Liên Minh Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương – NATO (I)

CTV Phía Trước chuyển ngữ
Jonathan Masters, CFR

Giới thiệu

Liên Minh Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương, nền tảng về an ninh khu vực xuyên Thái Bình Dương thời kì Chiến tranh Lạnh, trong 20 năm qua đã khôi phục lại đáng kể vai trò của mình. Được thành lập năm 1949 nhằm bảo vệ mình trước sự đối đầu của Liên Xô, NATO đã phát triển để đương đầu với những mối đe dọa, từ nạn hải tặc ở khu vực Sừng châu Phi đến buôn người ở vùng Địa Trung Hải. Tuy nhiên, trong khi NATO hiện đại nhìn chung được công nhận vai trò của mình vượt ra khỏi khuôn khổ châu Âu, trong những năm qua, những động thái của Nga, cụ thể trong sự can thiệp tại Ukraine, đã xoay chuyển mối quan tâm của liên minh trở về lục địa. Những diễn biến gần đây đã phơi bày những căng thẳng chưa được giải quyết khi NATO mở rộng đến khu vực thuộc Liên Xô trước kia.

Ảnh: Karl Anderson/U.S. Navy

Ảnh: Karl Anderson/U.S. Navy

Xoay trục hậu Chiến tranh Lạnh

Sau khi Liên Xô tan rã vào năm 1991, những nhà lãnh đạo phương Tây đã tranh luận gay gắt về đường hướng tương lai của liên minh xuyên Thái Bình Dương. Chính quyền của Tổng thống Bill Clinton ủng hộ việc mở rộng NATO để vừa có thể vươn cái ô an ninh của mình sang phía Đông lại vừa có thể củng cố những món lợi dân chủ tại khối Xô Viết cũ. Mặc khác, một vài quan chức Hoa Kỳ mong muốn rũ bỏ những cam kết của Lầu Năm Góc tại châu Âu khi mối đe dọa Liên Xô đang mờ dần.

Các thành viên NATO châu Âu cũng chia rẽ về vấn đề này. London lo sợ sự mở rộng của tổ chức sẽ làm loãng liên minh, trong khi Paris lại lo việc này sẽ ảnh hưởng quá lớn đến NATO. Nhiều người Pháp hy vọng hợp nhất nhiều nhà nước Xô Viết cũ qua các thể chế châu Âu. Đồng thời, cũng có những quan ngại về việc xa lánh nước Nga.

Đối với Nhà Trắng, quyết định này còn mang một ý nghĩa còn lớn hơn. Ronald D. Asmus, một trong những kiến trúc sư trí thức của công cuộc mở rộng NATO, trong “Mở cánh cửa NATO” có viết: “[Tổng thống Clinton] coi sự mở rộng NATO là một thử thách quyết định xem liệu nước Mỹ có tiếp tục tham gia vào các vấn đề quốc tế và đánh bại những quan điểm theo chủ nghĩa biệt lập và chính sách đơn phương hay không.”

Trong chuyến thăm đầu tiên tới châu Âu vào tháng Một năm 1994 với tư cách là tổng thống, Clinton tuyên bố rằng sự mở rộng châu Âu “không còn là câu hỏi về việc có nên hay không, mà là khi nào và bằng cách nào.” Chỉ vài ngày trước đó, các lãnh đạo liên minh đã phê duyệt Quan hệ Đối tác vì Hoà bình, một chương trình được thiết kế để thắt chặt mối liên kết với các quốc gia Trung Âu và Đông Âu, bao gồm các nước cộng hòa Xô Viết cũ như Nga, Ukraine, và Georgia.

Vượt ra khỏi Phòng thủ Tập thể

Nhiều nhà kế hoạch phòng thủ cũng cho rằng tầm nhìn hậu Chiến tranh Lạnh cho NATO cần phải vượt ra khỏi phòng thủ tập thể – Chương V của Hiệp định Bắc Thái Bình Dương cho rằng, “sự tấn công có vũ khí đối với một hoặc nhiều hơn [các quốc gia thành viên] tại châu Âu hoặc Bắc Mỹ sẽ được coi là sự tấn công với tất cả các thành viên,” – và phải được tập trung vào đương đầu với những bất ổn lâu dài ở bên ngoài các nước thành viên. Thượng Nghị sĩ Richard Lugar trong bài phát biểu năm 1993 từng nói: “Mẫu số chung cho tất cả những vấn đề an ninh mới của châu Âu chính là chúng đều nằm ở bên ngoài biên giới hiện tại của NATO.”

Sự tan rã của Yugoslavia vào đầu những năm 1990 và sự khởi đầu của mâu thuẫn sắc tộc đã gần như ngay lập tức thách thức liên minh về những vấn đề vừa nêu trên. Khởi đầu là nhiệm vụ áp đặt vùng cấm bay theo lệnh trừng phạt của Liên Hiệp Quốc tại Bosnia và Herzegovina sau đó đã biến thành một chiến dịch đánh bom đối với các lực lượng người Serb gốc Bosnia, mà theo các chuyên gia quân đội là rất cần thiết để chấm dứt mâu thuẫn. Trong Operation Deny Flight vào tháng Tư năm 1994, NATO thực hiện cuộc chiến dịch quân sự đầu tiên trong 40 năm lịch sử, bắn hạ bốn máy bay của người Serb Bosnia.

Những chiến dịch của NATO

Vào năm 2016, NATO theo đuổi nhiều nhiệm vụ khác nhau: giữa gìn hòa bình ở Kosovo; chống khủng bố, tuần tra buôn người ở Địa Trung Hải; chống hải tặc ở khu vực Sừng châu Phi (theo lịch trình sẽ kết thúc vào tháng Mười hai năm 2016); hỗ trợ lực lượng Liên minh châu Phi ở Somalia; hỗ trợ an ninh ở Afghanistan; hoạch định chính sách ở Đông Âu.

Với trụ sở đặt tại Brussels, NATO là liên minh hoạt động dựa trên sự thống nhất. Tại đây các quyết định đưa ra phản ảnh ý muốn tập thể của các thành viên. Nhưng bản thân từng quốc gia riêng lẻ hoặc các nhóm đồng minh nhỏ có thể hành động bên ngoài sự bảo trợ của NATO. Ví dụ, Hoa Kỳ, Pháp và Anh bắt đầu chính sách vùng cấm bắn theo lệnh trừng phạt của Hoa Kỳ tại Libya vào đầu năm 2011 và trong vài ngày chuyển quyền chỉ huy chiến dịch cho NATO (ngay khi những mối quan ngại về Thổ Nhĩ Kỳ đã được kiểm soát). Đồng thời, các nước thành viên không bị yêu cầu tham gia vào tất cả các chiến dịch. Ví dụ, Đức và Ba Lan từng từ chối tham gia trực tiếp vào chiến dịch ở Libya.

Cấu trúc quân đội của NATO được phân chia giữa hai cơ quan chỉ huy chiến lược: Bộ Chỉ huy Tối cao các cường quốc đồng minh châu Âu được đặt gần Mons, Belgium, và Bộ Chỉ huy Chuyển đổi Liên minh được đặt ở Norfolk, Virginia. Bộ Chỉ huy Tối cao các cường quốc đồng minh châu Âu, luôn có một lá cờ Hoa Kỳ hoặc sĩ quan cấp tướng (hiện tại là Tướng Philip M. Breedlove) dẫn dắt mọi chiến dịch quân sự của NATO. Mặc dù liên minh có quyền chỉ huy hợp nhất, phần lớn các lực lượng vẫn chịu sự chỉ huy của từng quốc gia cho đến khi các chiến dịch cụ thể của NATO được khởi động.

Tổng Thư kí của NATO, hiện tại là Jens Stoltenberg của Nauy, được bầu trong nhiệm kì 4 năm với tư cách là “một giám đốc hành chính” và công sứ quốc tế. Hội đồng Bắc Thái Bình Dương là cơ quan chính trị chính của liên minh, bao gồm các đại biểu cấp cao từ mỗi nước thành viên.

Chia sẻ gánh nặng

Sự đóng góp tài chính chủ yếu của mỗi nước thành viên là cái giá của việc triển khai các lực lượng quân đội của mỗi nước cho các chiến dịch được NATO dẫn dắt. (Những phí tổn này không nằm trong ngân quĩ chính thức được NATO dùng để hỗ trợ các trụ sở dân sự và chính trị hay các cơ sở hạ tầng an ninh nhất định.) Năm 2014, các thành viên NATO được chi ước tính khoảng 850 triệu đô vào việc phòng thủ. Hoa Kỳ chiếm hơn 70% con số này, lên đến khoảng một nửa trong thời Chiến tranh Lạnh.

Các quan chức Hoa Kỳ thường chỉ trích các thành viên châu Âu vì để trống công cuộc phòng thủ. Vào năm 2006, các thành viên cam kết dành 2% GDP cho quốc phòng, nhưng đến 2015 mới chỉ 5 nước đạt được mục tiêu này – Hoa Kỳ, Estonia, Hy Lạp, Ba Lan và Anh.

Trong bài phát biểu chính sách cuối cùng năm 2011 với tư cách là Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, Robert Gates cảnh báo về một “liên minh hai lớp”, một vài thành viên thiếu năng lực quân sự chuyên thực hiện các nhiệm vụ nhân đạo “mềm” trong khi các thành viên khác phải hoàn thành vai trò chiến đấu “cứng”.

NATO chính thức thừa nhận một vài khác biệt này trên trang web của mình: “Toàn bộ liên minh phụ thuộc quá mức vào Hoa Kỳ về việc cung cấp các năng lực cần thiết, trong đó có tình báo, giám sát và trinh sát; tiếp nhiên liệu trên không; phòng thủ tên lửa đạn đạo; và tác chiến điện tử chở bằng máy bay.”

Còn tiếp…

Scridb filter

Author: tapchiphiatruoc

Share This Post On
468 ad

Leave a Reply

%d bloggers like this: