Liên minh Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương – NATO (II)

CTV Phía Trước chuyển ngữ
Jonathan Masters, CFR

Giới thiệu

Liên Minh Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương, nền tảng về an ninh khu vực xuyên Thái Bình Dương thời kì Chiến tranh Lạnh, trong 20 năm qua đã khôi phục lại đáng kể vai trò của mình. Được thành lập năm 1949 nhằm bảo vệ mình trước sự đối đầu của Liên Xô, NATO đã phát triển để đương đầu với những mối đe dọa, từ nạn hải tặc ở khu vực Sừng châu Phi đến buôn người ở vùng Địa Trung Hải. Tuy nhiên, trong khi NATO hiện đại nhìn chung được công nhận vai trò của mình vượt ra khỏi khuôn khổ châu Âu, trong những năm qua, những động thái của Nga, cụ thể trong sự can thiệp tại Ukraine, đã xoay chuyển mối quan tâm của liên minh trở về lục địa. Những diễn biến gần đây đã phơi bày những căng thẳng chưa được giải quyết khi NATO mở rộng đến khu vực thuộc Liên Xô trước kia.

Xem thêm Phần I

Ảnh: dailymail.co.uk

Ảnh: dailymail.co.uk

***

Afghanistan và Lực lượng Hỗ trợ An ninh Quốc tế (ISAF)

NATO viện đến điều khoản về phòng thủ tập thể (điều khoản V) lần đầu tiên sau khi vụ tấn công 11 tháng 9 diễn ra ở Mỹ, do mạng lưới khủng bố Al-Qaeda có trụ sở ở Afghanistan chủ mưu. Ngay sau khi lực lượng được Hoa Kỳ dẫn đầu lật đổ chính quyền Taliban ở Kabul, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ủy quyền xLực lượng Hỗ trợ an ninh quốc tế (ISAF) đến hỗ trợ chính quyền Afghan mới. NATO chính thức nắm quyền chỉ huy ISAF vào năm 2013, đánh dấu sự cam kết điều hành đầu tiên nằm bên ngoài châu Âu. Chuyên gia NATO Stanley Sloan trong phỏng vấn CFR từng nói: “Việc liên minh tham gia vào Afghanistan “là sự việc mang tính cách mạng. Đó là bằng chứng rằng NATO giờ đã thích nghi với những nhiệm vụ vô cùng khác biệt so với những gì người ta từng mong đợi trong thời Chiến tranh Lạnh.”

Thế nhưng, một vài nhà phê bình nghi ngờ sự gắn kết nơi chiến trường của NATO tại Afghanistan. Đồng minh đã nhất trí các mục tiêu trung tâm của nhiệm vụ – chính là việc ổn định và tái xây dựng Afghanistan – nhưng một vài thành viên hạn chế lực lượng của mình khỏi việc tham gia vào các chiến dịch chống nổi loạn và các nhiệm vụ khác, một thông lệ được gọi là “cảnh báo quốc gia” (hạn chế sử dụng quân đội quốc gia). Quân đội từ Hoa Kỳ, Anh, Canada và Hà Lan đã phải trải qua rất nhiều trong số những trận chiến khốc liệt nhất và phải hứng chịu những thương tổn nặng nề nhất. Việc này dấy lên sự phẫn nộ giữa các nước thuộc liên minh. Sau mười ba năm chiến tranh, ISAF hoàn thành nhiệm vụ vào tháng 12 năm 2014.

Vào đầu năm 2015, NATO và hơn 12 nước đối tác bắt đầu một nhiệm vụ hỗ trợ không chiến đấu với 12 nghìn đội quân (khoảng một nửa là của Hoa Kỳ) để cung cấp huấn luyện, tài trợ, và các khoản hỗ trợ khác cho chính phủ Afghan.

Quan hệ với Nga

Moscow nhìn nhận đầy lo ngại về sự mở rộng hậu Chiến tranh Lạnh của NATO vào Trung Âu và Đông Âu. (Kể từ 2016, 12 thành viên của Quan hệ đối tác vì hoà bình đã gia nhập NATO.)

Nhiều lãnh đạo Nga trước đây và hiện tại tin rằng sự xâm nhập của liên minh vào khu vực Xô Viết cũ rõ ràng là sự phản bội những cam kết được cho là có hàm ý rằng NATO sẽ không tiến về phía Đông sau khi nước Đức thống nhất vào 1990, mặc dù một vài quan chức Hoa Kỳ liên quan vẫn tranh cãi về cam kết này.

Để đảm bảo, phần lớn các lãnh đạo phương Tây hiểu những hiểm họa của việc mở rộng. Ngoại trưởng thời đó của Hoa Kỳ Warren Christopher viết trên tờ Washington Post vào tháng 1 năm 1994: “Nếu có một nguy hiểm dài hạn trong việc giữ vững NATO thì cũng sẽ nguy hiểm ngay tức thì khi thay đổi NATO quá nhanh chóng. Sự mở rộng nhanh chóng của NATO về phía Đông có thể biến một nước Nga theo chủ nghĩa đế quốc kiểu mới trở thành một lời nguyền tự ứng nghiệm”.

Qua nhiều năm, NATO và Nga đã có những bước tiến quan trọng trong công cuộc hòa giải, đặc biệt với việc ký kết Thỏa thuận Sáng lập quan hệ Nga – NATO (Founding Act) năm 1997, giúp thiết lập một diễn đàn chính thức cho các cuộc đối thoại song phương. Tuy nhiên, các chuyên gia nói rằng sự thiếu tin tưởng lâu dài giữa hai bên đã gây nhiều khó khăn cho mối quan hệ.

Hội nghị Thượng định Bucharest của NATO vào mùa xuân năm 2008 càng làm sâu sắc thêm mối nghi ngại này. Trong khi liên minh trì hoãn Kế hoạch Hành động Thành viên đối với Ukraine và Georgia, NATO vẫn hứa hẹn sẽ ủng hộ việc trở thành thành viên của hai nước này trong tương lai, mặc cho những cảnh báo đến từ Nga về hậu quả chính trị và quân sự. Các chuyên gia cho rằng việc Nga xâm chiếm Georgia vào mùa hè năm đó là dấu hiệu rõ ràng về ý định bảo vệ khu vực mà Nga cho là vùng ảnh hưởng của mình.

Việc Nga sáp nhập Crimea và gây ra bất ổn ở miền Đông Ukraine vào 2014-206 đã làm tổn hại đến mối quan hệ với NATO trong tương lai vốn đã được đoán trước. Tổng Thư kí NATO Anders Fogh Rasmussen phát biểu sau sự can thiệp của Nga vào tháng 3 năm 2014: “Chúng ta rõ ràng đang phải đối mặt với mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với an ninh châu Âu kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh”. Nhiều tuần sau đó, NATO đình chỉ hợp tác quân sự và dân sự với Nga nhưng vẫn cho rằng cuộc đối thoại chính trị cấp cao sẽ còn tiếp tục.

Trong một bài diễn văn tôn vinh sự sáp nhập của Crimea vào tháng 3 năm 2014, Vladimir Putin giải thích về sự phẫn uất sâu sắc của Nga đối với liên minh. Putin phát biểu với nghị viện Nga: “Họ đã nói dối chúng ta nhiều lần, đưa ra quyết định sau lưng chúng ta, đặt chúng ta trước một sự đã rồi. Điều này diễn ra với việc NATO mở rộng về phía Đông, cũng như triển khai cơ sở hạ tầng quân sự ngay tại biên giới ta. Nói ngắn gọn, chúng ta có mọi lí do để đưa ra rằng chính sách hạn chế tai tiếng [của phương Tây] được dùng vào thế kỉ thứ 18,19 và 20, giờ vẫn đang tiếp tục.”

Vào tháng 12 năm 2015, NATO mời Montenegro, một nước cộng hòa cũ thuộc Yugoslavia, tham gia nói chuyện về việc gia nhập, được dự tính sẽ hoàn thành trong một năm. Montenegro sẽ trở thành thành viên mới đầu tiên của NATO kể từ năm 2009. Kremlin phản hồi bằng việc cảnh báo rằng sự mở rộng về phía Đông của NATO “có thể sẽ dẫn đến những hành động mang tính trả thù.”

Một điểm gây tranh cãi thường xuyên nữa chính là lá chắn phòng thủ tên lửa đạn đạo của NATO, đang được triển khai khắp châu Âu trong nhiều giai đoạn. Hoa Kỳ phát triển công nghệ này và nói rằng hệ thống chỉ được thiết kế để bảo vệ khỏi tấn cộng tên lửa hạn chế, cụ thể là tập kích từ Iran. Tuy nhiên, Kremlin nói rằng công nghệ này có thể được phát triển thêm nữa và sẽ dẫn đến cân bằng chiến lược nghiêng về phương Tây.

Một liên minh tái sinh

Nỗi sợ về sự gây hấn của Nga đã thúc đẩy các lãnh đạo liên minh đánh giá lại về phòng thủ trên lục địa, cụ thể là ở phía Đông. Đồng minh NATO trong năm 2015 đã nhất trí thiết lập các trung tâm chi huy ở sáu quốc gia ngoại vi phía Đông: Bulgaria, Estonia, Latvia, Lithuania, Ba Lan, và Romania. Theo dự tính, các tiền đồn sẽ được mở vào năm 2016 và sẽ hỗ trợ một lực lượng phản ứng nhanh gồm 5000 đội quân, với mục đích phản ứng lại với khủng hoảng trong vài ngày. Trong trường hợp khẩn cấp, những nhà quy hoạch quân sự cho biết một lực lượng khoảng 40.000 có thể sẽ được tập hợp. Hoa Kỳ đang lên kế hoạch chuyển giao các tài sản quân sự hạng nặng, trong đó có xe tăng, đến một số nước. Chính quyền Obama đã đề nghị Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn ngân quĩ năm 2017, trong đó con số sẽ tang gấp bốn lần chi tiêu quân sự của Mỹ tại châu Âu, lên đến khoảng 3,4 tỉ USD.

Trong khi đó, đồng minh NATO – cụ thể là Hoa Kỳ, Đan Mạch, Đức và Anh – đã tăng tuần tra hàng không khu vực Ba Lan và các nước vùng Baltic. Vào năm 2015, máy bay NATO vật lộn ngăn chặn máy bay chiến đấu của Nga vi phạm không phận đồng minh hơn 400 lần. Vào tháng 12, căng thẳng giữa Thổ Nhĩ Kì và Nga dấy lên sau khi một binh lính Thổ Nhĩ Kì bắn hạ một máy bay chiến đấu của Nga mà Ankara tuyên bố là vi phạm không phận và phớt lờ những cảnh báo liên tục được đưa ra. Nga phủ nhận sự xâm phạm và cho rằng sự việc sẽ gây ra “những hậu quả nghiêm trọng cho quan hệ Nga–Thổ Nhĩ Kì.” Tổng thư kí NATO Stoltenberg thể hiện sự đoàn kết bền chặt của NATO với Thổ Nhĩ Kì nhưng kêu gọi các thành viên liên minh và Nga cùng tránh leo thang căng thẳng.

Các thành viên NATO cũng đã đẩy mạnh hợp tác an ninh trực tiếp với Ukraine, một đối tác liên minh từ năm 1994. Tuy nhiên, do không phải là thành viên nên Ukraine vẫn đứng ngoài vành đai phòng thủ của NATO, và có những giới hạn rõ ràng về việc tham gia vào các kết cấu của thể chế này. Hoa Kỳ và Anh đã gửi các biệt đội quân sự đến huấn luyện lực lượng của Ukraine vào năm 2015, nhưng chính quyền Obama đã hạn chế cung cấp vũ khí cho Kiev để giúp chống lại các toán quân nổi dậy được Nga hỗ trợ vì lo sợ điều này sẽ dẫn đến leo thang căng thẳng.

Về lâu dài, một số nhà phân tích phòng thủ tin rằng đồng minh nên cân nhắc kết nạp thêm Phần Lan và Thụy Điển. Đây là hai đất nước trong Quan hệ Đối tác vì Hoà bình có lịch sử tránh xa liên minh quân đội. Cả hai nước đều đón nhận việc hợp tác quân sự với NATO sau sự can thiệp của Nga tại Ukraine. (Các nước cũng ở khu vực Tây Bắc Âu như Đan Mạch, Iceland và Na Uy đều là thành viên sáng lập của NATO.)

© Bản tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC – www.phiatruoc.info

Scridb filter

Author: tapchiphiatruoc

Share This Post On
468 ad

Leave a Reply

%d bloggers like this: