Đoàn Lan, CTV Phía Trước
TCPT số 16
Hơn một thập niên trước đây, khi nói đến đại học Việt Nam, người ta thường nhắc đến cơn ác mộng đặc trưng “thi vượt rào”: qua hai năm học đại cương, nếu không qua được “cửa ải” này sẽ phải rời trường. Rất nhiều cuộc “đại cách mạng” trong giáo dục đại học đã được hô hào phát động từ ngày đó, kỳ thi vượt rào cũng đã bị “khai tử”. Nhưng đã bước sang thế kỷ 21, vẫn thấy còn tồn tại nhiều điều chưa hợp lý để có thể nâng cao chất lượng giáo dục đại học tại Việt Nam.
Nặng lý thuyết, đội ngũ giảng dạy thiếu
GSTS Võ Tòng Xuân, một nhà khoa học đã có nhiều năm gắn bó với sự nghiệp giáo dục nhận xét: số đơn vị học trình trong một chương trình khung bậc đại học của Bộ GDĐT được bố trí khoảng 210 – 240 cho cả 4 năm, trong khi ở phần lớn các nước trên thế giới chỉ bố trí khoảng 120 đơn vị tín chỉ. Vì vậy số giờ lên lớp của sinh viên đại học Việt Nam chiếm phần lớn thời gian của sinh viên, không cho phép họ thực tập tay nghề thoả đáng hay bố trí các hoạt động khác. Với khối lượng giờ dạy và học lý thuyết nhiều như thế, nếu áp dụng phương pháp “lấy người học làm trung tâm” thì sẽ không đủ thời gian cho tất cả các nội dung.
GSTS Xuân cũng nhận định, có những môn học không liên quan đến chuyên ngành đào tạo (như một số môn học về tư tưởng chính trị) nhưng lại được bố trí quá “đậm đặc”, sinh viên mất thời gian mà lại không thu nhận được nhiều kiến thức. Chương trình giáo dục còn “hổng” ở điểm có quá nhiều môn học bắt buộc, ít môn tự chọn, giáo trình không thường xuyên được cập nhật.
GSTS Nguyễn Lân Dũng lại có cái nhìn chuyên sâu về đội ngũ giảng dạy. “Tại các nước tôi đã có dịp đến, chế độ hưu trí của các GS giỏi rất linh hoạt, không bị hạn chế mức tuổi cố định. Nước ta thì khác, đội ngũ GS hầu hết đã đến tuổi nghỉ hưu, số PGS cũng đều xấp xỉ 60 tuổi, đội ngũ kế cận là rất thiếu, nhất là những cán bộ đầu ngành có dày dặn kinh nghiệm trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học”.
Không phát huy năng lực sáng tạo của ngƣời dạy và học
Một điểm yếu trong chương trình đào tạo nữa là bộ chuẩn kiến thức các môn học ở mỗi bậc học ít được phổ biến rộng rãi cho tất cả các thầy cô, mà trái lại Bộ chỉ đẩy mạnh phổ biến sách giáo khoa do Bộ xuất bản. Đây không chỉ là một cách làm độc quyền, mà tai hại hơn nữa là nó triệt tiêu các sáng kiến của các thầy cô, không dám làm gì khác ngoài phạm vi quyển sách giáo khoa cho phép.
Đội ngũ các giáo sư, phó giáo sư, các nhà khoa học là những người có nhiều kinh nghiệm lại được bố trí không đồng đều trong các trường: nơi thì tập trung quá nhiều, nơi lại rất thưa thớt, kéo theo việc chất lượng đào tạo giữa các trường, các vùng miền cũng không “đồng bộ”. Một phần không nhỏ đội ngũ giảng viên là sản phẩm của giáo dục Liên Xô cũ nên phương pháp dạy học còn bị hạn chế.
Trong cơ chế học như vậy, những sinh viên có khả năng sẽ không phát huy được tính sáng tạo của mình. GSTS Xuân chỉ rõ: “Những sinh viên xuất sắc, có nhu cầu học cấp bách những kỹ năng cao cấp sẽ bị cơ chế giáo dục kìm hãm, không phát huy được. Mọi sinh viên phải chờ nhau cùng đi lên chậm chậm, người muốn đi nhanh không có cách gì để đi trước được”.
“Sinh viên tốt nghiệp đại học Việt nam có thể hay về lý thuyết ngành chuyên môn, và nói chính trị cũng hay, nhưng rất kém về thực hành, và càng kém về khả năng ngoại ngữ. Trong khi đó những người tốt nghiệp ngoại ngữ thì không biết gì về ngành kỹ thuật chuyên môn. Đó cũng là một hệ quả có nguyên nhân từ lý do giáo dục đại học đã không ‘châm ngòi’ sáng tạo của sinh viên”, thầy Xuân nói.
Chưa thoát ra cơ chế “thầy đọc – trò chép”
Theo GSTS Dũng, hiện nay học tập và thực hành ở các trường Đại học trên thế giới đều là hai việc gắn liền với nhau. Thầy cô giáo không chỉ truyền đạt kiến thức mà phải hướng dẫn sinh viên biết tự nghiên cứu, tìm kiếm tài liệu và tự mình trở thành các nhà khoa học thực sự thông qua việc thường xuyên và trực tiếp nghiên cứu khoa học.
Ở Việt Nam, tình trạng lên lớp theo khuôn mẫu “thầy đọc, trò chép” vẫn phổ biến nên không phát huy tính sáng tạo, suy nghĩ độc lập của người học. Phương pháp giảng dạy còn kém hiệu quả: nặng về diễn thuyết, thuyết trình, ghi nhớ một cách máy móc, giao ít bài tập về nhà, ít có sự tương tác giữa sinh viên và giảng viên. Nhưng cũng ít thầy cô dám “phá rào” vì sẽ phải đối mặt với nguy cơ “cháy giáo án”.
Theo GSTS Xuân, phải thay đổi mối quan hệ “thầy chủ động – trò thụ động” chuyển thành “thầy trò đều chủ động”: cùng hướng đến mục tiêu đem lại cho trò mức thu nhận kiến thức và kỹ năng cao nhất. Cần bố trí lại thời lượng môn học theo hướng giảm thời gian giảng lý thuyết trên lớp, tăng cường các hình thức thảo luận theo chủ đề, tự học có hướng dẫn và kiểm soát của giáo viên thông qua các bài tập lớn, đồ án môn học và các đề tài nghiên cứu khoa học. Nói cách khác, giáo viên phụ trách môn học phải được quyền quyết định dạy như thế nào và phải chịu trách nhiệm trước cơ sở đào tạo, trước sinh viên về kết quả học tập của sinh viên. Ngược lại, sinh viên dù muốn hay không cũng phải “vào cuộc”.
Một ví dụ để các bạn thấy mối quan hệ chủ động thầy-trò trong việc giảng dạy có ảnh hưởng lớn đến chất lượng đào tạo. Đó là một câu chuyện mà người bạn ở Pháp có kể tôi nghe về việc một nghiên cứu sinh Việt Nam tại Pháp về quang học. Anh ấy đã nói lý với vị giáo sư có tiếng của mình rằng « giáo sư phân tích như thế là sai rồi, em sẽ chứng minh cho giáo sư thấy em đúng và giáo sư sai ». Ông giáo sư kia không những ngồi nghe rất chăm chú, bị thuyết phục bởi kết quả mà người sinh viên đưa ra, ông còn thể hiện sự ngưỡng mộ của mình về học trò này trước mọi người. Có được thái độ cởi mở và chủ động trong suy nghĩ thì mới có cơ hội phát huy khả năng sáng tạo, cả của thầy và trò.
Để thoát khỏi “tiếng xấu” như nhiều người vẫn thường nói: “Đại học chỉ là phổ thông Cấp 4″, GSTS Dũng cho rằng cần phải chấm dứt tình trạng Thầy đọc, Trò chép. “Đây là thời đại Internet toàn cầu. Thầy cô giáo chỉ nên dạy cho học sinh kiến thức cơ bản, phương pháp tự học, phương pháp nghiên cứu, và ít nhất một ngoại ngữ, còn kiến thức chi tiết và cụ thể thì sinh viên cần có thói quen tự tìm kiếm từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó có Inter-net”, thầy Dũng nói.
Thiếu vắng nghiên cứu khoa học
GSTS Nguyễn Lân Dũng chỉ ra một điểm còn tồn tại khác của giáo dục bậc đại học Việt Nam là vấn đề NCKH bị “bỏ ngỏ”. “Tại các nước tôi đã có dịp đến, công tác nghiên cứu bao giờ cũng gắn liền với nhiệm vụ của các Trường Đại học. Như vậy sẽ có cái lợi là tận dụng được tối đa trí tuệ và sức lao động sáng tạo của các thầy cô giáo Đại học và lực lượng tham gia nghiên cứu khoa học của các sinh viên, nghiên cứu sinh, thực tập sinh. Nhưng ở Việt Nam thì khác. Nhà nước đã tổ chức một mạng lưới các Viện nghiên cứu quá rộng với sự đầu tư quá dàn trải, lại tách rời với các Trường đại học. Từ đó dẫn đến việc đầu tư trang thiết bị nghiên cứu khoa học cho các trường Đại học còn quá thấp“.
Theo thầy Dũng, bất hợp lý này kéo theo hệ quả: trường đại học cần nghiên cứu kiến thức mới để bổ sung giáo trình và đào tạo sinh viên bằng những kiến thức mới và phù hợp địa phương… thì cơ chế nhà nước lại không ưu tiên cho kinh phí đầu tư máy móc, trang thiết bị, và đi học hoặc tu nghiệp nước ngoài. Trong khi đó, Viện/Trung tâm không có (hoặc có vài) sinh viên và không bắt buộc phải lên lớp, thì lại được Nhà nước (Bộ ngành) đầu tư thiết bị hiện đại, đi tham quan, du học, kéo viện trợ ODA về để có kinh phí lớn cho NCKH.
Để khắc phục tồn tại này, theo GSTS Dũng, trong khi chưa đưa được các Viện nghiên cứu về với các Trường Đại học như ở hầu hết các nước phát triển trên thế giới thì các Viện nghiên cứu phải cùng với các thầy cô giáo Đại học hướng dẫn sinh viên làm luận văn tốt nghiệp, các nghiên cứu sinh làm luận án Thạc sĩ, Tiến sĩ. Cán bộ của các Viện này cần tham gia giảng dạy ở các Trường Đại học cũng như ngược lại các thầy cô giáo Đại học phải được sử dụng chung các thiết bị nghiên cứu đắt tiền của các Viện nghiên cứu khoa học.
Đánh giá chung về khía cạnh NCKH trong bậc đại học Việt Nam, GSTS Võ Tòng Xuân nói: “Hệ thống đại học Việt nam hiện nay chưa đạt đến trình độ là nơi ươm mầm của những sáng tạo công nghệ. Đầu tư không nhiều, khi NCKH phải trải qua nhiều thủ tục hành chính nhiêu khê mới có thể thanh toán được chi phí… Muốn giải quyết vấn đề này, phải có cơ chế linh hoạt hơn để trường đại học phần nào có quyền tự chủ”.
_________
Ghi chú: Số lượng các trường đại học và số sinh viên ở Việt Nam tăng lên rất nhanh- từ 153 trường năm 2000 với hơn 720 ngàn sinh viên đến 255 trường năm 2005 với hơn 1 triệu sinh viên. Các loại hình trường cũng rất đa dạng: trường công lập, bán công, dân lập, tư thục, trường liên kết với nước ngoài, trường 100% vốn đầu tư của nước ngoài… Trào lưu du học nước ngoài phát triển với một quy mô chưa từng có trước đó: đến năm 2006, tổng số sinh viên Việt Nam du học ở các nước vào khoảng 40,000 người. Nhưng “lượng” tăng mà “chất” không thay đổi: theo một báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 2006, chưa từng thấy tên một trường Đại học Việt Nam nào trong các Bảng xếp hạng quốc tế
© TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC 2008
Scridb filter










Để phát triển ngành chế tạo ở Châu Á việc
đào tạo nguồn nhân lực là vấn đề không thể
thiếu đươc. Đặc biệt việc thiếu nguồn nhân lực kỹ
thuật đã trở thành vấn đề lớn đối với các doanh nghiệp Nhật bản
đầu tư ở Châu Á.
Trước tình hình này, Trường Nhật Ngữ Sài Gòn đã tổ chức chương trình khóa đào tạo đặc biệt nâng cao trình độ kỹ thuật
cho sinh viên đã tốt nghiệp đại học tại Việt Nam.
Để thực hiện chương trình này chúng tôi tổ chức khóa
học đầu tiên với dự kiến khoảng 400 học viên vào tháng 3.
Mục đích của chương trình này là đào
tạo nguồn nhân lực có năng lực đáp ứng được yêu cầu Quốc tế mang tính toàn cầu hóa.
Khóa học sẽ cung cấp cho học viên các kiến thức
thực tiễn về phương thức sản xuất
của Nhật Bản, kể cả việc cải tiến và đào
tạo nguồn nhân lực có trình độ xử lý các
vấn đề về phân tích quy trình sản
xuất và quản lý sản xuất.
Nét độc đáo của chương trình này là tất cả các học viên sau khi kết thúc khóa học sẽ trở thành những người quản lý đáp ứng được yêu cầu theo hệ thống sản
xuất toàn cầu hóa của doanh nghiệp Nhật bản.
Học viên sau khi kết thúc khóa học
sẽ được giới thiệu cho các doanh nghiệp
Nhật Bản ở Nhật hoặc ở Việt Nam. Mục tiêu của
chương trình là 100% các học viên sau khi học xong sẽ được tuyển dụng cho các doanh nghiệp Nhật Bản.
Hơn nữa, sau khi học viên được tiếp nhận vào làm việc tại các doanh nghiệp Nhật Bản vẫn tiếp tục được được đào tạo bồi dưỡng về các kiến thức và kỹ thuật nên đây sẽ là nguồn nhân lực ổn định, lâu dài giúp cho các doanh nghiệp duy trì được vì thế cạnh tranh trong xã hội…