Tính dân tộc độc đáo trong bài thơ “Đò Lèn” của Nguyễn Duy

 Nguyên Khôi
CTV Phía Trước

Thơ Nguyễn Duy không đẩy đi quá xa đến bến bờ tượng trưng siêu thực như các thi sĩ Thơ mới, không tham vọng cách tân tới mức khó nắm bắt như thơ đương đại đang diễn ra. Theo tôi, Nguyễn Duy là một trong những thi sĩ hiếm hoi thể hiện một cách rất tự nhiên cảm xúc và ngôn từ thơ vừa đạt tính dân tộc vừa rất hiện đại. “Đò Lèn” là một trong những thi phẩm đáng nhắc đến nhất trong sự nghiệp sáng tác của ông.

Bài thơ được chia thành hai phần. Cảm hứng nghệ thuật xoay quanh một hình tượng trung tâm: “bà tôi”. Thế nhưng hình tượng người bà của tác giả lại không được cảm nhận theo lối mòn truyền thống với những cảm xúc “tình thương mến thương” rưng rưng đã quá chìm lấp trong dàn đồng ca của nhiều người, nào là chịu thương chịu khó, nào là chung thủy, sắt son, anh hùng, tiết liệt. Bà của Nguyễn Duy vẫn là một người phụ nữ Việt Nam hội tụ những nét phẩm chất truyền thống, song bên cạnh đó tác giả còn có những khám phá bất ngờ, mà theo tôi, càng đọc, càng suy ngẫm lại thấy “xanh mặt”, “rợn người”, nhưng chính yếu tố đó mới làm nên chất dân tộc đậm đà, siêu việt trong thơ ông:

Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng

Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
bà đi gánh chè xanh Ba Trại
Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn

Ba khổ thơ gợi lên kí ức tuổi thơ ngọt ngào của tác giả. Tuổi thơ ấy được thêu dệt bằng ba tuyến hình ảnh: Những trò chơi trẻ con (câu cá, níu váy bà đi chợ, bắt chim sẻ, ăn trộm nhãn, chơi đền, xem lễ đền); những hình ảnh gắn liền với đời sống tâm linh, tính ngưỡng linh thiêng nơi quên hương (vành tai tượng Phật, chùa Trần, đền Cây Thị, đền Sòng, mùi huệ trắng khói trầm, cô đồng); hình ảnh người bà cơ cực (mò cua bắt tép, gánh chè…). Ba tuyến hình ảnh ấy được soi rọi từ hai góc độ tâm lí: ý thức và vô thức.

Xét ở góc độ ý thức, tuổi thơ con người ta thường rất vô tư, chỉ biết đuổi bắt theo những thú vui chơi trẻ con tinh nghịch mà không suy nghĩ nhiều sự khổ nhọc của ông bà, cha mẹ. Đó là quy luật chung cho tất cả những đứa trẻ trên đời. Lời thơ của tác giả như một lời tự trách chính mình. Thế nhưng cảm xúc đó chỉ thoáng qua không nằm trong mạch cảm hứng chủ đạo của bài thơ này, bởi ai mà chẳng có bà, và khi kí ức về bà sống lại mấy ai không rưng rưng. Điều này vốn đã chìm lấp trong hàng loạt những bài thơ đồng dạng. Xét ở góc độ vô thức ta thấy, những trò vui chơi hồn nhiên thời trẻ con của tác giả gắn liền với các hình ảnh có tính tâm linh, linh thiêng trong dân gian như đền, chùa, cô đồng. Bà của tác giả hiện lên với dáng vẻ cơ cơ và bé nhỏ, mờ nhạt bên cạnh những biểu tượng ấy. Bà của ông ở khổ thơ thứ ba cũng bình dị như bao nhiêu người bà trên đời này.

Song đến ba khổ thơ sau, chính tư tưởng của tác giả làm cho hình tượng của bà được nhận thức rất kì vĩ, độc đáo:

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư thực
giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần

cái năm đói củ giong riềng luộc sượng
cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm

Bom Mĩ giội, nhà bà tôi bay mất
đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn

Tôi cho rằng hai dòng thơ này xứng đáng được xếp vào hàng hay nhất của thơ ca Việt Nam thế kỉ XX. Lời thơ sắc lạnh, đanh, tự nhiên và nhẹ như gió nhưng lại dám khái quát một sự thật “kinh hồn bạt vía” người đọc trên một đất nước có truyền thống tín ngưỡng.

Khổ thơ thứ 4 đạt đến trạng thái siêu thực với kết cấu hình tượng bộ ba: bà tôi – tôi – tiên, Phật, thánh thần. Trong kí ức của tác giả ngày xưa, bà rất đáng yêu, thân thương nhưng hình ảnh của bà nhỏ bé, “đứng” nép một góc bên cạnh những hình ảnh đền, chùa của tiên, Phật, thánh, thần. Nhưng khi lớn lên, tác giả đã có sự thay đổi nhận thức và cảm hứng về bà. Bà của tác giả sánh ngang với tiên, Phật, thánh, thần. Bà là hình ảnh sinh động của đời thực, gần gũi. Tiên, Phật, thánh, thần là hiện thân của thế giới siêu hình, là thế lực che chở cho con người, là điểm tựa tinh thần, tâm linh, nhất là khi con người ta sợ hãi, đối mặt với cái chết. Khổ thơ này tạo ra sự hòa kết giữa hai biểu tượng đời thực và siêu hình. “Cái năm đói củ giong riềng luộc sượng” là hình ảnh của hiện thực; “cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm” là hình ảnh của tâm linh, thoát tục. Hiện thực đói khác và niềm tin cứu rỗi hòa quyện vào nhau một cách trái khuấy trong một biểu tượng đầy tính tự trào: đói cùng cực mà vẫn khói hương nghi ngút khấn cầu “tiên, Phật, thánh thần”.

Và rồi thì sao?

Khi giặc Mĩ đến giội bom tất cả những thứ con người thờ phụng, trông cậy sự che chở, cứu rỗi cũng đều sụp đổ. Cái gì sẽ là điểm tựa tinh thần cho con người? “Đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền”. Rợn người hơn khi Nguyễn Duy dám động đến ngôi đền thiêng trong tâm thức người Việt bấy lâu nay: “Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết”. Chiến tranh hủy diệt, cả thánh với Phật cũng bỏ đi lánh nạn chỉ còn trơ lại con người với hiện thực khốc liệt không gì có thể cân bằng, dung hòa, làm cứu cánh. Câu thơ này cần phải được hiểu cho đúng. Nguyễn Duy không có ý báng bổ thánh thần và thô bạo đập phá đền thiêng. Hình ảnh “thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết” là cách nói ám thị cho sự khủng hoảng niềm tin của con người vào công lí, lẽ phải. Hiện thực chiến tranh hủy diệt sự sống khiến con người mất niềm tin vào mọi giá trị công bằng và phép màu trong cuộc đời. Duy chỉ có bà là một điều kì diệu có thật vẫn trụ lại giữa trần gian đau thương: “Bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”. Chỉ có bà là hiện thân của đời thực, bé nhỏ, lặng lẽ mà siêu việt phi thường vẫn không bị đan bom của kẻ thù làm cho “bay mất”, bà không trốn chạy. Bà vẫn thầm lặng đi bán trứng trong mưa bom bão đạn để có tiền nuôi con, nuôi cháu. Bỗng dưng hình ảnh của bà trở nên kì vĩ, là một phép màu giữa cuộc đời này, vượt lên trên cả tiên, Phật, thánh, thần. Bà chính là cội nguồn, là điểm tựa tinh thần vững chắc nhất.

Hình tượng người bà của Nguyễn Duy có tính khái quát, đại diện cho cội nguồn dân tộc. Bà không chỉ là bà của riêng Nguyễn Duy mà còn là hình ảnh đại diện cho vẻ đẹp chịu thương chịu khó, kiên cương của người phụ nữ Việt Nam. Trên tất cả bà là hiện thân của cội nguồn thiêng liêng, là nhịp cầu kết nối con người thời hiện đại với truyền thống ngàn đời của cha ông, thứ làm nên sức mạnh tinh thần kì diệu nhất của con người Việt Nam để vượt qua chiến tranh đau thương không phải là tiên, Phật, thánh, thần nào cả, mà là bản năng phi thường vốn đã trở thành gen di truyền ăn sâu trong vô thức tập thể từ ngàn đời truyền lại. Cái nhìn này của Nguyễn Duy làm cho bài thơ đâm đà tính dân tộc, giàu giá trị hiện sinh mà không hơi rơi vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan, ảo tưởng về mình.

© 2013 TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC – www.phiatruoc.info

 

Scridb filter

Author: tapchiphiatruoc

Share This Post On
468 ad

Trackbacks/Pingbacks

  1. Bàn thêm về nhân vật Viên quản ngục trong kiệt tác “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân | Tạp chí Thanh Niên Phía Trước - […] Tính dân tộc độc đáo trong bài thơ “Đò Lèn” của Nguyễn Duy […]
  2. Anhbasam Điểm Tin thứ Ba, 24-12-2013 | doithoaionline - […] Tính dân tộc độc đáo trong bài thơ “Đò Lèn” của Nguyễn Duy […]

Leave a Reply

%d bloggers like this: