, đến mức sát nhập khoa học viễn tưởng và viễn tưởng thần thoại để lý giải và mô tả một vũ trụ toàn ảnh. Đó mới thực sự là bước tiến lớn. Và sau đó, biết đâu, nguồn cảm hứng mới của văn học giả tưởng lại là xây dựng một mô hình Utopia kiểu mới và tiếp tục hành trình mà khoa học đến giờ vẫn chưa giải quyết được: Chúng ta sinh ra từ đâu? Vũ trụ này khởi nguồn như thế nào? Liệu có chăng một Đấng Tối Cao bao trùm toàn vũ trụ? Tuy nhiên, dự đoán vẫn chỉ là dự đoán, bởi để có thể viết những tác phẩm lớn lao như vậy đòi hỏi ở nguời viết một trí não rất lớn với sự hiểu biết thông thái đặc biệt, và cũng đòi hởi ở người đọc một tri thức sâu sắc, rộng mở.

IV- Kết luận

Trên đây là một nỗ lực để có được cái nhìn tổng thể về văn học giả tưởng, với hi vọng rằng định vị lại thể loại với lịch sử lâu dài. Nếu định giá một tác phẩm văn học dựa trên những cách tân về hình thức và biểu tượng, thì văn học giả tưởng không được xếp vào những tác phẩm hàn lâm. Đọc văn học giả tưởng, không thể đọc bằng lý luận văn học, nghiên cứu trường phái này cũng không thể bằng các phương pháp thông thường. Để hiểu thật sự một tác phẩm giả tưởng, không chỉ văn học, mà thậm chí cả điện ảnh, hội họa, điêu khắc, người thưởng thức buộc phải có sự hiểu biết về Siêu hình học, khoa học tâm linh, Tôn giáo, Thần học và Huyền học. Với cách nhìn nghiêm túc về Văn học giả tưởng như vậy, chúng ta mới có thể đưa Văn học giả tưởng trở lại với quỹ đạo mà từ những năm 90 của thế kỷ 20 đến nay nó đang bị trật dần ra, để trở về với đúng vị trí xứng đáng: Dòng văn học của những tư tưởng.

(HẾT)

Scridb filter

Author: tapchiphiatruoc

Share This Post On
468 ad

Trackbacks/Pingbacks

  1. NHẬT BÁO BA SÀM : TIN THỨ NĂM 21-2-2013 « Ngoclinhvugia's Blog - [...] Khoa học giả tưởng – Một tiến trình lịch sử (III) [...]
  2. Tin thứ Năm, 21-02-2013 « BA SÀM - [...] Khoa học giả tưởng – Một tiến trình lịch sử (III) [...]

Leave a Reply

%d bloggers like this: