Thu về

Ngân Giang
Nguồn: thivien.net

Hoa cúc gầy trôi, non vàng xa khơi. 
Nắng hạ chóng tàn, hồ cũ muôn hương đã nhớ; 
Tin thu đưa lại, ngô đồng một lá vừa rơi. 
Rặng liễu bên đường, cái gió sang mùa heo hút; 
Dòng sông trước cửa, trận mưa đổi tiết đầy vơi. 
Sương thu lạnh áo, mây thu ngang trời. 
Chốn đài trang bối rối ruột tằm, trăng thu muôn mảnh; 
Ngoài quan ải xông pha vó ngựa, sầu thu đôi bờ. 
Ai nhớ mỹ nhân xa, đâu một phương trời? 
Ai nhớ cố nhân xa, chừng mấy ngàn khơi? 
Ngọn cờ ai phấp phới? 
Bóng thuyền ai chơi vơi? 
Một kiếp giai nhân, sầu thu mấy độ? 
Nghìn năm danh sĩ, cảm thu bao người? 
Những gặp nhau bên dải Ngân Hà, duyên thượng giới; 
Rồi biệt nhau ngang cầu Ô Thước, lại trần gian. 
Bến Tầm Dương trăng nước một con thuyền, thương tình ca nữ; 
Thềm Nguyệt điện xiêm y bao người múa, tiếc mộng quân vương. 
Sông Xích Bích, sóng Tiền Đường. 
Hoa hương mấy chuyến lạc loài, ngọn triều gieo ngọc; 
Danh sĩ hai lần cảm hứng, chén rượu pha sương. 
Lời đâu cẩm tú? Khúc đâu đoạn trường? 
Trăm năm sử sách. Nghìn thu phấn hương… Phú Âu Dương ngâm xong mấy vận, thơ Thiếu Lăng viết trọn tám chương. 
Lau lách đìu hiu, thu hứng cao dâng với khói; 
Trời mây bàng bạc, thu thanh đồng vọng trong sương. 
Gió đến ngại ngùng bên lữ quán, người về lững thững dưới tà dương. Lại nữa: 
Lợi danh vướng mắt, về thôi, vườn nở hoa vàng; 
Thơ rượu qua ngày, say đấy, hương bay lối trúc. 
Chớm quạnh hơi thu, hồ rơi tiếng móc. 
Người quốc sĩ canh gà đợi sáng, lưỡi thép mài trăng; 
Khách cung nhân vườn ngự chờ vua, hàng mi rơi ngọc. 
Gấp hải hồ, ngọn gió vừa lên! 
Vội kim chỉ, tin sương đã giục. 
Thôn cũ thanh bình, trời xa ngang dọc. 
Còn mãi kiếm cung, dám buồn tơ tóc. 

Mây thu lạnh dòng nước Cấm Khê, bừng dòng chính khí; 
Khói thu mờ đáy hồ Lãng Bạc, ngát dòng hương liên. 
Đền nghĩa chị, rời thềm khuê các; 
Trả thù chồng, thẳng đất Long Biên. 
Chém tướng giặc, đuổi quân về ải Bắc; 
Mặc áo tang, rơi lệ ngự ngai vàng. 
Rồi ba thu, cờ anh thư phấp phới đất Mê Linh cỏ cây hoan lạc; 
Để một sớm gươm danh tướng ngang trời Giao Chỉ, non nước oan khiên. 
Trùng trùng sông nước; 
U uất thuyền quyên. 
Đã mấy thu rồi, trăng ngời tiết liệt; 
Còn bao nữa, sóng toả linh thiêng! 

Trời Chiêm quốc bay hoa một cánh, hương gió còn vương; 
Thôn Trữ La giũ lụa đôi chiều, ngựa xuôi ước. 

Thế mà: 
Mắt phượng mày ngài, giang sơn tổ quốc. 
Cầu chiết liễu bâng khuâng bóng Việt, khu đình lận đận trời Ngô. 
Kiệu ngọc đã xa, quan ải sầu lên tiếng điệu lòng còn vướng, sông hồ tình gửi hơi thu. 
Mờ kinh cũ, lòng già khắc khoải; 
Thẳm xứ xa, phận trẻ bơ vơ. 

Trận gió vấn danh, mấy dặm Ô Ly sính lễ; 
Con thuyền khứ quốc, một trời Nam Việt tiễn đưa. 

Nhìn nhau thổn thức, xa nhau ngẩn ngơ. 

Cánh chim thăm thẳm, bóng thuyền mịt mờ. 
Người đi: tiếng chuông thu mộ; 
Kẻ về: trận gió thu sơ… 

Đang mùa lá rụng, gây trầm lên, nhớ lại chuyện xưa; 
Giữa lúc mưa bay, đặt bút xuống thương người ngày trước. 
Khói trầm mỏng manh, nét thơ lả lướt. 
Nơi thư viện đâu chiều hoa gấm, trăng sáng đôi lòng; 
Chốn đài gương bạn với cổ nhân, sầu chung một cuộc. 
Gửi vào thơ mấy điệu tâm tư, phổ vào gió chút tình non nước. 
Thu năm trước vòng ngọc tay ngà khít hẳn; 
Thu năm nay áo thêu vóc liễu chùng hơn. 
Trăng soi bóng lẻ, bút giãi lòng đơn. 
Ngẫm chiều thân thế, tưởng đến nguồn cơn… 
Nghìn xưa ai có như ta, gió thu thấy lạnh? 
Nghìn sau những ai đó nhỉ, trăng thu có buồn?…

Hướng Dương thu Giáp Thân 
1944 

Đọc tiểu sử của nữ sĩ Ngân Giang tại đây.

Scridb filter

Author: tapchiphiatruoc

Share This Post On
468 ad

Leave a Reply

%d bloggers like this: