Nghệ thuật vị tự do của đầu hai thế kỷ – TCPT số 46

Ngọc Cầm, TCPT46

Chúng ta đang ở đầu thế kỷ 21 và ai cũng đều nhận thấy rằng nền nghệ thuật của Việt Nam hiện nay đang đứng giữa sự giao thoa của rất nhiều chủ nghĩa và nhiều làn sóng tư tưởng cũ – mới đến mức khiến cho các nghệ sĩ cũng như độc giả đều bị rơi vào trạng thái hoang mang, không phân biệt nổi các giá trị. Tình trạng này diễn ra từ khi chấm dứt thời kỳ bao cấp và bắt đầu Đổi mới. Quay trở lại quá khứ, những năm đầu thế kỷ 20, lịch sử nghệ thuật Việt Nam đã từng trải qua một giai đoạn tương tự.

Sự xâm nhập của nền văn hóa mới

Vào đầu thế kỷ 20, thực dân Pháp xâm lược nước ta. Họ không chỉ mang theo quân đội và bộ máy hành chính, mà còn mang theo cả văn chương, thơ ca, kịch nghệ, âm nhạc, hội họa… Nhưng điều thực sự làm thay đổi bộ mặt văn hóa Việt chính là việc chữ quốc ngữ được sử dụng một cách chính thống. Nói một cách chính xác, Pháp đã xâm lược nước ta cả bằng văn hóa. Lúc đầu, đương nhiên dân ta hô hào bài trừ Âu hóa, nhưng dần dần với sức mạnh quân sự và kinh tế, từ áp chế, Tây học đã thuyết phục được đông đảo những người dân vốn dĩ bản tính đã hồn nhiên, dễ thay đổi. Từ đây, một trang mới trong lịch sử tư tưởng dân tộc Việt đã được mở ra.

Nếu trước kia, người dân Vịêt bị gói gọn trong Tam Tòng–Tứ Đức hay Tam Cương–Ngũ Thường của Nho giáo thì những kẻ thống trị là thực dân Pháp đã dạy cho họ biết về ý thức cá nhân hay tự do tư duy. Không phải những người xưa ở thế kỷ trước không muốn bứt phá để khẳng định cái “tôi”, nhưng họ chỉ làm một cách e dè, tế nhị. Đến táo bạo như Hồ Xuân Hương cũng phải nép mình dưới bóng “mày râu”:

“Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hung há bấy nhiêu”

Văn học trung đại có đến hang vạn bài thơ, bài văn nhưng chẳng mấy bài dám xưng “tôi”, có họa chăng chỉ là xưng “ta” chung chung. Vậy mà chỉ trong có mấy năm đầu thế kỷ, việc xưng “tôi” trong tác phẩm trở nên phổ biến, thậm chí từ “ta” quen thuộc nay đươc sử dụng với ý thức cá nhân được đẩy cao tới mức ngạo nghễ:

“Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất”
(Xuân Diệu)

Khi chủ nghĩa cá nhân được đẩy cao sẽ thúc đẩy nghệ thuật phát triển đa dạng không những về số lượng mà còn cả chất lượng. Nếu trước đây ở nước ta chưa có kịch nghệ, hội họa, âm nhạc thì bấy giờ đã xuất hiện một loạt các nhạc sĩ, ca sĩ (âm nhạc), họa sĩ, điêu khắc (hội họa) kịch gia, diến viên (sân khấu kịch)… Nhưng đông đảo hơn cả, nổi bật hơn cả phải kể đến văn chương. Nếu như âm nhạc, hội họa, sân khấu chỉ nhuốm màu sắc cổ điển hoặc tân cổ điển với các yếu tố lãng mạn hay hiện thực; thì văn chương – thi ca đã có một thời kỳ rực rỡ với đủ các thể loại (truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký…) cũng như chủ nghĩa (hiện thực, lãng mạn, tượng trưng, siêu thực…). Một khi ý thức cá nhân được đặt cao, nghệ sĩ sẽ luôn đi tìm sự khác biệt: khác biệt với những nghệ sĩ khác và khác biệt với chính họ.

Thời đại của chúng ta từ năm 1975 đến nay cũng đứng trước sự giao thoa văn hóa tương tự, nhưng không phải là chỉ với những “kẻ thù cũ” như Pháp hay Trung Hoa mà là với rất nhiều nước trên thế giới như Hoa Kỳ, Nga, Nhật, Hàn Quốc… Một lần nữa, ý thức về cái tôi lại trỗi dậy sau những thập kỷ bài trừ chủ nghĩa cá nhân theo đúng chủ trương của Đảng. Nếu chữ quốc ngữ chỉ giải phóng cái tôi khỏi xiềng xích Nho giáo, thì lần giao thoa mới này đã giải phóng một phần sâu kín hơn rất nhiều – đó chính là bản năng.

Văn học Nghệ thuật tự do – chặng đường bị đứt quãng

Như đã nhắc đến ở trên, vào đầu thế kỷ 20 – đặc biệt là quãng thời gian 1930-1945, văn học nghệ thụât đua nhau nở rộ. Nghệ thuật trước năm 1945 là sự khẳng định cái tôi cá nhân nên chủ đề thường thấy trong các tác phẩm là tình yêu tự do vượt qua khuôn khổ cũ, những người đàn ông khao khát kiếm tìm sự phiêu lưu hoặc ra đi vì nghĩa lớn. Họ không ngại vạch ra những cái xấu xa trong xã hội, những hủ tục lạc hậu, những quan điểm cũ rích, cổ xúy cho tinh thần yêu nước và những tư tưởng mới. Thế nhưng, dù mạnh mồm đến đâu họ vẫn không bị bao vây, treo bút hay bị tù đày. Những trường hợp tù chính trị thời ấy chủ yếu là những nhà hoạt động cách mạng nhằm mục đích lật đô chính quyền phong kiến và thực dân Pháp. Với một môi trường tự do phát triển như vậy, văn học nghệ thuật những năm đầu thế kỷ 20 đã mở đâu một chặng đường mới.

Nhưng chặng đường này bị gián đoạn trong suốt những năm tháng kháng chiến chống Pháp – Mỹ. Do lo sợ các tổ chức chính trị ở bên ngoài cũng như sợ sự phân chia quyền lực ở nội địa, đảng cầm quyền hiện nay đã thít chặt các vấn đề về ngôn luận. Chắc chắn, sự kiện Nhân văn Giai phẩm sẽ mãi mãi là một sự kiện không thể chối bỏ cũng như không thể lãng quên, được biết như một vụ Văn Tự Ngục lớn nhất trong lịch sử Việt Nam. Chặng dường phát triển nghệ thuật tự do đến đây bị gián đoạn, tuy nhiên vẫn có nững mạch ngầm ẩn mình chờ thời để khi được khai thông, nó sẽ tuôn ra như  suối… Bởi vậy mà thời này vẫn có những nghệ sĩ sẵn sàng tử chiến như hiệp sĩ, có thể kể đến Trần Dần, Lê Đạt, Văn Cao, Hoàng Hưng…

Để rồi đến ngày nay, chặng đường tưởng như bị đứt đoạn lâu nay giờ đã được tiếp nối. Văn học nghệ thuật ngày nay không chỉ tự do lựa chọn đề tài, không chỉ khai thác phần bản năng sâu kín trước đây chẳng ai dám động đến, mà vẫn tiếp tục chiến đấu vì tự do và lẽ phải. Có những nghệ sĩ sống và sáng tác như nghệ sĩ, nhưng cũng có nhiều nghệ sĩ sống và sáng tác như chiến sĩ. Những tên tuổi như Dương Thu Hương, Bùi Ngọc Tấn, Bùi Chát… sẽ tiếp tục nối tiếp những Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Hưng… Và nếu những nghệ sĩ vị nghệ thuật để tâm hồn bay bổng tự do thì những nghệ sĩ – hiệp sĩ này chiến đấu dưới mặt đất để dành lấy tự do cho số đông dân chúng.

N.C.
© 2011 Tạp chí Thanh niên PHÍA TRƯỚC số 46

TCPT46 – Tự do sáng tạo nghệ thuật tại Việt Nam
Download TCPT46 – Bản in (7.6MB)
Download TCPT46 – Bản thường (4MB)
Download TCPT46 – Bản mini (2.7MB)

Đọc thêm …

Scridb filter

Author: tapchiphiatruoc

Share This Post On
468 ad

Leave a Reply

%d bloggers like this: