Tại sao chủ nghĩa đa văn hoá lại thất bại? (III)

Thanh Bình chuyển ngữ, CTV Phía Trước
Kenan Malik, Foreign Affairs

Thất bại của chủ nghĩa đa văn hoá trong cộng đồng và xã hội ở châu Âu

Ảnh: Limun.hr

Ảnh: Limun.hr

Xem thêm:

***

Chia tách và bất bình đẳng

Thay vì chào đón những người nhập cư một cách bình đẳng , thì giới chính trị Đức lại xử lý các vấn đề của người nhập cư Thổ Nhĩ Kỳ thông qua chính sách của chủ nghĩa đa văn hóa.

Con đường dẫn đến chủ nghĩa đa văn hóa ở Đức không giống với ở Vương quốc Anh mặc dù xuất phát điểm là như nhau. Giống như nhiều nước khác ở Tây Âu, nước Đức đối mặt với tình trạng gia tăng thiếu hụt lao động kể từ những năm sau chiến tranh thế giới thứ hai. Để giải quyết tình trạng đó thì Đức chủ động thuê lao động người nước ngoài. Khác với ở Anh, những người lao động người nước ngoài không đến từ các nước thuộc địa cũ mà đến từ các nước quanh vùng Địa trung hải: đầu tiên là Hy LẠp, Italia và Tây Ban Nha, sau đó là Thổ Nhĩ Kỳ. Họ cũng không phải đến với mục đích nhập cư, và cũng không có nhiều khả năng trở thành công dân Đức, những họ vẫn được gọi là “những người lao động nhập cư”, những người được cho là sẽ trở về quê hương họ khi nền kinh tế Đức không cần họ nữa.

Tuy nhiên, theo thời gian, những vị khách này, phần lớn trong số họ là người Thổ Nhĩ Kỳ, từ nhu cầu định cư tạm thời họ lại có nhu cầu định cư vĩnh viễn. Một phần là vì Đức tiếp tục cần sức lao động của họ và một phần vì những người nhập cư cũng muốn vậy, và quan trọng hơn là con em họ coi Đức như là nơi chôn nhau cắt rốn của họ. Tuy nhiên, nhà nước Đức tiếp tục đối xử với họ như người nước ngoài và từ chối không cấp quyền công dân

Quyền công dân Đức cho đến tận gần đây vẫn dựa trên điều kiện huyết thống, có nghĩa là một người chỉ có quyền công dân nếu bố hoặc mẹ của người đó là công dân Đức. Nguyên tắc này không chỉ cản trở thế hệ người nhập cư đầu tiên có quyền công dân mà cả những người con sinh ra trên nước Đức của họ cũng không được phép có quyền công dân. Vào năm 1999, luật Quốc tịch mới ra đời, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người nhập cư có quyền công dân. Dù vậy, thì phần lớn người Thổ vẫn không là công dân Đức. Trong số 3 triệu người gốc Thổ ở Đức ngày nay thì chỉ có 800,000 người cố gắng để có quyền công dân.

Thay vì chào đón người nhập cư một cách bình đẳng, giới chính trị gia Đức xử lý các vấn đề Thổ Nhĩ Kỳ thông qua một chính sách đa văn hóa. Bắt đầu từ những năm 1980, chính phủ khuyến khích những người nhập cư Thổ Nhĩ Kỳ bảo tồn văn hóa, ngôn ngữ và lối sống của chính họ. Chính sách này không thể hiện sự tôn trọng đối với sự đa dạng một cách phù hợp để tạo ra một nền văn hóa phổ biến và toàn diện. Và hậu quả chính của nó là sự xuất hiện của các cộng đồng tồn tại song song.

Thế hệ di cư đầu tiên hầu hết là vô thần. Một số người theo tôn giáo thì cũng không cuồng tín và thực hành nghiêm ngặt. Ngày nay, một phần ba người trưởng thành gốc Thổ ở Đức thường xuyên đến nhà thờ Hồi giáo, một tỷ lệ lớn hơn so với cộng đồng người Thổ ở các nước Tây Âu khác và thậm chí cũng lơn hơn ở nhiều vùng trong chính nước Thổ. Tương tự như vạy, thế hệ phụ nữ Thổ nhập cư đầu tiên hầu hết là không đeo khăn trùm đầu, giờ thì con gái họ nhiều người lại đeo. Không có động lực hòa nhập vào cộng đồng quốc gia, rất nhiều người Thổ không có nhu cầu học tiếng Đức.

Ở cùng thời điểm mà chính sách đa văn hóa của Đức khuyến khích người Thổ Nhĩ Kỳ bàng quan với xã hội Đức, thì nó đã khiến người Đức ngày càng kỳ thị văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ. Khái niệm phổ biến về những gì có ý nghĩa với người Đức lại được định nghĩa phần nào đối lập với các giá trị và niềm tin nhận thức của cộng đồng người nhập cư bị cô lập. Một cuộc khảo sát năm 2011 được thực hiện bởi các công ty bỏ phiếu Pháp Ifop cho thấy rằng 40 phần trăm người Đức coi sự hiện diện của các cộng đồng Hồi giáo là “một mối đe dọa” với bản sắc dân tộc của họ. Một cuộc thăm dò khác được tiến hành bởi Đại học Bielefeld của Đức vào năm 2005, cho rằng ba trong số bốn người Đức tin rằng nền văn hóa Hồi giáo không phù hợp với thế giới phương Tây. Các nhóm chống Hồi giáo, chẳng hạn như nhóm “người châu Âu yêu nước chống lại sự Hồi giáo của phương Tây”, hoặc PEGIDA, đang gia tăng, và các cuộc biểu tình chống nhập cư được tổ chức tại các thành phố trên khắp đất nước tháng một vừa qua là cuộc biểu tình lớn nhất gần đây. Nhiều chính trị gia Đức, trong đó có Thủ tướng Đức Merkel, đã đưa ra lập trường mạnh mẽ chống lại phong trào chống Hồi giáo. Nhưng những thiệt hại đã có là không thể phủ nhận.

Chính sách hỗ trợ

Cả ở Vương quốc Anh và Đức, chính phủ đều thất bại trong việc nhận ra sự phức tạp, tính đàn hồi, tính bảo thủ cực đoan của bản sắc. Bản sắc cá nhân xuất hiện từ các mối quan hệ, không chỉ đơn thuần là mối quan hệ cá nhân mà là mối quan hệ xã hội, và liên tục biến đổi

Phân nhóm theo bản sắc không phải là phân loại tự nhiên mà phát sinh ra từ tương tác xã hội. Lấy bản sắc Hồi giáo làm ví dụ. Ngày nay người ta nói nhiều về khái niệm gọi là cộng đồng Hồi giáo ở các nước châu Âu, bàn về những tư tưởng, những nhu cầu, những nguyện vọng của họ. Nhưng khái niệm này là hoàn toàn mới. Cho đến cuối năm 1980, một vài người nhập cư Hồi giáo đến châu Âu không thể nghĩ là họ thuộc về các cộng đồng như vậy, không phải có quá ít cộng đồng đề họ tham gia. Tại Pháp, Đức, và Vương quốc Anh, ví dụ, đã có các cộng đồng người nhập cư lớn và có tổ chức tốt của Thổ Nhĩ Kỳ , Bắc Phi, Nam Á trước những năm 1980

Thế hệ đầu tiên những người nhập cư Bắc Phi đến Pháp hầu hết không theo tôn giáo nào, cũng giống thế hệ đầu tiên của những người nhập cư Thổ Nhĩ Kỳ sang Đức. Ngược lại, làn sóng đầu tiên của những người nhập cư Nam Á đến ở Vương quốc Anh sau Thế chiến II thì nhiều người có tôn giáo hơn, dù rằng bản thân họ nghĩ mình không phải là những người dòng Hồi giáo đầu tiên mà chỉ thuộc dòng Pujab vs Bengali hoặc Sylhetis. Mặc dù ngoan đạo, niềm tin vào tôn giáo của họ không quá lớn. Nhiều người đàn ông uống rượu. Rất ít phụ nữ đeo khăn trùm đầu, bỏ mặc burqa hay niqab (một tấm màn che toàn bộ khuôn mặt). Hầu hết họ chỉ thỉnh thoảng tham dự các nhà thờ Hồi giáo. Trong mắt họ, Hồi giáo không phải là triết học tổng quát. Đức tin của họ thể hiện việc họ kính Chúa như thế nào chứ không phải là bản sắc phổ biến không thể xâm phạm.

Thế hệ thứ hai người nhập cư ở Briton mà có truyền thống gia đình theo đạo Hồi thậm chí còn khó nhận ra họ là những người đạo Hồi.  Với những thế hệ thứ hai mà bố mẹ là người Hindu hoặc người Sikh thì cũng có tình trạng tương tư như vậy. Trong các cộng đồng dân tộc thiểu số thì không hình thành các tổ chức tôn giáo một cách rõ ràng. Các tổ chức mà nhóm những người nhập cư lại thường là tổ chức chính trị, không tôn giáo. Ví dụ ở Anh, có tổ chức như Phong Trảo Thanh niên châu Á, là tổ chức đấu tranh chống phân biệt chủng tộc hay như tổ chức Công Đoàn Công nhân Ấn Độ tập trung vào đòi quyền cho người lao động.

Chỉ đến cuối năm 1980 các câu hỏi về sự khác biệt văn hóa mới trở nên quan trọng. Một thế hệ, trớ trêu thay, đến nay đã hợp nhất và Tây hóa hơn những thế hệ đầu tiên nhất định duy trì sự khác biệt. Những lý do cho sự thay đổi này rất phức tạp. Một phần họ bị vướng vào những thay đổi lớn hơn về mặt xã hội, chính trị và kinh tế trong nửa thế kỷ qua, chẳng hạn như sự sụp đổ của phái tả và sự nổi lên của chính trị bản sắc. Một phần họ theo đà phát triển toàn cầu. Chẳng hạn như cuộc Cách mạng Iran năm 1979 và cuộc chiến tranh Bosnia trong những năm đầu thập niên 1990, cả hai đều đóng một vai trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng ý thức cao hơn của bản sắc Hồi giáo ở châu Âu. Và một phần nữa là họ bị ảnh hưởng bới chính sách đa văn hóa châu Âu

Phân nhóm theo bản sắc không phải là phân loại tự nhiên, mà xuất phát từ tương tác xã hội. Nhưng cũng như phân loại văn hóa nhận được sự thừa nhận chính thức, nhiều bản sắc cũng dần trở nên định hình.  Trong khi phân phối nguồn tài chính và quyền lực chính trị cho các dân tộc thông qua các tổ chức, chính phủ cung cấp quyền hợp pháp cho một vài dân tộc nào nhưng với một số dân tộc khác thì không.

Chính sác đa văn hóa tìm cách xây dựng cầu nối giữa nhà nước và cộng đồng người thiểu số bằng cách kiếm tìm những người lãnh đạo hay các tổ chức cộng đồng có thể đóng vai trò trung gian. Thay vì hấp dẫn những người Hồi giáo và tộc người thiểu số khác bằng việc trao cho họ quyền công dân thì các chính trị gia lại có xu hướng cho rằng lòng trung thành thực sự của họ là hướng đến đức tin và cộng động dân tộc của họ. Và do đó, chính phủ trao trách nhiệm chính trị cho những người đứng đầu tộc người thiểu sổ.

Tuy nhiên, những người đứng đầu này hiếm khi đại diện cho các cộng đồng của họ. Điều này cũng không có gì ngạc nhiên lắm, cũng giống như việc không có một nhóm đơn lẻ hay một tập hợp những người đứng đầu có thể đại diện cho một công đồng người da trắng. Một vài người châu Âu da trắng thì theo chủ nghiã bảo thủ, nhiều người lại theo chủ nghĩa tự do, trong khi đó thì vẫn còn người theo chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa phát xít mới. Và hầu hết những người da trắng không nhìn nhận lợi ích của họ theo một cách đặc biệt mà chỉ dành cho những người người da trắng. Một người Cơ đốc da trắng có thể có nhiều điểm chung với một người Cơ đốc da đen hơn so với một người vô thần da trắng; một người theo xã hội chủ nghĩa da trắng giống một người theo xã hội chủ nghĩa xã hội Bangladesh hơn so với một người bảo thủ da trắng; và nhiều ví dụ khác tương tự. Người Hồi giáo và người Sikh và Caribbean Phi không khác nhau; điểm này thể hiện nhược điểm cơ bản của chủ nghĩa đa văn hóa.

Còn tiếp…

Scridb filter

Author: tapchiphiatruoc

Share This Post On
468 ad

Leave a Reply

%d bloggers like this: