Tiến trình chuyển đổi về nhận thức Thực tại trong Nghệ thuật

GS Đỗ Lai Thúy
Trích  “Thơ như là mỹ học của ‘cái Khác’”

“Ta chỉ là một vị Phật, ta chỉ là nhận biết, và không là cái gì khác nữa. Ta không thuộc vào bất kỳ phân loại nào. Mọi phân loại đều là sự đồng nhất và ta không có bất kỳ sự đồng nhất nào” (Osho – Bàn về cái Khác)

Trên thế giới, chủ yếu ở phương Tây thế kỷ 20 đã tạo ra những đảo lộn lớn về nhận thức thực tại. Trước hết trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, đặc biệt là vật lý học. Bức tranh hoàn vũ do cơ học cổ điển Newton (1642-1727) dựng lên, coi thực tại là thế giới vật lý, tồn tại một cách khách quan, độc lập với ý thức con người. Ý thức người, do vậy chỉ là sản phẩm của cái thế giới khách quan đó nên có khả năng phản ánh nó, và phản ánh một cách trung thực. Thế giới vật lý được xây dựng từ những “viên gạch” là các nguyên tử rắn đặc và không thể phân chia. Nhưng đến đầu thế kỷ, với sự ra đời của thuyết tương đối của Einstein (1879 -1955) và cơ học lượng tử của Bohr (1855-1962) và Heisenberg (1901-1976), thì bức tranh thế giới Newton sụp đổ, hay đúng hơn mất tính tất yếu và phổ quát, trở nên tương đối chỉ còn là cái đúng trường hợp.

Thời gian và không gian trước đây, chẳng hặn, được coi là sân khấu cho vật chất tồn tại và trình diễn, thì nay chỉ còn là những thuộc tính của vật chất, phụ thuộc lẫn nhau và phụ thuộc vào người quan sát. Còn nguyên tử thì không phải là một hạt rắn đặc, mà là một “vũ trụ” rỗng không, trong  đó những “hạt” hạ nguyên tử nhỏ xíu tương tác lẫn nhau và chỉ xuất hiện, tồn tại và biến mất trong phần triệu giây. Như vậy, thế giới từ vật thể đã chuyển thành quy trình, thành sự rung động hoặc những vật động toàn thể (holomouvement). Hơn nữa, người ta cũng không thể cùng lúc xác định được vị trí và tốc độ của chúng, mà tùy vào sự đo đạc để biết được chỉ một trong hai tham số đó. Như vậy, thế giới không còn tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người, mà chỉ tồn tại vì và cho con người, theo nguyên lý vị nhân. Thế giới lúc này là một tập hợp những khả năng hay những thế giới song song ở không gian đa chiều và chỉ khi có sự tương tác với ý thức người thì một trong những khả năng, hoặc thế giới, mới biến thành hiện thực, tức trình hiện trong không gian ba chiều của chúng ta. Tuy nhiên, những tương tác như vậy, cả ở ý thức lẫn trong thế giới hạ nguyên tử, là hoàn toàn ngẫu nhiên, nên thực tại trở nên bất định, hỗn độn, không còn dễ nắm bắt được bản chất của chúng, hay đúng hơn “những” bản chất của chúng. Hoặc đơn giản chỉ vì chúng không có bản chất cố định bất biến. Sự khủng hoảng thực tại này kéo theo một khủng hoảng khác là sự biểu đạt thực tại mà triết học và nghệ thuật đều đã trải qua và đang cùng nhau tìm cách giải quyết.

Trước hết về Triết học: Sự phát triển của khoa học tự nhiên càng mạnh mẽ bao nhiêu, thì triết học, đặc biệt là triế học cổ điển Đức, một đỉnh cao của nó càng nhanh chóng xuống giá bấy nhiêu. Bởi thế, triết học phương Tây sau Hegel (1770 – 1831) dần dần nghiêng về nhận thức luận. Các triết gia kêu gọi nhau quay về với Kant (1724 – 1804), nhưng chỉ là một Kant với tầm vóc của nhà tri thức luận. Nhưng vì ánh sáng của khoa học tự nhiên đã soi rọi khắp mọi chỗ rồi, nên các nhà Kant – mới này chỉ còn tìm thấy chỗ tối ở chính nơi khoa học tự nhiên đổ bóng xuống, tức chân đứng của chính khoa học tự nhiên. Triết học này, vì mải lý giải các cơ sở của khoa học, đã trở thành một thứ khoa học luận. Một khi triết học trở thành công cụ và lãng quên hữu thể thì tư duy triết học cũng dần dần bị công cụ hóa.

Hiện tượng học, chủ yếu là hiện tượng học Heidegger ( 1889 – 1976), ra đời là để đưa triết học trở về với truyền thống hữu thể học của nó. Nhưng không phải là hữu thể học cổ điển, xuất phát từ Platon, đi tìm một nguyên lý siêu việt hoặc một vũ trụ hài hòa, toàn hảo hoặc sau này một  hữu thể tối cao như Thiên Chúa của Kito giáo, nhằm thống nhất toàn bộ tồn tại. Triết học trước Heidegger vì thế hướng ra thế giới bên ngoài, ngoại vật để tìm nguyên lý phổ quát. Nó đánh đồng hữu thể với vật thể, thậm chí với đồ vật, là cái mà tri giác có thể cảm nhận được và lý trí có thể lĩnh hội được. Con người, vì vậy đã chọn cho mình vị thế đứng ngoài sự vật và nhận thức sự vật qua các mô hình tư duy được thiết định trước và áp vào từ bên ngoài. Như thế, con người, xét cho cùng, cũng chỉ là một thứ đồ vật như các đồ vật khác. Và tất cả chỉ là phó bản, một thứ “cái quay búng sẵn” của một nguyên lý tối cao nào đó.

Hữu thể học hiện đại gắn liền với hiện tượng học Heiddeger là một cuộc cách mạng hệ hình tư duy. Nó khước từ cách nhìn thế giới như một đối – tượng – ngoài  – con – người, để đến với quan niệm thế- giới – trong – con – người, tức là trong chủ thế. Husserl (1859 -1983), người khai sinh hiện tượng học, tuyên bố thé giới chỉ là thế giới khi có một ý thức hướng về nó, còn ý thức chỉ là ý thức khi có một thế giới để nó hướng tới. Hệ hình tư duy này có những mạch nguồn xa xôi từ các triết gia Hy Lạp tiền Socrate, nhưng chỉ đến Schopenhauer (1788-1860), nhất là Nietzsches (1844-1900) thì nó mới có các bậc tiên khu. Với tuyên ngôn “Thượng đế đã chết”, Nietzsche đập tan các thần tượng, để con người tìm lại được gương mặt của chính mình. Một gương mặt không mang tính tự trị mà luôn gắn liền với tồn tại. Bởi, đứng trước thế giới, nó chối bỏ mọi kinh nghiệm về thế giới. Kinh nghiệm, hoặc là cái đến sau, tức hậu nghiệm, hoặc là cái đến trước, tức tiên nghiệm, đều đứng ngoài thế giới cả. Dùng kinh nghiệm như một dữ liệu cần thiết để hiểu thế giới, như vậy là áp đặt, là bóp méo sự vật. hiện tượng học rút mình ra khỏi kinh nghiệm luận để tìm về bản chất thế giới: tìm thế giới như là cùng với “thế giới sinh thành thế giới” (Heidegger). Nghĩa là quay về với chính bản thân sự vật như là khi sự vật mới sinh thành, còn chưa “bị nhìn” (Sartre), hoặc chưa bị một “cắt nghĩa” nào về chính bản thân nó. Huserl đề ra, một mặt phương pháp giảm trừ hiện tượng học để gạt đi tất cả ngộ nhận, định kiến lẫn kinh nghiệm áp đặt vào sự vật, nhằm khám phá ra bản chất chân thực của nó, và mặt khác, phương pháp mô tả hiện tượng học, tức mô tả trực tiếp sự nghiệm nhận của ta khi gặp gỡ sự vật vào đúng lúc sự vật “tự phơi mở” cái bản chất của nó cho ta.

Hiện tượng học Heiddegger là hiện tượng học về hữu thể, tức hữu thể học hiện đại. Hữu thể, trong quan niệm này, không tồn tại ở thế giới bên ngoài lẫn tâm trí bên trong. Nó chấp chới ở miền song trùng hay giao thoa của hai cõi đó, tức ở ngôn ngữ. Bởi, hữu thể chỉ thực sự tồn tại trong cái nói về hữu thể. Từ đó, Heiddegger mới đưa ra định đề nổi tiếng “ngôn ngữ là ngôi nhà của hữu thể”. Thực tại, vì thế không hiện lên như chính nó, mà qua và bằng ngôn ngữ. Nhưng không phải thứ ngôn ngữ là công cụ của con người như những quan niệm trước đó, mà ngược lại là thứ ngôn ngữ có con người làm công cụ. Bởi con người khi sinh ra thì đã chỉ là kẻ tham dự vào một ngôn ngữ không do mình tạo ra. Do đó, con người chỉ còn cách là phải thích ứng với cái di sản ấy. Vì thế, mà Heiddeger nói “Tiếng nói nói, chứ không phải con người nói” hoặc “con người chỉ nói khi tương thích với ngôn ngữ”. Heiddeger như vậy, đã làm một cách mạng triết học ngôn ngữ, mở đường cho triết học hiện đại, nhất là hậu hiện đại, lấy ngôn ngữ làm bản thể luận. Và chính ở chỗ này triết học và lý thuyết văn học giao hội, nhà triết học và nhà phê bình văn học gặp nhau, vì cùng lấy diễn ngôn làm đối tượng nghiên cứu. Hiện tượng học Heiddeger, vì thế, khi được các học trò của ông tiếp thu và phát triển đã trở thành hiện tượng học thông diễn, chuyển trọng tâm từ văn bản sang sự diễn giải văn bản. Đến đây thì ngôn ngữ vừa là sự biểu đạt thực tại vừa chính là thực tại.

Qúa trình khủng hoảng thực tại và sự tìm kiếm các phương thức biểu đạt thực tại mới diễn ra ở vật lý học và triết học như thế nào thì cũng y như vậy ở nghệ thuật. Vừa như một hiện tượng tương tác nhân quả vừa như một hiện tượng đồng thời. Có điều ở nghệ thuật, nhất là hội họa, thì quá trình này tỏ lộ hơn. Bởi lẽ, xưa nay người ta vẫn cho rằng nghệ thuật ra đời, trước hết, là để phản ánh cái thực tại khách quan đó. Hơn nưa, các phương tiện biểu đạt của nghệ thuật lại rất cụ thể, trực quan. Vì thế, trước khi đến với văn chương, cụ thể là thơ, như một nghệ thuật ngôn từ, có thể đến với hội họa để cảm nhận rõ hơn quá trình này. Bởi lẽ, ngôn ngữ hội họa vốn mang tính trực cảm, lại không có nghĩa tự thân, nên dễ đổi mới, và đổi mới trước ngôn ngữ thơ. Vì thế, không phải ngẫu nhiên, mỗi khi ngôn ngữ thơ bị xơ cứng, trì độn thì nhà thơ thường phải cầu viện đến ngôn ngữ hội họa (đôi khi cả âm nhạc nữa) để làm mới ngôn ngữ của mình.

Hội họa, kể từ thời Phục hưng với Leonard de Vinci, với luật viễn cận và thuật tô bóng, ngày càng đi vào con đường mô phỏng hiện thực, để đến thế kỷ 19 thì trở thành chủ nghĩa hiện thực, rồi thành hội họa hàn lâm với những khuôn vàng thước ngọc. Sự sụp đổ của thế giới vật lý cổ điển làm ra đời chủ nghĩa ấn tượng, khởi đầu cho việc hội họa đi tìm phương thức biểu đạt mới. Sự vật, hóa ra phục thuộc rất nhiều vào ánh sáng và sự chuyển động. Người họa sĩ bởi thế không thể vẽ được sự vật như nó- là như trước đấy, à chỉ có thể vẽ được cái ấn tượng nó để lại. Đến thời hậu ấn tượng P.Cézanne (1839-1960) không còn chỉ quan tâm đến việc dựng lại một thực tại vỡ vụn, phân mảnh, mang tính chủ quan mà bắt đầu kiếm tìm nền tảng, kiểu như “trường thống nhất” trong vật lý học, để làm chỗ dựa cho việc nhận thức thực tại mới. Và ông đã tìm thấy cơ sở của sự thống nhất này ở khối hình học cơ bản, như những viên gạch tái thiết thế giới. Đây chính là “khoa học” của chủ nghĩa lập thể được Picasso (1881-1973) phát triển và xây dựng với bức tranh tiêu biểu “cô gái với cây đàn mandolin”(1910). Hình ảnh con người bị đơn giản hóa thành những hình khối và mặt phẳng, tương tác với không gian quanh nó. Các chuyển động như đan cài vào nhau tạo ra nhiều điểm nhìn cùng một lúc (trên/dưới, phải/trái, trước/sau, bên trong/bên ngoài) và qua đó thấy được con người toàn bộ.

Sự sụp đổ của thế giới biểu kiến, khiến người ta thấy thế giới đó là giả tạm, thường biến. Điều này thôi thức các họa sĩ đi tìm một thế giới bên trong, bất biến, bản chất. Đó có thể là vô thức do phân tâm học Freud (1856-1939) cung cấp. Từ đây mà chủ nghĩa siêu thực ra đời. Vô thức và những gì mà vô thức biểu hiện, như giấc mơ chẳng hạn còn thực hơn cả những cái thực do giác quan mang lại. Tranh siêu thực của S.Dali (1904-1989) và M.Chagall (1887-1985) ó những chiếc đồng hồ mềm nhũn, tan chảy, những người đàn bà bay trên nóc nhà, trên thành phố, hoặc đứng chổng chân lên trời. Hội họa siêu thực trình bày thế giới như thấy trong mơ và được người họa sĩ vẽ lại trong trạng thái vô thức, nhập đồng. Có như vậy mới diễn tả được thế giới thực của vô thức, một cái thực của thực: siêu thực. Chủ nghĩa Dada với tư cách là hậu thân của chủ nghĩa siêu thực, có tầm ảnh hưởng rộng khắp và lâu dài, đã khai sinh ra nguyên lý tự động (automatisme), vứt bỏ mọi quy tác truyền thống của nghệ thuật để thay thế bằng sự ngẫu nhiên, chờ tiếp cận trực tiếp cái vô thức để khơi nguồn sáng tạo.

Hội họa trừu tượng không còn tin vào hình thể đã đành, nó còn không tin cả vào những cái tổng thể nằm ở đằng sau, đằng sâu, đằng xa những hình thể ấy. Hội họa trừu tượng bởi thế, chỉ tin vào vô thể, tức cái siêu tuyệt, vì cái không là bản nguyên cuối cùng của mọi hình thể. Thứ hội họa phi hình thể này trao cho người xem quyền mặc sức hình dung về nó theo trí tưởng tượng của mình. Nó hấp dẫn người xem ở chỗ khơi dậy bản nguyên vô thể ở chính anh ta để gặp gỡ với vô thể của bức tranh. Sau Thế chiến hai, chủ nghĩa trừu tượng lại được phục hưng trở lại ở Hoa Kỳ nhưng lần này nó kết hợp với chủ nghĩa biểu hiện để thành hội họa trừu tượng – biểu hiện tạo ra một cái nhìn thế giới sâu sắc hơn.

Việc tìm kiếm sự biểu đạt cái bất khả biểu đạt còn được tiếp tục với nhóm De Stijl ở Hà Lan, trường phái Bauhaus ở Weimar, chủ nghĩa Vị lai Ý, chủ nghĩa Cấu tạo Nga. Tất cả các xu hướng này đều biểu lộ một niềm tin tưởng lạc quan vào vai trò của cái trừu tượng trong cuộc sống con người, một sự chú trọng vào những bề mặt phẳng không có trang trí của máy móc. Họ muốn tạo nên một phong cách quốc tế cho mỹ thuật của họ, để nó ra đời ở bất cứ đâu, vượt lên mọi nền văn hóa dân tộc, mọi sự khác biệt quốc gia. Có lẽ, cuộc phiêu lưu này tạm ngừng lại với chủ nghĩa tối thiểu (minimalisme), loại trừ mọi yếu tố thẩm mỹ, thu hẹp dần khoảng cách giữa nghệ thuật và phi nghệ thuật. Tuy nhiên, chủ nghĩa tối thiểu chưa phải là nghệ thuật hậu hiện đại, vì bản thân nó còn mang tính thử nghiệm.

Vào những thập niên cuối của thế kỷ 20, hội họa ý niệm ra đời. Đây là một thứ nghệ thuật không còn nghệ thuật, bởi nó ra đời chỉ để thể hiện một ý niệm trừu tượng: một sự biểu đạt phi biểu đạt. hội họa ý niệm, vì thế, không quan tâm đến kết quả, mà chỉ chú trọng đến quá trình đi đến kế quả ấy. Bởi, chính quá trình thực hiện ý niệm mới thể hiện được ý niệm. Đây chính là tư tưởng nghệ thuật cơ bản của mỹ thuật hậu hiện đại nói riêng và mỹ học hậu hiện đại nói chung. Đến đây, một vài hình thức hội hoa phi giá vẽ vốn có nguồn gốc từ nghệ thuật hiện đại chủ nghĩa như nghệ thuật sắp đặt, đồ vật có sẵn, nghệ thuật trình diễn, cùng với nghệ thuật thực địa (land-art), nghệ thuật video-art, nghệ thuật đa phương tiện trở thành trào lưu lớn của mỹ thuật hậu hiện đại, được gọi với cái tên “nghệ thuật đương đại”

Như vậy, khoa học, triết học, nghệ thuật và thơ như sự diễn giải sau này, càng ngày càng xích lại gần nhau, bởi phải dùng quan sát, thử nghiệm và tưởng tượng để phản ánh thế giới ở giai đoạn trước và kiến tạo thế giới ở giai đoạn hiện nay. Hơn nữa, từ nửa sau thế kỷ 20 vật lý thiên văn và vật lý hạ nguyên tử trở thành triết học vì cùng giải quyết những vấn đề bản thể luận. Còn nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật ngôn từ, có chung bản thể ngôn ngữ với triết học, vì cả hai cùng nghiên cứu diễn ngôn. Vậy là, khoa học, triết học và nghệ thuật thông thường thì tách biệt nhau, nhưng khi thực tại khủng hoảng, thì có ý thức hoặc không mới tìm đến nhau để chung lưng giải quyết vấn đề.

Bởi thế, như Đức Phật nói, cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không, cái này thay đổi thì cái kia cũng thay đổi, không phải theo luật nhân quả, mà tùy duyên. Chính duyên làm cho những sự vật quen thuộc, mòn vẹt, giới hạn trở thành cái mới, “cái Khác”, không chỉ bằng sự lắp ghép, mà chủ yếu bằng khám phá và dung hợp các chiều kích sâu trong chính bản thể của chúng. Chính duyên làm cho sự vật dù nhỏ bé, tạm thời đến đâu cũng có giá trị tự thân. Đây có lẽ là sự thay đổi sâu sắc nhất trong đời sống nhân loại: Cái Khác, từ chỗ xuất hiện như một phạm trù khoa học, một phạm trù triết học, đã trở thành một phạm trù Mỹ học.

Scridb filter

Author: tapchiphiatruoc

Share This Post On
468 ad

1 Comment

  1. Đây là một tài liệu tổng hợp đem lại nhiều thông tin rất hữu ích. Tuy nhiên, ở đoạn cuối, tôi nghĩ lôi Phật vào sự “chuyển đổi nhận thức” này là không thích hợp. Phật Giáo quan niệm tính không và vô thường vì nhìn sự vật như những tập hợp không thể tự nó hiện hữu được, mà lệ thuộc vào những thành phần cấu thành nó, những thành phần này cũng là những tập hợp, lại luôn chuyển biến, khiến không sự vật nào có được sự hiện hữu tự thân. Nói đến “chiều kích sâu trong chính bản thể của sự vật” thì có thể rơi vào một “bản thể luận” khá xa với Phật Giáo.
    Chuyển đổi nhận thức trong thời hiện đại, nếu chỉ nhìn qua Vật Lý lượng tử (tác giả coi đó như sự khởi nguồn), thì chúng ta thấy vấn đề đặt ra rất khác. Sự thật, tức các đặc tính của một sự vật, ở tầng “hạ nguyên tử”, chỉ hiện ra khi được người ta đo lường. Chính tương tác giữa chủ thể với khách thể được quan sát, cho ra hiện tượng cảm nghiệm được, đưa đến nỗi hoài nghi sự hiện hữu tự thân của cái gọi là “sự thật”, gợi ý bởi câu hỏi của Einstein : “khi anh không nhìn mặt trăng thì nó có hiện hữu hay không” ? Tức là vấn đề hoàn toàn không nằm ở “tính tập hợp” như được quan niệm trong Phật Giáo.

Leave a Reply

%d bloggers like this: