Tết và Lễ hội Tết dân gian

Kiêm Thêm
Trích từ newvietart

Hội tết làng Xưa:

Làng Xưa thuộc xã An Lưu, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng là hội chợ nông nghiệp đặc biệt nhất của miền bắc từ trước đến nay. Hội chợ làng Xưa tổ chức vào ngày mồng 1 tháng Giêng. Tại hội chợnầy, dân chúng trong những làng lân cận có thể đến tổ chức những màn diễn xướng nông nghiệp. Chẳng hạn biểu diễn múa cày ruộng,ca hát về mùa gặt, thi đua đập lúa, hong lúa, giã gạo chày đôi, chày ba. Những làng nào bỏ dở sẽ gặp những hậu quả tai hại cho mùa màng năm tới. Lễ tịch điền, lễ múa nước, lễ cầu mưa cũng được tổ chức trong ngày hội.

Hội tết làng Trằm:

Tet Nguyen DanLàng Trằm thuộc thôn Đông Liệt, xã Nam Thái, huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An. Trong hội tết nầy có cuộc thi nấu cơm cho nhữngthiếu nữ trong toàn vùng Nghệ An. Những người thi dự phải là những đôi trai gái, kết cặp nhau. Bếp cơm được di chuyển trên những chiếc xe đẩy, vừa đi vừa nấu. Theo những nhà phong tục học, đây là tập tục dạy cho trai gái đều phải biết chăm sóc việc nhà trong mọi tình huống. Tại miền Bắc, có 12 làng tổ chức hội tết kiểu nầy.

Hội tết 3 làng Sơn Vi, Bản Nguyên, Trúc Phê:

Tại đây có đền thờ của Tản Viên Sơn Thánh, là một vị thần trong hệ thống “Tứ bất Tử”. Trong hội lễ nầy có diễn xướng vỡ tuồng “Tản Viên đánh Thục”. Hội lễ tổ chức trong 4 ngày đầu Xuân; ngày mồng 1 mở hội tại làng Sơn Vi, nơi có đền thờ chính, nơi diễn ra câu chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh theo truyền thuyết. Làng Bản Nguyên (làng Á) và làng Trúc Phê (làng Mộc) cũng cử đại biểu đến tham dự. Hội lễ nói về việc tinh luyện quân sĩ ngày trước. Hai trò thi đua giữa ba làng nầy là thi cướp cầu và thi đánh phết. Cuộc thi kéo dài trong 3 ngày liền. Đến ngày mồng 4 thì cả ba làng đều tổ chức đại lễ “Tản Viên xuất quân”. Ngay trong khi diễn xướng vỡ hát nầy thì làng Sơn Vi phụ trách về mua pháo và đốt pháo; trong khi đó thì làng Bản Nguyên phụ trách điều khiển, động viên, reohò; làng Trúc Phê thì phụ trách về cỗ bàn, tiệc tùng, xôi heo. Ba làng đều tham dự đông đủ.

Hội tết làng Giải:

Làng Giải có tên là làng Hạ Đại, thuộc xã Tiến Thành, huyện Tiên Lãng (Hải Phòng). Hội lễ làng nầy rất phong phú dưới nhiều hình thức như: cướp cầu, bắt chạch trong vại, hát quan họ, hát xoan, hát đối đáp. Trong dịp nầy, những cô con gái làng Giải được phép đi tìm những chàng trai đến tham dự hội; trong khi đó thì hàng ngàn chàng trai lại tham gia những cuộc thi tài, để ranh cho được người đẹp làng Giải nổi tiếng ở Hải Phòng. Tục lệ nầy thể hiện luyến ái quan tự do của người thôn quê từ nghìn năm trước.

Chợ tết Gia Lạc:

Hội chợ tết Gia Lạc nằm ở ngã ba đường giáp làng Nam Phổ, trên hai lối rẽ về Dương Nỗ và Ngọc Anh (Thừa Thiên – Huế); chợ cách trung tâm Huế, tính từ cầu Trường Tiền về hướng Vĩ Dạ 3km đối diệnvới bên kia sông Hương là chợ Dinh. Chợ Gia Lạc chỉ họp vào mấy ngày Tết từ ngày 29 tháng Chạp đến mùng ba tết. Chợ Gia Lạc được sáng lập do Nguyễn Phúc Bính (con thứ tư của vua Gia Long), vào triều vua Minh Mạng. Hàng hoá bán mua tại chợ Gia Lạc phục vụ cho những ngày tết. Nét độc đáo nhất của chợ Gia Lạc là đồ chơi trẻ con, được tập trung từ sáu huyện của tỉnh Thừa Thiên. Ngoài ra, còn có những hàng ăn, hàng bánh, thịt quay, những thức ăn cổ truyền trong ba ngày Tết. Chợ Gia Lạc còn có những thú chơi tết: bài chòi, bài ghế, súc sắc, bài vụ, đáo lỗ. Những mục văn nghệ quần chúng: bài vè, hò giả gạo thi, tuồng hát bộ, cải lương.

Hội thề Đốn Sơn:

Đây là hội lễ truyền thống từ thế kỷ XIV – XV. năm 1393, Hồ Quý Ly ép vua Trần Thuận Tông dời kinh đô từ Thăng Long vào thành Tây Giai (nhà Hồ), ép vua nhường ngôi cho thái tử Án mới 3 tuổi để dễ bề thao túng. Trước tình hình nầy, những quan văn võ trung thànhvới nhà Trần lập kế trả thù. Vào tháng 1 năm 1393, Hồ Quý Ly lập đàn trên núi Đốn, mục đích là bắt quan lại nhà Trần phải thái tử Án, hội là Hội thề Đốn Sơn. Trong hội thề nầy, những trung thần nhà Lê là Trần Khát Chân, Phạm Tố Thu và Phạm Ngưu Tất tìm cách giết Hồ Quý Ly nhưng thất bại. Tất cả 370 người tham gia chống Hồ đều bị giết.Kỷ niệm Hội thề Đốn Sơn (chống Hồ) từ đó lưu truyền đến nay.

Hội pháo Tết làng Đồng Kỵ:

Nói đến tết đốt pháo, thì nghĩ ngay đến hội Đồng Kỵ. làng ĐồngKỵ thuộc xã Đồng Quang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc. Hàng nămvào ngày mồng 4 tết, làng nầy mở “hội pháo” Đây là 1 trong 2 hộipháo lớn nhất của miền Bắc. Theo tục truyền vào đời Hùng Vương thứ VI tại Đồng Kỵ có tướngThiên Cương tham gia cùng thánh Gióng đánh giặc Ân, lập đượcnhiều công lao được vua Hùng phong cho là Thiên Cương Đế. Khiông qua đời, được truy phong Thượng Đẳng Thần (Thành Hoàng) làngĐồng Kỵ. Ngày hội pháo hàng năm mở vào ngày 4 Tết, cũng là ngàygiỗ tướng Thiên Cương. Theo những tài liệu thần phả thì tục lệ nầy có từ xưa khi dânchúng Đồng Kỵ đốt pháo để mừng Thiên Cương Đế thắng trận trở vềlàng. Ngài hội pháo Đồng Kỵ có những hình thức tổ chức như sau: chọnTướng hầu Thiên Cương, rước pháo, thi pháo, múa pháo.Ngoài hội pháo đầu xuân Đồng Kỵ còn có nhiều cuộc thi khác nhưthi đấu vật, đánh cờ, chơi đu, ca hát, thi bánh dầy.

Hội pháo Bình Đà:

Bình Đà thuộc xã Bình Minh, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, là nơicó nghề làm pháo nổi tiếng trong cả nước. Theo nghi lễ truyền thống, làng Bình Đà tở chức ở hai toà đình: đình Nộithờ Lạc Long Quân và đình Ngoại thờ Lý Lang Công, người có côngđánh đuổi giặc Tống và cứu dân làng khỏi nạn hạn hán. Hai nhânvật nầy được thờ làm Thành hoàng Bình Đà. Đây là nơi diễn ra cáchoạt động hội lễ hàng năm; những cuộc rước thần được nghinh tiếpbằng những tràng pháo nổ giòn giã liên tục của dân làng.Lễ hội chính làng Bình Đà gồm có: lễ mộc dục, rước kiệu từ đìnhTrong ra đình Ngoài rồi trở về, cuộc rước vía, múa bông, múa cờ,lễ thỉnh Quốc Tổ, lễ rước bánh Vía, lễ rước Hoàng Cung.

Hội lễ Bắc Lệ:

Bắc Lệ nay thuộc huyện Lục Nam, tỉnh Hà Bắc, khu vực ga bắc trêntuyến đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn; tại đây có đền Bắc Lệ nơi thờbà Chuá Thượng Ngàn, tức là vị Nữ thần núi và thờ các Cô, cácCậu, những người trẻ chết linh thiêng được Mẫu Thượng Ngàn chechở. Hàng năm, hội lễ đền Bắc Lệ được mở từ thượng tuần tháng Giêngcho đến tháng đầu hai Âm Lịch. Dân chúng trong vùng Lục Nam và cácvùng lân cận đổ về tế lễ bà Chúa Thượng Ngàn; ngoài lễ vật dângcúng lên Thần Mẫu cầu phù hộ, những con nhang, đệ tử còn tổ chứclên đồng bóng. Không khí lễ hội trang nghiêm với nhiều hình thức khác nhau.Trong dịp hội lễ nầy, khi khai hội đền Bắc Lệ có lễ rước từ đềnKẻng tới đền Chính, tương truyền đó là cô ba Bắc Lệ đến hầu MẫuThượng Ngàn.

Hội làng Đào Xá:

Làng Đào Xá nay là xã Đào Xá, huyện Tam Thanh, tỉnh Vĩnh Phú, nằmphía tây bờ sông Đà. Theo tục truyền, làng Đào Xá có từ thuở các vua Hùng, là khu vựcgiao tranh trong cuộc chiến Sơn Tinh, Thủy Tinh. Quanh năm làng Đào Xá tổ chức hơn 10 lễ hội trọng thể; những hộilễ quan trọng tại Đào Xá là: hội lễ múa trâu, lễ cầu Thánggiêng (lễ Múa voi, thổi cơm thi), lễ cầu Tháng bảy.Lễ Múa trâu: trâu trong ngày lễ làm bằng bột nếp, được dùng tronglễ múa Xuân ngưu.Lễ cầu Tháng giêng: lễ được tổ chức vào ngày 27 tháng giêng âmlịch, khi dân làng chuẩn bị để vào ngày mùa nghề nông hàng năm.Lễ cầu tướng Lý: lễ cầu ngày mùng chín tháng giêng hàng năm chínhlà ngày lễ tướng Lý Thường Kiệt chiến thắng quân nhà Tống. Ngàylễ thường tổ chức hội đua thuyền trên sông Đà để kỷ niệm chiếnthắng của danh tướng Lý Thường Kiệt.

Múa Mo:

Múa Mo còn gọi là tiệc múa Mo, cướp bông, cướp gươm và Múa bông,múa gươm. Đây là một loại lễ tục biến thể của tục “cướp NõnNường” hay tục “cầu đinh”. Mục đích chính là cầu mong cho làm ănphát đạt, sinh sôi nẩy nở, một hình thức của tín ngưỡng phồn thực.Người dân làng lấy tre vót thành 4 lớp, nhuộm 4 màu xanh, đỏ,tím, vàng, gọi là “bông”. Gươm cũng được làm bằng tre sơn son.Sau khi tế lễ Thành hoàng xong, bông và gượm được tung ra trướccông chúng dự hội, để mọi người trang cướp. Ai cướp được nhiềubông và kiếm, hy vọng năm đó làm ăn tốt và sinh sôi nẩy nở.Múa mo diễn sau đó, nam và nữ múa chung: nam thì cầm gươm kiếm,nữ thì cầm bông, vừa múa vừa hát theo điệu chầu văn.Những làng thường tổ chức múa mo ở Vĩnh Phú là: làng Bồ Sao, LýNhân, Trung Hoà, Chu Hoá, Hà Thạch, Đào Xá, La Phù, Viên Lãm, BảoYên, Đông Viên, Thượng Yên.

Cướp nõn nường:

Cướp nõn nường vừa là trò chơi, vừa là tục lệ liên quan đến nghilễ “Cầu Đinh”; thường được diễn trong một số các hội làng miềnBắc Việt. Nõn nường (hay kén) mỗi tấm làm bằng mo cau ở giữa có đường rạchtượng trưng cho âm vật) xỏ vào một cái chày ngắn bằng gỗ vuôngtước xơ một đầu (tượng trưng cho dương vật), gọi là kén “mo đai”và kén “chày kình”. Sau khi rước các bộ kén vào tế lễ Thành Hoàng, người chủ đám tếtung kén ra giữa sân đình; mọi người chen lấn nhau tranh cướp.Theo dân làng ai cướp được kén, năm đó sẽ làm ăn khá. Nhữngngười đến kỳ sanh đẻ, nếu cướp được “chày kình” hy vọng sinh contrai; cướp được “mo đai” hy vọng sinh con gái. Nghi lễ hội lễ nầy mang tín ngưỡng phồn thực.

Vật võ làng Sình:

Hàng năm cứ đến ngày 10 tháng Giêng có hội vật võ ở làng Sình. Ngoàitrai tráng trong làng tham dự, còn có hàng ngàn thanh niên nam nữở các huyện thành phố Huế về tham gia nữa. Chỉ huy nhữngcuộc tanh tài có hai người: một người trai trẻ làm trọng tài,đứng trên võ đài; một vị cao niên, khăn đóng áo dài, cầm chầungay trước hiên nhà thờ Tổ. Những thanh niên các vùng lân cận tham gia hăng say hàng năm ởnhững làng Phú Thanh (Vĩnh Lại, Quy Lai) Phú Mậu (Mậu Tài, LạiÂn) Thuận An – Hải Dương, Phú Dương (Dương Nỗ), Hương Phong(Thanh Phước, An Khốt), Quảng An, Quảng Thành… Những võ sinhtrong mội địa phương thường tổ chức thành nhóm, chia nhau vàotrận, để đem vinh dự cho làng mình. Trận đấu chia thành từngnhóm, qua những vòng tranh tài; người vô địch phải thắng tám trậmtrong từng vòng đấu. Vật võ làng Sình là một truyền thống thượng võ vùng Thuận Hoá.

Hội các chùa trong Tứ Pháp:

Tứ Pháp là những ngôi chùa Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và PhápĐiện ở vùng Dâu (gồm các chùa Dâu, Đậu, Tướng và Dàn) thuộc vùngThuận thành, tỉnh Hà Bắc. Ngoài ra Tứ Pháp cũng được thờ vùng Tây bắc tỉnh Hải Hưng như tạicác đình chùa ở An lạc, Đình Dù, Hoàng Đôi, Liên Hạ, Liễu Trung,Nguyên xá, Nhạc Lộc, Nhạc Miếu, Ôn Xá, Thái Lạc, Thanh Xá, TuấnDi, Dị Sử. Hàng năm những ngôi chùa nầy tổ chức lễ vào ngày mồng 8 tháng 1âm lịch, vào những kỳ hạn hán, dân các làng nầy còn tổ chức cầumưa (đảo vũ) và những cuộc rước trọng thể ở những làng thờ TứPháp. Chẳng hạn như cuộc rước ba bà Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi đếnchùa Un (làng Ôn xá) nơi thờ Pháp Điện.Tục truyền: không bao giờ được rước tượng của bà Pháp Điện rakhỏi chùa Un được. Theo dân trong làng, mỗi khi rước tượng PhápĐiện ra, nhiều nhà trong làng phát hoả ở những ngôi nhà theohướng mắt của bà nhìn. Ba bà trẩy hội chùa Un là nghi lễ truyềnthống khắp trong tỉnh Hà Bắc. Ngoài Lễ cầu mưa là hội lễ chínhtrong dịp nầy, còn cuộc “rước giao hiếu” giữa các làng có thờ TứPháp. Lễ tục Hú Tùng Dí: Hí tùng dí là một trò múa phong tục lễ nghi có từ đời Hùng Vương; Hộilễ nầy được tổ chức vào ngày mùng 6 tháng Giêng âm lịch hàng năm,giữa hai làng Vi (Vi Cương) và làng Trẹo (Triệu Phú) thuộc xã ChuHoá, huyện Phong Châu, tỉnh Vĩnh Phú. Trong tổ chức nầy, mỗi làng chọn ra ba chàng trai, mặc áo đỏ bêntrong, áo the phủ bên ngoài, chít khăn lượt, thắt lưng xanh đỏthắt bỏ múi cạnh bên sườn, đi chân đất. Mỗi người mạng một đòn gánh sơn son thếp vàng, đầu đòn buộc hainắm lúa non và hai nắm xôi gói trong những ngọn lá đong.Khi ra trình diễn, họ được chia ra làm hai nhóm, vừa chạy quanhsân ba vòng, vừa reo to “hú tùng dí”. “Tùng” có nghĩa là tiếng trống đánh; “dí” là động tác đưa dươngvật vào âm vật theo nghĩa tượng trưng. Mọi người chung quanh tham dự cũng hú tùng dí theo. Múa xong ba lần thì người giữa chức vụ”chúa trò” tung lúa và tung xôi ra; mọi người thi nhau cướp lấyđể lấy hên trong năm.Trò múa nầy cầu cho mùa màng được bội thu; đây cũng là một biếnthể của tín ngưỡng phồn thực, mà từng cặp múa đôi tượng trưng choâm vật và dương vật dí chạm vào nhau. Theo tục truyền thì hú tùng dí gắn liền với truyền thuyết SơnTinh, Thủy Tinh. Khi Sơn Tinh thắng trận, rước vợ về núi Tản;trên đường đi, công chúa Ngọc Hoa buồn nhớ cha mẹ; dân làng bàytrò hú tùng dí, nhắc chuyện ái ân để công chúa khuây khoả.

Hội chùa Hương:

Một trong những danh lam thắng cảnh được nhiều văn thi sĩnhắc đến nhiều nhất là chùa Hương. Vua Lê từng ca ngợi vùng chùavà hang động nầy được chúa Trịnh tôn là Nam Thiên Đệ Nhất Động.Chùa Hương thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây, cáchHà Nội khoảng 67 cây số. Đây là một quần thể của nhiều ngôi chùa,miếu thờ, hang động, nằm trong khu vực của dãy núi đá vôi; diệntích toàn vùng chừng bảy cây số vuông.Nhiều truyền thuyết khác nhau về ngôi chùa danh tiếng nầy. Theotài liệu của Tập San Viện Nghiên Cứu Đông Dương (Bulletin desEtudes Indochinoises- 1928) thì vùng núi nầy được tìm thấy cáchđây trên hai mươi thế kỷ; Hương Sơn là mượn tên núi Tuyết Sơn,nơi đức Phật ngồi tu khổ hạnh để cố tìm ra con đường giải thoát.Tuy nhiên có thuyết khác thì cho rằng: Trong khu vực núi nonvùng nầy, thường có nhiều hoa rừng thoảng hương thơm cả một vùngcho nên dân chúng đặt tên là Hương Sơn (Theo Maspéro). Tài liệuđược ghi chép trong Hương Sơn Thiên Trù Phú cho biết: Chùa Hươngđược xây dựng lên từ đời vua Lê Hy Tông (1680-1705); nhưng thờigian trước đó thì trong vùng nầy đã có am chùa Thiên Trù do vuaLê Thánh Tông (1460-1497) ra lệnh xây trong một chuyến đến du ngoạn vùng đấthùng vĩ nầy. Trên tấm bia khắc được dựng lên ở mặt trước của chùaThiên Trù lại ghi: Việc xây dựng nền đất và những bậc đá cũng như việckiến tạo nên Kim Dung Bảo Điện của chùa Thiên Phúc vào năm 1686.Riêng về pho tượng Quan Thế Âm Bồ Tát và Thập Bát La Hán trong chùaThiên Phúc thì được kiến tạo vào mùa thu năm 1767.Trên đây là một số niên hiệu liên quan đến việc thành lập quần thể củangôi chùa nầy. Phải là công trình của nhiều thế hệ mới có cảnh quanhoàn chỉnh như hiện nay. Chùa Hương là nơi trẫy hội nổi tiếng thu hútkhách thập phương, từ nhiều vùng đất xa xuôi trên tổ quốc về. Mỗinăm, thiện nam tín nữ đua nhau trẫy hội chùa từ mồng sáu tháng giêngkéo dài cho đến ngày rằm tháng ba âm lịch mới dứt.Khác với các hội lễ khác, hội chùa Hương là một hội độc đáo;phần lễ chỉ là duyên cớ; đến chùa Hương cốt là để vãn cảnh chùa.Việc dạo quanh Hương Sơn có thể theo ba tuyến trong cùng mộtchuyến đi:Tuyến thứ nhất: gọi là tuyến động Hương Tích. Theo tuyến nầy bắtđầu từ bến đò Yến Vĩ, suối Yến, đền Trình Ngũ Nhạc, cầu Hội, chùaThanh Sơn, chùa Hương Đài, chùa Thiên Trù, chùa Hinh Bồng, chùaTiên, chùa Giải Oan, đền Cửa Võng và cuối cùng là động HươngTích.Tuyến thứ hai: khách trẩy hội chùa Hương có thể trở ra con đườngcũ, nhưng nếu muốn kéo dài thêm cuộc hành trình thì có thể mentheo ngõ khác. Từ chùa Thiên Trù đi về bên phải, trên một đỉnhnúi cao tọa lạc ngôi chùa Hinh Bồng, lùi ra phía ngoài đền Trình,cùng phía với chùa Hinh Bồng là động chùa Long Vân. Theo tuyếnnầy, du khách vào xem động Người Xưa và động Tiên.Tuyến thứ ba: từ phía bến Đục về hướng suối Tuyết, đền Trình; sauđó ngược suối Tuyết đi vào, đến gặp đền Mẫu Hạ, đền Mẫu Thượng,chùa Cả, chùa Bảo Đài, chùa Am, chuà Tuyết và hang Nghĩa Quân.

Hội Vàm Láng:

Vàm Láng là vùng cửa rạch Vàm Láng, nay thuộc địa phận của xãKiểng Phước, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.Vàm Láng là làng ven biển, cho nên có tục thờ cá voi. Hàngnăm vào ngày 16 tháng giêng và tháng sáu âm lịch thường tổ chứclễ hội rước cá Ông Voi.Lễ dâng: vào khoảng giữa đêm lễ, tại chùa thờ cá ông, dânlàng dâng lễ vật lên bàn thờ; những nhà sư đến tụng kinh, sau đóđem hoá vàng, rồi chia bánh trái hoa quả cúng lễ cho trẻ em.Lễ nghênh: lễ nghênh cá Ông được cử hành vào lúc 1 giờ sáng hômsau. Cỗ mặn được đặt trên một chiếc thuyền, trang hoàng lộng lẫyđể rước cá Ông. Thuyền chở quan viên và những chấp sự từ rạch Vàm Láng, tiến về sông Soài Rập, rồi ngừng lại ở cửa sông, cách VàmLáng vài cây số. Vàng hương đều được đốt lên, trong khi đó quanviên làm lễ Nghinh Ông; lễ nầy có tấu nhạc và ca xướng. Hai bên bờ rạch, dân làng thiết bàn thờ đón tiếp.Lễ an vị: khi thuyền ghé bến, đình trầm được trịnh trọng rước vềnơi thờ phụng, để làm lễ an vị. Theo dân trong vùng, những ngày hội như vậy thường có nhiều cáÔng voi tìm về dự lễ. Từ xa, trông thấy nhiều tia nước bắn vọtlên cao. Điều nầy báo hiệu trước một năm làm ăn thịnh vượng củangư phủ trong vùng.

Hội chọi trâu Đồ Sơn:

Hội chọi trâu truyền thống tại vùng Đồ Sơn (nay thuộc thị xã ĐồSơn, thành phố Hải Phòng) có sự tham gia dân chúng trong ba làngĐồ Sơn, Đồ Hải và Ngọc Xuyên. Hội chọi trau tổ chức từ ngày mùng 9 – 15 tháng 1 âm lịch. Tuynhiên, vào ngày tết Nguyên đán cũng tổ chức chọi trâu.Theo truyền thuyết, ngày hội chọi trâu bắt nguồn từ thần ĐiểmThước. Hồi xưa, ngư dân làng nầy thường hay gặp bão tố liên tiếp,nên thường tổ chức cầu khẩn thần linh. Một lần, vào ngày rằmtháng 1, khi cầu nguyện, họ nhìn ngoài biển khơi, thấy vị thầnĐiểm Thước ngồi xem đôi trâu chọi nhau trên sóng. Sự kiện xẩy ratrong một thoáng rồi biến mất. Dân Đồ Sơn cho rằng thần linh phùhồ, lập đàn và miếu thờ cúng đúng ngày 15 tháng 8.Mở đầu là lễ tế thần Điểm Thước; sau đó tổ chức chọi trâu lấygiải. Trâu chọi được chọn lựa kỹ và huấn luyện thành thục. Phụ nữkhông bao giờ được tiếp xúc với trâu chọi.Sau khi thi đấu từng vòng ngoài, các giáp phải tổ chức rước longđình. Sau khi thi đấu xong, những con trâu trúng giải thưởng đềuđược làm thịt, chia đều cho dân làng.

Tục chen:

Tục lệ nầy được tổ chức tại làng Nga Hoàng, huyện Võ Giàng tìnhBắc Ninh. Hàng năm tục nầy được tổ chức từ ngày mồng sáu cho đếnngày rằm tháng giêng âm lịch. Làng Nga Hoàng có thờ hai vị thần: một nam, một nữ. Vị thần nam làthần Đồng Vành, vị thần nữ là nữ thần Linh Sơn Mỵ Nương.Trong những ngày lễ nầy được tổ chức ra làm sáu giai đoạn gầngiống nhau. Trong mỗi buỗi lễ, trước tiên là tế hai vị Thành hoàngnầy rất long trọng; sau đó thì tiến hành lễ rước hai vị thần từmiếu thờ đi chung quanh làng và sau cùng đưa về đình làng để hộitế. Sau khi tế lễ và ăn uống xong thì hội “chen” bắt đầu. Vị tiên chỉtrong làng là người điều hành hội chen. Những người tham dự theotừng cặp, đa số là nam nữ thanh tân; nhưng những ông già, bà cảcũng có thể tham dự buổi lễ chen nầy. Trong khi chen thì bên nambắt đầu tấn công trước, từng đôi một chen nhau ôm lấy nhau và sờsoạng nhau, bất chấp cả lễ nghi, tôn giáo. Họ có thể làm bất cứhành động gì mà không sợ phải bị vạ. Đến ngày thứ nhì thì bên nữ tấn công trước và những hành động củahọ cũng không hề e dè. Họ đưa nhau ra tận ngoài những cánh đồnghoang để chen nhau cho đến khi mệt nhừ thì cùng nhau trò chuyện,tâm tình. Vì quan niệm hội chen là hành động tôn giáo cho nên ai nấy đềutham dự. Trong buổi lễ cuối cùng thì hội chen tổ chức ngay tại sân đìnhlàng. Sau khi hoàn tất buổi lễ, thì đèn được đều được tắt hết vàcuộc chen nhau bắt đầu với những thái độ sỗ sàng, táo bạo do từhai bên, trước sự chứng kiến của cha mẹ họ khuyến khích thêm.Vì cho rằng những năm không tổ chức hội chen, dân làng nghèo đói,khốn khổ cho nên ngày trước hội chen tổ chức rất chu đáo vànhững đôi nam nữ tham dự được chuẩn bị từ trước; sau đó họ thườngđi đến hôn nhân.

Tục thờ ông Đùng bà Đà:

Tục thờ nầy được tổ chức tại làng Đông Sát, tỉnh Hưng Yên. Cả haiđều là Thành hoàng của làng nầy. Câu chuyện ông Đùng, bà Đà được kể lại như sau: hai người vốn làhai chị em ruột. Nhưng cả hai tuổi đã cao mà chưa thành gia thất.Mọi người trong làng cũng muốn giúp đỡ cho cả hai. Cuối cùng cả hai đều cùng nhau hứa rằng: cả hai theo hai chiềungược nhau đi quanh hòn núi trước làng; bất cứ gặp người nào khácgiống thì bắt buộc phải kết hôn. Dân làng đồng ý và sẽ giúp họ toại nguyện. Họ lên đường nhưng lại không gặp một người nào, để rồi sau cùng thì hai chị em gặp nhau. Vì trungthành với lời thề cho nên họ chuẩn bị lấy nhau. Dân làng đồng ýcuộc hôn nhân; nhưng bà Đà thì cho việc làm nầy là chuyện “loạnluân” cho nên bỏ đi trốn. Hai lần trốn thì cả hai đều được ôngĐùng đưa về. Chẳng may hai người gặp thú dữ tấn công và thề sống chết để giảinạn. Việc giải nạn phải nhờ đến một vị thần giả làm một phụ nữbắt ếch hiện ra đúng lúc để giúp họ.Câu chuyện chẳng may loan truyền đến kinh đô và nhà vua xuốngchiếu bắt cả hai để hành hình. Cả hai đều bị khoét mắt rồi bị sáthại. Hai người chết nhưng hồn rất linh thiêng, thường hiện ra báo mộngcho dân làng; mọi người đều đồng ý lập đền thờ; từ đó dân chúngđến lễ bái và cầu gì được đó nên được tôn làm hai vị Thành hoàng.hằng năm từ ngày 6 tháng 3 cho đến ngày 10 tháng 3 là lễ tế ôngĐùng, bà Đà. Dân chúng làm hai hình nộm để rước quanh làng; chođến đình làng, thì họ đưa hai hình nộm ra ôm chầm lấy nhau. Tìmcảm được bộc lộ công khai, khác với lệnh của nhà vua ngày trước.

Tục rước sinh thực khí:

Làng Đông Kỵ, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh có nhiều tục lệ lạ đờitrong đó, tục rước sinh thực khí được xem là quan trọng nhất.Làng nầy cũng thờ hai vị Thành hoàng, một nam, một nữ. Trong ngàychánh lễ, thoạt tiên là tế hai vị Thành hoàng (hai dâm thần) sauđó là lễ rước long trọng. Người dẫn đầu trong buổi rước là vịtiên chỉ, á chỉ hay bô lão lớn tuổi nhất và được trọng vọng nhấttrong làng. Vị nầy cầm trên tay hai hình sinh thực khí, một củanam và một của nữ, được cách điệu hoá. Dân chúng đi theo sau, vừađó vừa hát. Tiếng trống đại hướng dẫn; mỗi khi có tiếng trốnggióng lên thì vị dẫn đầu là xỏ hai sinh thực khí với nhau, hìnhảnh của sự giao hợp. Sau khi lễ xong thì việc đốt hai sinh thực khí bắt đầu. dân tronglàng chia nhau những tro của sinh thực khí, nhất là những giađình hiếm muộn con cái. Tro nầy cũng mang ý nghĩa phồn thực mùa màng. Nông dân lấy trorắt trên thuở ruộng của mình và hy vọng năm tới mùa màng sẽ kếtquả tốt đẹp. Tục thờ và rước sinh thực khí còn được tổ chức tại nhiều làngkhác miền Bắc. Chẳng hạn như tại hai làng Khúc Lạc và Dị Nậutrong địa phận của tỉnh Phú Thọ. Mỗi năm, trong lễ tế, họ rướcđến 36 hình biểu trưng sinh thực khí, 18 hình sinh thực khí đànông và 18 hình sinh thực khí đàn bà. 36 sinh thực khí nầy được gọi tên là “nõn nường” (dochữ “nọ nàng” đọc trại ra. Những sinh thực khí đó sau khi rướcxong cũng được đốt thành tro, chia cho dân trong làng.Nhiều dân làng khác cho đây là những trò bẩn thỉu, nhưng dântrong làng thì cho là việc cần thiết nếu muốn cho trong năm đóđược phát triển mọi mặt.

Tục cướp cầu:

Tục lệ nầy được tổ chức tại làng Bạch Hạc, phủ Nghĩa Yên, tỉnhVĩnh yên. Mỗi năm tục nầy tổ chức sau tế Thành hoàng trong làngvào ngày 3 tháng giêng âm lịch, trong dịp tết Nguyên đán. Có tất cả 9 quả cầu chia ra làm hai: 1 quả cầu mẹ và 8 quả cầucon. Chỉ những viên chức lớn nhất trong làng mới được phép giữnhững quả cầu trước ngày rước cầu. Trong ngày lễ, những quả cầuđược tổ chức rước long trọng đến đình làng, để tế lễ chính thức.sau đó thì tổ chức cướp cầu. Những quả cầu từ 3 quả một, được treo lên những cây tre cao ngất. Trước khi vào lễ, viên tiên chỉđọc văn chúc. Dân trong làng theo từng đôi trai gái, chia nhau để cướp cầu. Họnắm tay nhau rồi cùng bắt cầu. Khi bắt được sẽ được thưởng và cảhai có thể đi đến chuyện hôn nhân.

Tục bắt chạch:

Tục lệ nầy được tổ chức tại làng Văn Trưng, phủ Vĩnh Tường, tỉnhVĩnh Yên. Mỗi năm, vào ngày mồng 6 tháng giêng âm lịch thì lễhội được tổ chức, sau khi cúng tế xong. Những người tham dự cuộc bắt chạch là những đôi trai gái thânthiết nhau từ trước, mượn dịp nầy để có thể phô bày những cử chỉphóng túng đến suồng sả cả hai bên. Trạch là loại lươn mình trơn láng, thân dài và khó bắt. Đã vậy,miêng chum đựng chạch lại nhỏ, khít cổ tay, nên vận động khókhăn. Cứ mỗi đôi trai gái, một tay thì thay phiên nhau khoảng vào chum;tay kia thì ôm lưng người con trai và ngược lại. Những cậu traithường nhân dịp nầy thuận tay bóp nhũ hoa những cô gái một cáchtự nhiên và không bị kháng cự lại. Trong khi đó thì dân tronglàng, thậm chí cha mẹ họ cũng cổ võ, khuyến khích chuyện tự doluyến ái nầy. Nhìn chung lại, tín ngưỡng phồn thực mang những nét chính yếu nhưsau: (a) Những đôi trai gái mượn dịp nầy để tình tự, sờ soạng vào nhaumà không bị một lễ nghi nào ràng buộc. (b) Dân chúng thường khoác lên những trò chơi ý nghĩa tín ngưỡng.Theo họ, nếu bãi bỏ những trò nầy, dân làng sẽ mang họa trong nămtới. (c) Bất chấp những chỉ trích, chê bai, dân trong làng vẫn xem đólà những yếu tố tinh thần và tín ngưỡng bắt buộc. Đây cũng là mộttrong những hình thức chống đối lại lễ nghi Nho giáo cũ.

Scridb filter

Author: tapchiphiatruoc

Share This Post On
468 ad

Leave a Reply

%d bloggers like this: