Số đông học sinh Trung Quốc đang học ở Hoa Kỳ

Hương Ly chuyển ngữ, CTV Phía Trước
Tea Leaf National Staff, Foreign Policy

Đây là nơi mà các học sinh Trung Quốc đang tìm đến – từ New York đến Thung lũng Silicon hay Trung Mỹ.

Helene Foellinger Auditorium - University of Illinois at Urbana-Champaign. Ảnh: JanetandPhil/Flickr/Creative Commons license

Helene Foellinger Auditorium – University of Illinois at Urbana-Champaign. Ảnh: JanetandPhil/Flickr/Creative Commons license

Vào những năm 1970, du học sinh thường là những người đến từ Iran, lúc mà thời điểm giá dầu đang tăng vọt. Sau đó trong thập kỉ đầu tiên của thiên niên kỉ thứ hai, du học sinh hầu hết là người Ấn Độ, tốt nghiệp các chương trình về kinh doanh và khoa học. Hiện nay, Trung Quốc là nhóm học sinh quốc tế lớn nhất ở Hoa Kỳ, là nơi nương tựa của giới trung gia Trung Quốc đang nổi lên và họ luôn sẵn sàng đầu tư tiền bạc tối đa cho việc giáo dục của con em họ. Theo một báo cáo hàng năm bởi Viện Giáo dục Quốc tế (Institute of International Education–IIE), vào năm 2014-2015, có hơn 304.000 học sinh Trung Quốc ghi danh vào các trường cao đẳng và đại học, tăng gấp năm lần so với thập kỉ trước.

Điều này có nghĩa là học sinh Trung Quốc sẽ dễ dàng xuất hiện ở khuôn viên các trường tại Hoa Kỳ. Nhưng chính xác đó là những trường nào? Đó là một câu hỏi đơn giản nhưng lại khó trả lời – vì không hề có dữ liệu đầy đủ, công khai, có giá trị về những tài liệu của số học sinh quốc tế của từng trường. Theo Quyền Tự do Công tác Thông tin, trang Foreign Policy yêu cầu các thông tin từ Cục An ninh Quốc gia Hoa Kỳ (U.S Department of Homeland Security–DHS), nơi lưu trữ các thống kê thị thực F-1, thị thực học sinh được lưu hành thông dụng nhất, bao gồm các thông tin về quê quán của học sinh và trường mà họ đang tham gia học. Foreign Policy đã nhận một bản dữ liệu đầy đủ về thị thực F-1 được lưu hành vào năm 2014 cho đến cuối tháng Ba năm 2015, cho thấy những trường mà mỗi thị thực được lưu hành. (Trang Foreign Policy không nhận dữ liệu từ DHS cho đến cuối tháng Mười). Những con số đó là đại diện lớn nhất cho hầu hết học sinh Trung Quốc ở Hoa Kỳ và cung cấp cho họ một phương pháp so sánh. Trong bảng xếp hạng dưới đây, hãy tham chiếu số lượng trường học có tỉ lệ thị thực F-1 so với tổng số học sinh (của những trường chính). Theo cách nhìn đó, Viện Công nghệ Illinois được xếp đầu tiên.

Xếp hạng

(Theo số visa)

Trường
1 Đại học Illinois Urbana-Champaign
2 Đại học Nam California
3 Đại học Purdue
4 Đại học Northeastern
5 Đại học Columbia
6 Đại học Bang Michigan
7 Đại học Bang Ohio
8 Đại học California, Los Angeles
9 Đại học Indiana
10 Đại học California tại Berkley
11 Đại học New York
12 Đại học Bang Pensylvania
13 Đại học Minesota
14 Đại học Washington Seattle
15 Đại học Bang Arizona
16 Đại học Michigan Ann Arbor
17 Đại học Boston
18 Viện Công nghệ Illinois
19 Đại học Công lập Rutgers tại New Jersey
20 Đại học Texas tại Dallas
21 Đại học Wisconsin-Madison
22 Đại học California, San Diego
23 Đại học Canergie Mellon
24 Đại học Công lập New York tại Stony Brook
25 Đại học Syracuse

Thị thực F-1 không phải là một thước đo hoàn hảo. Một số học sinh quốc tế và các học giả đến Hoa Kỳ bằng các thị thực khác chứ không phải F-1; số khác có thị thực F-1 nhưng lại không ghi danh, hoặc chuyển sang một trường khác sau đó.

Những con số chưa thể bật mí được nhiều thứ. Theo dữ liệu DHS, trường có số học sinh Trung Quốc đông nhất là Đại học Illinois–Urbana Champaign. Trường Đại học này là một phần của hệ thống Đại học Illinois, đã làm việc rất vất vả để chào đón hàng nghìn học sinh Trung Quốc, giữ các phòng thực hành để giới thiệu thể thao căn bản và trong năm 2015 đã cho tiếng Trung được phát thanh trong các trận bóng. (“Chúng tôi có mối quan hệ lâu dài mà gắn bó với Trung Quốc hơn 100 năm về trước,” Reitu Mabokela, Phó Hiệu trưởng khoa Quan hệ Quốc tế và Chiến lược Toàn cầu tại Illinois đã trả lời trang Foreign Policy qua email). Các trường khác với số lượng học sinh Trung Quốc lớn cũng đang làm những việc tương tự. Đại học Purdue, xếp thứ ba trong danh sách đang định hướng các đề xuất cho học sinh trước cả khi họ rời Trung Quốc. Với hàng nghìn học sinh đang ghi danh vào đại học Indiana, đại học đang được xếp thứ chín tại thành phố Bloomington, là trường đại học chính của đại học Indiana, hiện nay đã ra mắt một tờ báo mới bằng tiếng Trung Quốc, tờ Thời báo Blooming (Blooming Times).

Hầu hết các trường đại học trong top 25 là những trường công lập lớn, với một số ngoại lệ như Đại học Columbia, Đại học Boston, và Đại học Carnegie Mellon. Điều này một phần là vì số lượng toàn bộ học sinh lớn của trường, tuy nhiên, cũng có thể là do học phí phải chăng tại trường công – học sinh Trung Quốc thường không đủ điều kiện để xin viện trợ tài chính từ liên bang [Hoa Kỳ]. Một số trường công lập thiếu hụt về tiền mặt, tích cực tuyển các học sinh quốc tế, những người tiêu biểu cho việc trả học phí cao hơn so với học sinh sống ở Hoa Kỳ.

Nhìn vào sự phân bố địa lý của học sinh Trung Quốc đang học tập tại Hoa Kỳ để thấy rằng họ có thể học ở các trường ở các bang ven bờ biển và phía đông. Bản đồ nhiệt tác động qua lại dưới đây chỉ ra địa điểm của 150 trường cao đẳng và đại học được liên kết với hầu hết thị thực F-1 của Hoa Kiều.

Trang Foreign Policy cũng đã xếp hạng tám trường trong hệ thống Ivy College (Liên đoàn Ivy)[1] theo số học sinh Trung Quốc. Trong số các trường thuộc Liên đoàn Ivy – một nhóm liên kết các trường nổi tiếng và đáng thèm muốn cũng có rất nhiều người Trung Quốc – thì Đại học Columbia có số lượng học sinh Trung Quốc lớn nhất. Bảng xếp hạng dưới đây là tỉ lệ số thị thực F-1 so với tổng số học sinh. Theo tiêu chí đó, trường Columbia vẫn đứng đầu.

Xếp hạng (theo số thị thực)

Trường
1 Đại học Columbia
2 Đại học Cornell
3 Đại học Pensylvania
4 Đại học Harvard
5 Đại học Yale
6 Đại học Brown
7 Đại học Princeton
8 Đại học Darthmouth

Các trường nghệ thuật tự do và trường của phụ nữ đặc trưng có tổng số học sinh ít, và vì thế cũng có số lượng học sinh quốc tế tương đối ít. Tuy nhiên, việc giáo dục nghệ thuật tự do đã trở nên phát triển rộng rãi ở Trung Quốc, kể cả khi các trường trong nước đang đưa vào thực tiễn một cách chậm rãi. Điều này đã làm cho các trường nghệ thuật tự do của Mỹ trở thành một sự lựa chọn phổ biến đối với các thanh niên trẻ Trung Quốc. Trang Foreign Policy cũng tạo ra một bảng xếp hạng cho Bảy Chị Em (Seven Sisters), một nhóm các trường tự do trong lịch sử về nghệ thuật tự do của phụ nữ ở phía Đông Bắc, mà hiện nay chỉ còn có sáu người, sau khi Radcliffe chính thức vào Havard năm 1999. (Vassar là một trường liên kết hiện nay). Trong số bảng xếp hạng Bảy Chị Em, thì ở dưới đây, trường Mount Hollyoke College ở Masachusettes có nhiều số học sinh Trung Quốc nhất, trong khi trường Bryn Mawr ở Pensylvania lại đứng đầu về số thị thực.

Xếp hạng (theo số thị thực) Trường
1 Cao đẳng Mount Holyoke
2 Cao đẳng Bryn Mawr
3 Cao đẳng Smith
4 Cao đẳng Wellesley
5 Cao đẳng Vassar
6 Cao đẳng Barnard

Thậm chí với sự tăng trưởng kì lạ – số lượng học sinh Trung Quốc đã tăng gần năm lần so với thập kỉ trước – thì có vẻ như đó vẫn chưa phải là đỉnh điểm. Năm học 2014-2015 đã thấy một sự tăng trưởng chậm hơn chút ít so với năm trước đó, ở 10,8% – nhưng vẫn trên 10,1% tỉ lệ tăng trưởng trung bình của tất cả học sinh quốc tế.

[1] Liên đoàn Ivy là một liên đoàn thể thao bao gồm tám cơ sở giáo dục đại học ở miền Đông Bắc Hoa Kỳ.

***

Bài viết với sự báo cáo và biên soạn của Bethany Allen-Ebrahimian, Alexa Olesen, Shujie Leng và David Wertime. Biểu đồ bởi C.K Hickey.

*Ghi chú về dữ liệu: Dữ liệu F-1: Đối với các Đại học Indiana, Đại học Bang Pensylvania và Rutgers: Dữ liệu DHS không phân biệt các trường; với trường Đại học Wisconsin – Madison: dữ liệu không bao gồm chương trình đại học của Cao đẳng Wisconsin.

Đối với trường Đại học Bang Arizona: dữ liệu không bao gồm chương trình AECP; đối với Đại học California Berkley, dữ liệu không bao gồm các trường mở rộng.

Dữ liệu số thị thực so với số học sinh ghi danh: Số thị thực F-1 được so sánh với tổng số dữ liệu đầu người 12 tháng cuối cùng năm 2013-2014 qua Hệ thống Dữ liệu Giáo dục Các trường Đại học được tổng hợp lại (Intergrated Postsecondary Education Data System –IPEDS). Dữ liệu trường Đại học Purdue chỉ dành cho trường chính; dữ liệu trường Northeastern không bao gồm Mạng lưới Toàn cầu Northeastern; dữ liệu trường đại học Columbia không bao gồm cao đẳng sư phạm; dữ liệu Đại học Bang Michigan không bao gồm Cao đẳng Luật; dữ liệu Đại học Bang Ohio chỉ dành cho trường chính; dữ liệu Đại học New York không bao gồm các trường bách khoa; dữ liệu trường Đại học Indiana chỉ dành cho trường Bloomington; dữ liệu Đại học Bang Pensylvania chỉ dành cho trường chính; dữ liệu Đại học Minnesota chỉ dành cho trường Twin Cities; Đại học Bang Arizona chỉ dành cho trường Tempe; dữ liệu trường Đại học Michigan chỉ dành cho trường Ann Arbor; dữ liệu Rutgers chỉ dành cho trường New Brunswick; dữ liệu Đại học Wisconsin – Madison không bao gồm các trường mở rộng. SUNY – Stony Brook được lên danh sách như “Đại học Stony Brook”.

© 2007-2016 Bản tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC – www.phiatruoc.info

Scridb filter

Author: tapchiphiatruoc

Share This Post On
468 ad

Leave a Reply

%d bloggers like this: