Propaganda: Vũ khí quân sự đặc biệt

Bờm
TCPT số 12

Hàng ngày bạn xem truyền hình, dù rất bực khi bị các chương trình quảng cáo chen ngang, nhưng không thể phủ nhận rằng ít nhiều bản thân bạn cũng bị lung lạc bởi mớ quảng cáo “hầm bà lằng” ấy! Cái đó gọi là mưa dầm thấm đất trong lĩnh vực kinh tế, còn được gọi là tiếp thị.

Riêng trong quân sự và chính trị,nó được gọi bằng thuật ngữ tuyên truyền, lôi kéo hay chiến tranh tư tưởng – propaganda. Nhưng chiến tranh tuyên truyền có từ khi nào? Thực sự được quy mô hóa và trở thành chiến thuyết cốt tử từ lúc nào?

Trong phạm vi giới hạn của bài viết cũng như tầm hiểu biết hạn hẹp của người viết, tôi xin gói gọn ở hai từ: giới thiệu.

Trước khi nói về propaganda, thiết tưởng chúng ta cũng nên biết chút ít về lai lịch xuất thân của cái tên Bộ tổng tham mưu – gọi nôm na là “nhấp môi”. Thuở xưa, khi có chiến tranh viên thống tướng thường có trách nhiệm hoạch định tất cả, từ việc lo liệu quân số, hậu cần, chiến thuật, chiến lược, rồi điểm đánh quyết định… Với núi công việc khổng lồ ấy, viên thống tướng bắt buộc phải có những phó tướng và bọn mưu sĩ phụ giúp – manh nha của bộ tổng tham mưu bây giờ. Tuy thế, sự trợ giúp ấy chưa thật sự được coi trọng, nó chỉ tương tự như kiểu lấy ý kiến quần chúng xem thử thế nào, còn phần lớn vẫn do viên thống tướng căng óc ra lo liệu. Và chính bởi sự ôm đồm quá nhiều công việc và thông tin nên đã khiến không ít danh tướng bị mụ mẫm và mất đi sự nhạy bén trong phán đoán tình hình chiến sự và thời thế, trong đó Hoàng đế Napoleon có thể là minh chứng rõ và đau đớn nhất cho thất bại kiểu này. Để cuối cùng trên đảo St. Helène cô quạnh người cay đắng thốt câu: “Cứ mỗi 10 năm nên đổi chiến lược và chiến thuật một lần, nếu muốn vẫn giữ được ưu thế” và “Từ chỗ vĩ đại đến cái lố bịch chỉ cách nhau có một bước chân”!

Nhận ra khuyết điểm cực kỳ nguy hiểm ấy, một sĩ quan của Đế chế Phổ (tên gọi trước của nước Đức bây giờ) là Moltke, học trò của nhà tư tưởng và lý luận quân sự xuất sắc Carl von Clausewitz, nhân được giao nhiệm vụ cải tổ và tổ chức quân đội, đã tổ chức một cơ quan chuyên trách tham mưu để giúp đỡ vị tướng lãnh tối cao, và gọi là Bộ tổng tham mưu. Bộ có tính chất như ban tham mưu kiểu cũ, song quyền hạn và nhiệm vụ to lớn hơn nhiều, như phụ trách lên kế hoạch vận chuyển lương thảo và quân nhu, ước lượng và tổng hợp tình hình tương quan lực lượng giữa các bên để có thể trình lên những kế sách phù hợp cho vị tổng tư lệnh lựa chọn. Về sau các quốc gia khác (phương Tây) cũng bắt chước mà thành lập Bộ tổng tham mưu như người Đức.

Giờ trở lại chuyện propaganda. Mọi cuộc chiến từ cổ chí kim muốn giành thắng lợi đều cần đến bộ phận “mõ làng” này. Các khẩu hiệu cặp đôi: “Phù… diệt…”, “Phản… phục…”, hoặc dưới một cái mồi nhử khai hóa văn minh nào đấy chính là những lá cờ thường được giương lên nhiều nhất để hợp thức hóa cho việc xuất hiện quân đội của anh ở xứ người.

Song chỉ với sự ra đời của học thuyết quân sự Xô viết thì propaganda mới thực sự trở thành vũ khí tối lợi hại, thậm chí quan hệ sống còn đến sự thành bại của chiến cuộc hay cách mạng. Năm 1832, tác phẩm nổi tiếng nhất của Clausewitz là “On War” (“Chiến tranh luận”, được viết trong khoảng 1816 – 1830) ra đời đã đem lại một cuộc đại phẫu quan niệm về chiến tranh cùng với những tư tưởng mới thêm vào cho phù hợp với thời đại. Chẳng hạn, ông cho rằng “chiến tranh phải khoác một hình thức tuyệt đối, phải toàn diện và toàn lực, phải làm căng thẳng đến mực độ cuối cùng tất cả tiềm lực của mỗi quốc gia đối thủ để tiến tới sự tiêu diệt đối phương”. Ông cũng nhấn mạnh rằng cần có cái nhìn đúng mức về khía cạnh tinh thần của người lính. Phần lớn các đạo quân châu Âu hồi thế kỷ 18 đều là các đạo quân nhà nghề, gồm nhiều lính đánh thuê, nên các tướng lãnh rất ít chú trọng đến yếu tố tinh thần hay còn gọi là sĩ khí, tất cả những gì các tướng lãnh thời ấy chú trọng chỉ là tìm cách nâng cấp vũ khí sao cho mạnh hơn, tối tân hơn, xây các thành quách sao cho vững hơn, kiên cố hơn. Ông nói: “nếu chỉ chú trọng tới những yếu tố vật chất để chuẩn bị chiến tranh, thật chẳng khác chi một người chỉ mài lưỡi gươm sắc mà đã tự cho là đủ để thắng kẻ địch thủ”. Hầu hết các trường võ bị của phương Tây đều lấy “On War” làm tài liệu giảng dạy chính, và bất cứ quân nhân nào muốn vinh thăng trong nghiệp binh đều phải nằm lòng cuốn sách này, tương tự như “Tam thập lục kế” của Tôn Tử ở phương Đông vậy.

V. Lenin, nhà lãnh đạo vĩ đại của Cách mạng xã hội chủ nghĩa và Liên bang Xô Viết, cũng không là ngoại lệ. Thậm chí, ông dường như đã rất sùng bái cuốn sách, và đã hốt trọn tất cả những gì có trong “On War” làm chiến thuyết của mình. Những tư tưởng “dặm mắm thêm muối” của chính ông ta cho phù hợp với cuộc cách mạng “tiền hậu bất kiến” mà ông dẫn dắt là không đáng kể. Chính vì thế đã khiến người kế vị ông là I. Staline trong một lần bực tức vì sức mê hoặc của cuốn sách lên tư tưởng quân sự Xô Viết (do chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Lenine!) đã phải thốt lên: “Đã đến lúc chúng ta phải chứng tỏ rằng binh pháp của chúng ta không kém gì binh pháp Đức, và chúng ta phải vứt bỏ hẳn sự suy tôn vô lối Clausewitz”.

Tuy thế, Lenin đã kịp thời góp thêm một chức danh mới vào từ điển thuật ngữ quân sự và chính trị: Ủy viên chính trị. Ông từng nói: “Trong mỗi cuộc chiến tranh, điều cần thiết là biết xác định nội dung chính trị”. Vì sao lại có chức danh ấy? Đó là bởi sau khi Cách mạng tháng 10 thành công (25/10/1917 theo lịch Julius, 7/11/1917 theo lịch Gregory của Nga), khi Lenin đã nắm được chính quyền thì trong nước lập tức xảy ra nội chiến giữa 2 chính quyền song song: chính quyền lâm thời của giai cấp tư sản và chính quyền xô viết đại diện cho giai cấp công nông và binh lính. Ròng rã 3 năm trời (1921-1924), chính quyền xô viết còn non trẻ và thiếu thốn cả tài lực lẫn nhân lực đã phải đối mặt với thực tế khắc nghiệt của chiến tranh huynh đệ tương tàn. Họ buộc phải dùng cả những đạo quân cũ của Nga hoàng đã đi theo cách mạng lẫn những lực lượng thợ thuyền hoặc dân chúng mới được vũ trang…

“Cẩn tắc vô áy náy”, Lenin thấy sự cần thiết của việc cài cắm những tay chân thân tín, hay nói đúng hơn là những phần tử cách mạng ưu tú, có xuất thân sạch trơn, để phòng sự trở cờ của các sĩ quan bạch vệ, đồng thời cũng để tiếp tục tuyên truyền và củng cố đường lối cách mạng. Với sắc lệnh ngày 6/4/1918, Lenin chính thức thiết lập chế độ Ủy viên chính trị.

Xét về mặt lý thuyết thì họ phụ thuộc vào viên sĩ quan chỉ huy khối quân sự, song thực tế thì quyền hạn của họ cao hơn viên sĩ quan ấy ngàn lần. Trong những năm nội chiến, nhiều ủy viên, như Stalin, đã lạm dụng quyền hành của mình để xử bắn ngay tại mặt trận nhiều sĩ quan cùng binh lính. Thế nên, có thể coi chức danh ủy viên là “thượng phương bảo kiếm”!

Đến năm 1925, khi nội chiến đã qua đi, chức ủy viên mới bị đánh tụt xuống, nằm dưới quyền sĩ quan chỉ huy. Nhưng cũng chỉ tới năm 1937, cùng với những động cơ chính trị và sửa soạn cho chiến tranh (Thế chiến II), một lần nữa Stalin dựng lại các hung thần ủy viên chính trị. Về sau này, từ trào Khrushev trở đi, khi 86% sĩ quan đều phải là người của đảng cộng sản, thì sự phân biệt giữa sĩ quan chỉ huy và ủy viên mới không còn được đặt ra gay gắt nữa.

Có thể nói rằng tư tưởng propaganda là ưu tiên hàng đầu của những người làm cách mạng theo đường hướng cộng sản. Mao Trạch Đông từng nói: “Vấn đề cấp thiết nhất của chúng ta không phải vấn đề quân số, cũng không phải vấn đề vũ khí, mà là vấn đề động viên chính trị”. Chính nhờ vậy họ đã tạo nên những bước ngoặt lớn trong lịch sử địa chính trị thế giới và có được quân số khủng khiếp nếu so với phe tư bản. Những người cùng khổ thường là đối tượng được nhắm đến nhiều nhất, thứ nhất bởi sự phẫn uất bị chèn ép và cái bả danh lợi về sau đã kích thích họ đi theo, thứ hai bởi khả năng nhận thức không phong phú (do hạn chế về học vấn) nên dễ dàng bị nhồi sọ một chiều! Đó là cái khéo cũng như đóng góp lớn nhất của Lenin (về sau Mao Trạch Đông kế thừa vị trí học trò xuất sắc) vào kho tàng tư tưởng quân sự. Lẽ dĩ nhiên, một lần nữa phải khẳng định rằng các nhà tư tưởng quân sự trước đó cũng có quan tâm đến điều này song ở họ thiếu hẳn sự cương quyết đến máu lạnh trong thực thi sự lôi kéo, và cả những tiểu xảo! Chúng ta hãy mượn một câu nói khác của Mao Trạch Đông làm minh chứng: “Dân và binh là gốc của thắng lợi… Căn nguyên sâu sắc nhất của lực lượng vĩ đại trong chiến tranh là ở dân chúng… Vấn đề động viên quân và dân về mặt chính trị thật là trọng yếu. Chúng ta không sợ nói đi nói lại mãi mãi về điểm này, bởi vì không có nó, thì không có thắng lợi gì hết”.

Nhưng làm sao để propaganda hiệu quả, tức làm sao để đối tượng tuyên truyền hoàn toàn bị chinh phục? Hãy tưởng tượng đối tượng như là người mắc bệnh cần điều trị. Như vậy, để có thể chữa dứt điểm căn bệnh, bên cạnh dùng thuốc đặc trị thì vận dụng tâm lý là một hướng bổ sung hữu hiệu. Nếu con bệnh chẳng may gặp ca mười phần chết chín mà chỉ chăm chăm vô kê đơn thuốc uống thì chắc chắn con bệnh không qua khỏi! Bởi bản thân tâm lý con bệnh đâu có tin vào nỗ lực giành giật lại sự sống của đội ngũ y bác sĩ và người thân, con bệnh thực chất đã “lai giáp quy hàng” thần chết từ khi biết bệnh tình của mình rồi, khiến những nỗ lực ấy chỉ như muối bỏ biển. Trường hợp giả dược (placebo) cũng mang tính chất tương tự. Tóm lại, “nội công, (làm cho tâm lý con bệnh phải vững) ngoại kích” (y học tiến bộ, y bác sĩ có lương tâm và giỏi nghiệp vụ, người nhà hết lòng) thì xác suất thành công mới cao.

Propaganda cũng vậy, cần kết hợp cách tuyên truyền và tâm lý đối tượng tuyên truyền. Ngày nay, thông tin mở rộng có thể nói là cập nhật từng giây một. Nên sẽ rất dở nếu không biết lợi dụng sự tiến bộ về mặt khoa học công nghệ cho mục đích bất kỳ! Propaganda là một chuyện, nhưng đánh thẳng vào sự chú ý bằng chính “ngôn ngữ” của đối tượng muốn hướng đến mới thực đáng lưu tâm. Propa-ganda chính yếu còn nằm ở đấy, chứ không đơn thuần chỉ “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”!

Tài liệu tham khảo chính: Từ binh pháp Tôn Ngô đến chiến lược nguyên tử (Nghiêm Xuân Hồng).

Scridb filter

Author: tapchiphiatruoc

Share This Post On
468 ad

Leave a Reply

%d bloggers like this: