Luận lý Hiện tại sinh động: Biện chứng Luận lý như biện chứng tổng quát của sự Hội nhập Thời gian

Trần Đức Thảo (1993)
Nguyễn Hoài Vân dịch từ Pháp Văn 

Phần II

Aristote đã định nghĩa thời gian như con số của sự chuyển động từ trước đến sau. Tức là cái giây lát (1) thể hiện bởi con số này, qua kim đồng hồ, chính là ranh giới ngăn cách quá khứ với tương lai. Đồng thời nó cũng nối kết quá khứ với tương lai vì qua nó, quá khứ và tương lai tiếp cận nhau. Sự tiếp cận này mang tính thụ động, khiến giây lát bị thu hẹp thành một điểm và trở nên bất động. Tính cách tự nó bất động của giây lát như thế khiến cho sự chuyển động của sự vật trở nên khó hiểu, vì sự chuyển động ấy phải lần lượt trùng hợp với vô số tư thế cũng hoàn toàn bất động. Điều chắc chắn là một « điểm » cần được hình dung như một cái gì trừu tượng, không thật, chỉ dùng cho việc tính toán. Nhưng khi định nghĩa giây lát như một điểm, người ta lẫn lộn hình ảnh trừu tượng với thực tế. Và đồng thời loại bỏ sự trở thành (vì muốn có « trở thành », phải có chuyển động – NHV).

Xem phần I: Vì một Luận lý Hình thức và Biện chứng

Phải đợi đến đầu thế kỷ 20, sự phát triển của phương pháp hiện tượng luận, trong giai đoạn thứ ba của công trình sáng tạo của Husserl, mới cho phép tiến vào vấn đề hội nhập thời gian trong Hiện Tại Sinh Động. Từ đó, người ta vượt qua được các vấn nạn nêu lên bởi Aristote, để vạch rõ tính biện chứng của giây lát trong chính nó.

Sự thực là quan điểm của Husserl về Hiện Tại sinh động chỉ giới hạn trong lãnh vực chủ quan của  kinh nghiệm thuần túy. Tuy nhiên chúng ta có thể xét lại phần chính yếu của quan điểm ấy, và thêm vào đó những khai triển và thay đổi cần thiết, để xây dựng một luận lý biện chứng thể hiện vận động của toàn thể sự hội nhập thời gian, hay nói cách khác, một luận lý tổng quát của hiện hữu trong tiến trình chuyển động và trở thành của nó, cả trên phương diện chủ quan lẫn khách quan.

Một luận lý như thế có thể mở đường cho cái công tác mà Husserl, trong tập Krysis (Khủng Hoảng), đã chuyển giao cho hậu thế. Mục đích của công tác này là kiến tạo một quan niệm thực sự phổ quát về khoa học tự nhiên, về sử học, xã hội học và khoa học nhân văn, khả dĩ cho phép đạt đến một sự hiểu biết thực sự thuần lý về những vấn đề liên quan đến con người và các giá trị của con người, được lồng trong sự phức biến đa dạng, toàn diện và biện chứng, của dòng lịch sử nhân loại.

Chúng ta có thể mô tả Hiện Tại sinh động bằng cách quan sát hoàn cảnh của hiện trạng Lúc Này, và vạch ra tính tồn đọng (của quá khứ – NHV) bên trong giây lát hiện tại, cùng với sự chuyển trôi của cái Lúc Này ấy do áp lực hướng đến tương lai. Từ đó, chúng ta có thể vẽ ra một « sơ đồ hội nhập thời gian » như sau :

Luan ly hien tai sinh dong-Tran Duc ThaoSự nối tiếp của thời gian luôn bao hàm trong chiều sâu của nó một sự lắng đọng từ trên xuống, vận hành như được lưu trữ từ dưới lên.

Sự lưu trữ R (rétention) đến từ các lắng đọng S (sédiment), ở giây lát I (instant), gắn liền với lúc này M (maintenant)  trong giây lát I  ấy (= RM).

Hiện hữu vẫn có mặt trong sự lưu trữ R, qua liên hệ với hoàn cảnh của lúc này M, hàm chứa một áp lực hướng đến tương lai P (protention).

Chúng ta đặt trong cùng một ngoặc đơn sự lắng đọng R với lúc này M : (RM), để cho thấy rằng phạm trù R kế thừa từ quá khứ, vẫn còn hiện hữu, khi nó trôi chảy vào lúc này M, để hợp nhất với M, vì trong cái lúc này ấy, nó vẫn có mặt . Thế rồi chính lúc này M, mang trong nó sự lắng đọng từ quá khứ R vẫn còn có mặt, lại trôi chảy vào tương lai sắp đến, do áp lực hướng đến tương lai P (áp lực « hướng tiền » – NHV).

« Cái Hiện Tại luôn trôi chảy, chính là Hiện Tại của động lực chuyển trôi, để vừa trôi chảy vừa đến với sự trôi chảy. Người ta ý thức « lúc này », đồng thời với sự liên tục giữa những gì đã qua với chân trời sống động của tương lai, được phác họa trong áp lực hướng tiền. Sự « đồng thời » ấy mang ý nghĩa một « đồng thời » luôn chuyển trôi » (Husserl, C2I – 1932-1933 – dẫn bởi Trần Đức Thảo – Phénoménoogie et Matérialisme dialectique, tr. 143 – Note).

Cúng ta có thể nhận ra rằng « lúc này M », được biểu tượng bằng một đường thẳng đứng đi qua điểm M, bao hàm trong thực tế toàn bộ hiện trạng của thế giới (vì tất cả những gì hiện hữu đều trôi chảy vào nó – NHV).

Và chính trong sự đồng thời liên hệ với hiện trạng của thế giới mà cái di sản lắng đọng từ quá khứ được trộn lẫn với lúc này, để chịu sự lôi kéo của tương lai sắp đến, qua áp lực hướng tiền.

Lý thuyết cổ điển về thời gian chỉ quan niệm sự chuyển trôi đơn giản như xảy ra trên một đường thẳng. Điều này cho phép định nghĩa thời gian theo toán học, qua sự đo lường bằng đồng hồ, như con số của sự chuyển động từ trước đến sau.

Kết quả là giây lát hiện tại, vì chỉ được nhìn như giới hạn giữa sau và trước, nên bị thu hẹp một cách trừu tượng thành một điểm bất động. Với cách nhìn này, người ta không hình dung được sự chuyển động và trở thành, và càng gặp khó khăn hơn khi phải quan niệm một cách cụ thể dòng lịch sử với ý nghĩa thiết thực của nó. Thời gian bị rút gọn thành chiều kích thứ tư (cùng với ba chiều – NHV) của không gian. Đó chính là trở lại với cách nhìn trừu tượng về quan hệ nhân quả, xóa bỏ tính phong phú trong các tương quan thực tế, với những phương thức tương tác đa dạng, những hệ thống nhân quả phức biến (2).

Chỉ với quan niệm Hiện Tại Sinh Động, bao hàm thực tế cụ thể, và xem thực tế ấy như căn bản được lấy làm chủ thể, người ta mới có thể nhận ra rằng thời gian hình thành từ chính cái cội nguồn Hiện Tại ấy, với ba chiều kích luôn tương tác với nhau một cách biện chứng :

-       chiều dài của bản thân sự chảy trôi,

-       chiều sâu của sự lắng đọng tồn trữ,

-       và chiều kích diễn tả tính đồng thời trong tương quan với hiện trạng của thế giới (yếu tố « môi trường, hoàn cảnh » nói trong chú thích 2 – NHV)

Cần nhận xét là hiện trạng thế giới bao gồm nhiều tầng lớp được cấu thành trong lịch sử, chồng chất lên nhau một cách hệ thống.

Khám phá Hiện Tại Sinh Động của Husserl với ba chiều kích hội nhập thời gian như vừa nói, dẫn đến công tác hiện đại hóa phương pháp tư duy một cách triệt để qua sự hình thành của một luận lý học mới, Luận Lý Hội Nhập Thời Gian trong Hiện Tại Sinh Động, hay Luận Lý Hiện Tại Sinh Động. Điều này cho phép hình dung những giải đáp cụ thể, một cách vừa lý thuyết vừa thực dụng, cho một số vấn nạn nền tảng của truyền thống triết học, như : sự tổng quát, đặc thù và cá biệt, tất yếu và ngẫu nhiên, tính trung gian, sự tự phủ định và phủ định của phủ định, sự mâu thuẫn, bản thể và hiện hữu, hiện hữu tự thân, hiện hữu vị tha, hiện hữu vị kỷ (3), đại lượng, tỷ lượng và vô lượng, nô lệ và tự do.

Giữa di sản của  quá khứ được trực tiếp cảm nhận , và áp lực hướng đến tương lai sắp xuất hiện, có một sự đối nghịch nền tảng. Đó chính là mâu thuẫn nội tại của thực tế, hiện diện trong mỗi giây lát, một mâu thuẫn luôn bao hàm tính thống nhất đồng thời với sự đối kháng giữa các mặt đối lập của nó.

Sự thống nhất của các mặt đối lập tồn đọng và hướng tiền cho thấy hiện thực của giây lát trong tính đồng nhất của sự hiện hữu của nó, như công thức luận lý trực tiếp : « Cái gì hiện hữu, thì hiện hữu »

Đồng thời, sự đối kháng giữa các mặt đối lập kia, tức giữa tương lai xắp xảy đến qua áp lực hướng tiền, với quá khứ còn tồn đọng, làm cho cái hiện thực ấy chìm trong lưu chuyển dẫn đến tan biến, như được biểu hiện qua công thức luận lý được trung gian hóa :

« Cái gì hiện hữu thì hiện hữu,

và đồng thời nó hiện hữu và không hiện hữu, vì nó không còn hiện hữu »

Sự biến mất của Lúc Này vào quá khứ được thể hiện qua công thức phủ định trực tiếp của luận lý hội nhập thời gian : « Cái gì không hiện hữu, thì không hiện hữu ».

Tuy nhiên, khi biến đi thì quá khứ vẫn duy trì sự tồn đọng của nó, được thể hiện qua công thức của luận lý biện chứng được trung gian hóa

« Cái gì không hiện hữu thì không hiện hữu

và đồng thời, qua hình dáng của cái không còn hiện hữu nữa, nó vẫn hiện hữu »

Sự tồn đọng này hoàn tất chuyển biến bên trong giây lát hiện tại, khẳng định thực tế của giây lát ấy qua sự hiện hữu đã kiện toàn của nó, như được thể hiện qua công thức luận lý trực tiếp tổng quát : « Một sự hiện hữu chỉ có thể hoặc là A hoặc không A, không có giải pháp thứ ba »

Đồng thời, sự kiện toàn của chuyển biến bên trong giây lát hiện tại I, với sự tồn đọng đã nói, thực hiện tiến trình bước sang giây lát kế tiếp I1. Điều này thể hiện qua công thức biện chứng tổng quát được trung gian hóa, như sau :

« Một sự hiện hữu chỉ có thể là A hoặc không A

và đồng thời, qua hình dáng đã hiện hữu của tương lai đang hiện lên, nó vừa là chính nó vừa là cái khác ».

Sự kiện là chính nó và là cái khác, trong chuyển động nội tại của giây lát I, diễn đạt việc bước sang giây lát I1.

Tóm lại, trong vận động nội tại của giây lát hiện tại có một sự chuyển biến song hành : giây lát là giây lát của chuyển biến từ quá khứ còn tồn tại, và chuyển biến đến tương lai sắp xuất hiện, từ tồn đọng đến hướng tiền. Kết quả của tiến trình ấy là sự chảy trôi từ giây lát hiện tại đến giây lát kế tiếp.

Thật vậy, sự lắng đọng của giây lát I trong chuyển động « trôi chảy, chảy đi, và đến với sự chảy đi » tạo nên sự tồn đọng « r » của chính nó, trong sự chảy đi của lúc này M với lực hướng tiền P, khiến cho sự tồn đọng ấy trở thành tương lai sắp xảy ra, trong và dưới ảnh hưởng của lực hướng tiền P. Sự sắp xảy ra của tương lai được nhìn như sự nảy sinh cụ thể của tương lai ấy, chính là sự kiện toàn của giây lát hiện tại I, đưa nó sang giây lát kế tiếp I1.

Đến giây lát I1, sự tồn đọng « r » của giây lát trước đó được giải thoát để nối kết với hoàn cảnh mới, và trở thành lúc này M1 trong giây lát I1.

Sự chuyển biến từ mỗi giây lát hiện tại I sang giây lát kế tiếp I1, qua sự vận động nội tại của chính giây lát I, chính là sự kiện toàn của tiến trình « trôi chảy, chảy đi, và đến với sự chảy đi », để sự chuyển biến được kiện toàn ấy tự nó trôi chảy từ một giây lát sang giây lát sau đó.

Như thế, sự vận động nội tại của mỗi giây lát hiện ra như một khoảng thời gian. Và những khoảng thời gian không ngừng trôi chảy từ cái này sang cái kia, chính là  Dòng Thời Gian.

28/12/1992.

20/01/1993

Scridb filter

Author: tapchiphiatruoc

Share This Post On
468 ad

Leave a Reply

%d bloggers like this: